Chuyên đề tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lời mở đầu
Như chúng ta đã thấy Việt Nam đã ra nhập tổ chức thương mại thế giới
WTO và đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức này vào ngày 11/01/
2007. Theo xu thế hội nhập toàn cầu hoá kinh tế thế giới. Hoà chung với quá
trình đổi mới và phát triển củ đất nước, với tư cách là một Doanh nghiệp đặc
biệt trong nền kinh tế thì hệ thống ngân hàng việt Nam đều đã và đang có
nhưng bước đổi mới. Đáng ngạc nhiên cả về phương thức hoạt động lẫn cơ
cấu tổ chức, để làm sao phù hợp cam kết hội nhập và thông lệ quốc tế.Hệ
thống ngân hàng Việt Nam được phân thành hai cấp đó là: Hệ thống ngân
hàng nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại, trong đó hệ thống ngân
hàng thương mại Việt Nam, Với chức năng là các trung tâm tài chính và kinh
doanh tiền tệ, đã có những bước hoàn thiện và trưởng thành một cách thần kỳ
đáp ứng được những yêu cầu bức thiết của quá trình hội nhập toàn cầu, sẵn
sàng cho một cuộc chơi chung của toàn thế giới và cùng với xu thế của các
ngân hàng thương mại thì ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thông -
Agribank là một trong những thành viên trong sân chơi đó, đóng góp đáng kể
vào sự phát triển của ngân hàng nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế đất
nước nói chung.
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn – Agribank đã đi vào
hoạt động , phát triển được 21 Năm kể từ khi ra đời cho đến nay và vào năm
2009 theo xu thế của hội nhập toàn cầu thì Agribank đang đồng loạt đẩy
nhanh tiến trình cổ phần hoá của mình.Hiện tại một trong những thành viên
đóng góp vào quá trính phát triển chung của nền kinh tế, phải kể đến chi
nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Mù Cang Chải,
tỉnh Yên Bái, được thành lập 1957 đã có những đóng góp không nhỏ vào sự
Lý A Cháng Tài chính công KV17
1
Chuyên đề tốt nghiệp
phát triển của hệ thống ngân hàng Nông nghiệp trong cả nước nói riêng và hệ
6. Kết cấu của bài luận văn.
Bài luận văn ngoài lời mở đầu kết luận danh mục tài liệu tham khảo và các
phụ lục ra thì bài luận văn còn gồm 3 chương.
Chương I Lý luận cơ bản về phát triển hoạt động kinh doanh của ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NHNo&PTNT).
Chương II: Thực trạng về phát triển hoạt động kinh doanh tại chi nhánh
NHNo & PTNT huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái.
Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh tại chi nhánh
NHNo & PTNT huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái.
7. Lời cảm ơn.
Bằng những thông tin số liệu thu thập được trong thời gian thực tập cùng
với sự hiểu biết của mình về NHNo&PTNT chi nhánh huyện Mù Cang Chải
tỉnh Yên Bái. Nên tôi trình bày bài viết này theo kết cấu ở trên mặc dù đã có
nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong sự góp ý
của ThS. Nguyễn Minh Huệ để tôi có thể hoàn thành tốt bài luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn ThS. Nghuyễn Minh Huệ cùng tập thể ban lãnh
đạo, các cán bộ nhân viên NHNo&PTNT chi nhánh huyện Mù Cang Chải tỉnh
Yên Bái đã giúp tôi hoàn thành bài viết này.
Lý A Cháng Tài chính công KV17
3
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
(NHNo & PTNT)
1.1 Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
1.1.1 Khái niệm ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn được thành lập ngày
26/3/1988, hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam. Đến nay
NHNo&PTNT Việt Nam hiện là ngân hàng thương mại hàng đầu giữ vai trò
về thuỷ sản năm 2002.
Là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam trong việc tiếp nhận và triển khai các dự
án nước ngoài, đặc biệt là các dự án của WB, ADB, AFD. Các dự án nước
ngoài đã tiếp nhận và triển khai đến cuối 2/2007 là 103 dự án với tổng số vốn
trên 3,6 tỷ USD, số vốn qua NHNo&PTNT là 2,7 tỷ USD đã giải ngân được
1,1 tỷ USD.
Ngân hàng nông nghiẹp và phát triển nông thôn được khảng định là ngân
hàng chủ đạo, chủ lực trong thị trường tài chính nông thôn, đồng thời là ngân
hàng thương mại đa năng, giữ vị trí hàng đầu trong hệ thống ngân hàng
thương mại ở Việt Nam.
Với vị thế là ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, Agribank đã nối lực
hết mình, đạt được nhiều khích lệ, đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nền kinh tế của đất nước.
1.1.2 Vai trò và chứ năng của ngân hàng nông nghiẹp và phát triển nông
thôn
1.1.2.1Chức năng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Lý A Cháng Tài chính công KV17
5
Chuyên đề tốt nghiệp
a. Trung gian tài chính.
Ngan hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ
chức trong nền kinh tế.(1) Các nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức
là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những
người cần bổ sung vốn (2) và các cá nhân và tổ chức thạng dư trong chi tiêu,
tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch
vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm.Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên
hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ
2 sang nhóm 1 nếu cả hai cùng có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực
tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với điều
mọi người đều có thể mua. Ngân hàng cung cấp một dịch vụ có giá trị trong
việc chia chứng khoán đó thành các chứng khoán nhỏ hơn (dưới dạng tiền
gửi) phục vụ cho hàng triệu người. Trong ví dụ này, hệ thống tài chính kém
hoàn hảo tạo ra vai trò cho các ngân hàng trong việc phục vụ những người tiết
kiệm.
Một đóng góp khác của ngân hàng là họ sẵn sàng chấp nhận các khoản
cho vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho
người gửi tiền. Thực tế các ngân hàng tham gia vào kinh doanh rủi ro. Ngân
hàng cũng thoả mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng.
Một lý do nữa làm cho ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả năng
thẩm định thông tin. Sự phân bổ không đồng đều thông tin và năng lực phân
tích thông tin được gọi là tình trạng ‘‘thông tin không tương xứng’’làm giảm
tính hiệu quả của thị trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân
hàng, nơi có chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các cung cụ tài chính và có
khả năng lựa chọn những cung cụ với các yếu tố rủi ro lợi nhuận hấp dẫn
nhất.
Lý A Cháng Tài chính công KV17
7
Chuyên đề tốt nghiệp
b. Tạo phương tiện thanh toán
Tiền vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán. Các
ngân hàng đã không tạo được tiền kim loại. Các ngân hàng thợ vàng tạo
phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng. Giấy
nhận nợ do ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương
tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Như vậy, ban đầu các
ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dưa trên số
lượng tiền kim loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân
hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất
trữ, nó trở thành tiền giấy.
Việc in nhiều tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồmg thời với nhu cầu có
c. trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng
hoá và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi
phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàngnhiều hình thức thanh toán như thanh
toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thể cung cấp mạng lưới thanh
toán điện tử, kết nối các quý và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các
ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng
trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán.Công nghệ thanh toán
qua ngân hàng càng đặt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng
được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường
được các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh toán
được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa
các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế
giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của
Lý A Cháng Tài chính công KV17
9
Chuyờn tt nghip
thanh toỏn qua ngõn hng, bin ngõn hng thnh trung tõm thanh toỏn quan
trng v cú hiu qu, phc v c lc cho nn kinh t ton cu.
Ngõn hng nụng nghip v phỏt trin nụng thụn, ngoi chc nng ca mt
ngõn hng thng mi cũn c xỏc nh thờm mt nhim v u t phỏt
trin i vi khu vc nụng thụn thụng qua vic m rng u t vn trung, di
hn xõy dng c s vt cht k thut cho sn xut nụng, lõm nghip, thu
hi sn gúp phn thc hin thnh cụng s nghip cụng nghip hoỏ - hin i
hoỏ nụng nghip nụng thụn.
1.1.2.2 Vai trũ ca NHNo & PTNT
Trong nền kinh tế thị trờng, vai trò của các NHNo & PTNT là vô cùng
to lớn, nó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển nhanh và hiệu quả hơn.
- NHNo & PTNT là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế thị trờng: Hiện
trung ơng, các NHNo & PTNT góp phần mở rộng hoặc thu hẹp khối lợng tiền
tệ cung ứng trong lu thông để ổn định giá trị đồng tiền. Thông qua hoạt động
tín dụng, NHNo & PTNT thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và
phân chia vốn của thị trờng, thu hút vốn nớc ngoài để tăng tốc độ tăng trởng
của nền kinh tế đồng thời trên cơ sở mở rộng sản xuất phát triển ngành nghề,
tạo công ăn việc làm cho ngời lao động, góp phần thực hiện các mục tiêu và
chính sách xã hội của Nhà nớc.
- NHNo & PTNT là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính
quốc tế:
Trong nền kinh tế thị trờng ngày nay, xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá
là tất yếu, nó ngày càng trở nên cần thiết cấp bách. Việc phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ
phận cấu thành nên sự phát triển đó. NHNo & PTNT cùng với hoạt động kinh
doanh của mình, đóng vai trò quan trọng trong sự hoà nhập kinh tế khu vực và
thế giới. Với các nghiệp vụ kinh doanh nh nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ
thanh toán quốc tế, tài trợ ngoại thơng NHNo & PTNT tạo điều kiện thúc
đẩy giảm lu thông tiền mặt, tăng thanh toán không dùng tiền mặt, đa dạng
Lý A Chỏng Ti chớnh cụng KV17
11
Chuyờn tt nghip
hoá các dịch vụ Ngân hàng cung ứng cho xã hội, đa các tập quán, luật pháp,
trình độ kinh doanh xích lại gần nhau, từ đó điều tiết tài chính trong n ớc
phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
1.2 Phỏt trin hot ng kinh doanh ca NHNo & PTNT
1.2.1 Hot ng kinh doanh ca NHNo & PTNT
1.2.1.1 Hot ng huy ng vn
Ngõn hng kinh doanh tin t di hỡnh thc huy ng, cho vay u t v
cung cp cỏc dch v khỏc. Huy ng vn hot ng to ngun vn cho ngõn
hng úng vai trũ quan trng nh hng ti cht lng hot ng ca ngõn
hng.
quỹ dự phòng tổn thất. Quỹ này được trích lập hàng năm và được tích lũy lại
nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra. Quỹ bảo toàn vốn nhằm bù đắp hao mòn
của vốn dưới tát động của lạm phát. Quỹ thặng dư là phần đánh giá lại tài sản
của ngân hàng và chênh lẹch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu khi phát hành
cổ phiếu mới, các quỹ của ngân hàng thuộc sở hữu của chủ ngân hàng. Nguồn
hình thành các quỹ này là từ thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên khả năng sử
dụng các quỹ này vào hoạt động kinh doanh tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng
quỹ.
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Các khoản vay trung và dài
hạn của ngân hàng mà có kha năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được
gọi là một bộ phận vốn sở hữu của ngân hàng (vốn bổ sung) do nguồn này có
một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có
thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
Nguồn tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng
là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng. Khio một ngân hàng bắt
đầu hoạt động nghiẹp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và
thanh toán hộ cho khách hàng. bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các
Lý A Cháng Tài chính công KV17
13
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư. Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng.
Chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi
trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày
càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và đưa ra nhiều hình thức huy động khác
nhau: Đó là. Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán).
Đây là tiền gửi doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân
hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả
của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện. Các khoản thu
bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi
thanh toán theo yêu cầu. Nhìn chung, lãi suất của khoản tiền này rất thấp
nhau. Sổ tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng dịch vụ song có
thể thế chấp để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép.
Tiền gửi của các ngân hàng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một
số mục đích khác, ngân hàng này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy
nhiên,qui mô nguồn này thường không lớn.
Nguồn đi vay và nghiệp vụ đi vay của ngân hàng: Tìên gửi là nguồn quan
trọng nhất của ngân hàng. Tuy nhiên,khi cần ngân hàng thường vay mượn
thêm. Tại nhiều nước, ngân hàng trung ương thường qui định tỷ lệ giữa nguồn
tiền huy động và vốn của chủ. Do vậy nhiều ngân hàng vào những giai đoạn
cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động
bị hạn chế. Vay ngân hàng nhà nước (ngân hàng trung ương)
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của ngân
hàng. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh
toán) ngân hàng thường vay ngân hàng nhà nước. Hình thức cho vay chủ yếu
của ngân hàng nhà nước là tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn). Các thương
phiếu đã được ngân hàng chiết khấu (hoặc tái chiết khấu) trở thành tài sản của
họ. khi cần tiền, ngân hàng mang những thương phiếu này lên tái chiết khấu
Lý A Cháng Tài chính công KV17
15
Chuyên đề tốt nghiệp
tại ngân hàng Nhà nước.Nghiệp vụ này làm thương phiếu của ngân hàng giảm
đi và dữ trữ (tiền mặt hoặc tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước) tăng lên. Ngân
hàng Nhà nước điều hành vay mượn này một cách chặt chẽ, ngân hàng phải
thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định. Thông thường ngân
hàng Nhà nước chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng (thời
gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của ngân
hàng Nhà nước trong từng thời kì. Trong điều kiện chưa có thương phiếu,
ngân hàng Nhà nước cho ngân hàng vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn
mức tín dụng nhất định.
Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lấn
1.2.1.2 Hoạt động sử dụng vốn của NHNo & PTNT
Đây là nghiệp vụ nhằm duy trì khả năng thanh khoản của Ngân hàng để
đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của khách hàng. Ngân
hàng Thương mại phải duy trì một bộ phận vốn, để gửi vào một tài khoản nào
đó như ở NHNN, tổ chức tín dụng các Ngân hàng Thương mại khác và một
lượng được cất giữ tại Ngân hàng đó, gọi là tiền dự trữ.
Đầu tư vào chứng khoán
Có thể thấy NHTM thực hiện nghiệp vụ đầu tư vào chứng khoán nhằm
mục đích tìm kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng hoá
các dịch vụ kinh doanh nhằm phân tán rủi ro. Trong việc đầu tư vào chứng
khoán, NHTM chủ yếu mua các trái phiếu kho bạc, các trái phiếu có tính
thanh khoản cao. Đây là những công cụ chính của thị trường tiền tệ tài chính.
Việc mua và dự trữ các loại trái phiếu này một mặt tạo ra thu nhập cho Ngân
hàng, mặt khác chúng là những công cụ tài chính dễ lưu động hoá, vì vậy khi
cần tiền Ngân hàng có thể bán hoặc chiết khấu ở Ngân hàng khác hoặc ở
NHNN.
Lý A Cháng Tài chính công KV17
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Tiền cho vay
Cho vay là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của Ngân hàng Thương
mại để tạo ra lợi nhuận. Chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí
tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi
phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Nhưng nói chung, lợi nhuận chủ
yếu của Ngân hàng vẫn là hoạt động cho vay hay nói rộng ra là hoạt động tín
dụng của Ngân hàng Thương mại 67% tổng tài sản của Ngân hàng ở dạng tiền
cho vay tạo ra hơn 60% thu nhập của Ngân hàng khác bởi chúng không thể
chuyển thành tiền mặt trước khi các khoản vay mãn hạn và cũng có xác suất
rủi ro vỡ nợ cao hơn.
Theo thời gian, các khoản cho vay có thể chia thành các khoản cho vay
các thể loại:
Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
đến 60 tháng.
Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở
lên.
Phân theo phương thức cho vay:
Trên cơ sở nhu cầu của khách hàng và khả năng kiểm tra, giám sát của Ngân
hàng, Ngân hàng thoả thuận với khách hàng vay và việc lựa chọn các phương
thức cho vay sau đây:
Cho vay từng lần: áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn từng lần.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: áp dụng với khách hàng vay ngắn hạn có
nhu cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định.
Cho vay theo dự án đầu tư: khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu
tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời
sống.
Lý A Cháng Tài chính công KV17
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Cho vay hợp vốn: trường hợp khách hàng có nhu cầu vay vốn lớn, thời hạn
vốn vay khá dài, Ngân hàng sẽ đứng ra làm đầu mối dàn xếp, huy động các
nguồn vốn từ nhiều định chế tài chính khác nhau trong và ngoài nước để cùng
đầu tư vào một hay nhiều dự án.
Cho vay trả góp: khách hàng vay vốn với thoả thuận sẽ hoàn trả gốc và lãi
thành nhiều kỳ trong thởi hạn cho vay.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: NHNo & PTNT cam kết đảm
bảo sẵn sang cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất
định.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng
chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức
Thư tín dụng (bản gốc)
Bộ chứng từ kèm theo.
Dich vụ chiết khấu chứng từ. Nếu khách hàng cần có tiền ngay để đầu tư vào
một dự án khác khi chưa nhận được tiền từ ngân hàng mở L/C, NHNo có thể
thực hiện chiết khất chứng từ với tỷ lệ chiết khất cao nhất và mức phí linh
hoạt thuỳ theo từng hồ sơ cụ thể.
Dịch vụ nhờ thu.
NHNo nhận thu hộ tiền hàng theo bộ chứng từ xuất khẩu hoặc thu hộ các
chứng từ tài chính như. Sec, hội chiếu…Khách hàng có thể chiết khấu chứng
từ nhờ thu theo điều kiện D/P với mức phí linh hoạt và hấp dẫn.
Thanh toán hàng nhập khẩu.
NHNo cung ứng các hình thức bảo lãnh thanh toán, chuyển tiền, nhờ thu, thư
tín dụng… Trong thanh toán hàng nhập khẩu, khách hàng có thể đề nghị
NHNo tài trợ tín dụng phù hợp với yêu cầu thanh toán.
Hồ sơ chuyển tiền.
Yêu cầu chi ngoại tệ (theo mẫu của ngân NHNo)
Lý A Cháng Tài chính công KV17
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Giấy phép nhập khẩu (đối với mặt hàng quản lí theo giấy phép)
Hợp đồng ngoại.
Bộ chứng từ kèm theo.
Thanh toán nhờ thu. NHNo nhận thu hộ đối với bộ chứng từ do ngân hàng
nước ngoài gửi theo điều kiện thanh toán nhờ thu.
Thư tín dụng.
Hồ sơ xin mở L/C
Đơn xin mở L/C (theo mẫu thống nhất của NHNo)
Giấy phép nhập khẩu (đối với mặt hàng quản lý theo giấy phép)
Hợp đồng ngoại.
Tỷ lệ ký quỹ. Thuỳ trường hợp cụ thể, mức ký quỹ mở L/C có thể từ 0% -
Thanh toán bằng hối phiếu.
Chứng từ thanh toán chuyên dung.
Thư tín dụng (L/C).
Chuyển tiển điện (TTR).
- Cho thuê tài chính.
Là việc nhận một khoản tín dụng trung, dài hạn thông qua việc thuê máy
móc, thiết bị và các động sản khác từ công ty cho thuê tài chính, qua đó khách
hàng có thể sử dụng tài sản thuê và thanh toán dần tiền thuê trong suốt thời
hạn đã được thoả thuận, lợi ích cho thuê tài chính. Thuê tài chính giúp khách
hàng kịp thời hiện đại hoá sản xuất theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ
mới kể cả trong điều kiện thiếu vốn tự có.
Giá trị tài sản thuê có thể được tài trợ 100% mà khách hàng không cần
phải có tài sản thế chấp.
Không ảnh hưởng đến mức tín dụng của khách hàng.
Thanh toán tiền linh hoạt theo sự thoả thuận của hai bêb (tháng, quý,
năm) phù hợp với chu chuyển vốn của khách hàng. Nếu khách hàng đã mua
Lý A Cháng Tài chính công KV17
23
Chuyên đề tốt nghiệp
tài sản nhưng lại thiếu vốn lưa động thì họ có thể bán tài sản đó cho Ngân
hàng và ngân hàng sẽ cho khách hàng thuê lại, như vậy khách hàng vẫn có tài
sản để sử dụng và có vốn lưu động để kinh doanh.
Hết thời hạn thuê khách hàng được mua lại tài sản với giá thấp hơn nhiều,
thậm chí chỉ là giá tượng trưng so với giá trị thực của tài sản và được quyền
sở hữu tài sản đó hoặc được ưu tiên thuê tiếp tài sản.
Khách hàng có toàn quyền quyết định trong việc lựa chọn máy móc thiết bị,
nhà cung cấp, giá cả, mẫu mã, chủng loại, phù hợp với yêu cầu của họ.
- Bảo lãnh.
Với mục tiêu quyền lợi chung của khách hàng và ngân hàng NHNo đã và
đang giới thiệu và hoàn thiện các dịch vụ đa dạng của mình. Bảo lãnh là một
đề nghị bảo lãnh vay vốn.
Đối với trường hợp bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu, khách hàng phải đảm bảo
các điều kiện theo qui định của pháp luật về quản lý và trả nợ nước ngoài.
Khách hàng là các tổ chức kinh tế nước ngoài được đầu tư, kinh doanh hoặc
được tham gia đấu thầu tại Việt Nam theo các qui định của pháp luật Việt
Nam.
- Thẻ.
Đời sống và thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao,
nhận thức của người tiêu dung về thẻ đã thay đổi, một bộ phận không nhỏ đã
xoá dần thói quen sử dụng tiền mặt, thay vào đó là sử dụng thẻ khi mua hàng
hoá dịch vụ.
Với ưu thế về thời gian thanh toán, tính an toàn, hiệu quả sử dụng và phạm vi
thanh toán. Thẻ thanh toán đã trở thành công cụ thanh toán hiện đại, văn minh
và phổi biến trong phạm vi toàn cầu. Phát triển nghiệp vụ thẻ là tất yếu khách
quan của xu thế liên kết toàn cầu, thực hiện đa dạng hoá dịch vụ và hiện đại
hoá công nghệ ngân hàng đối với các ngân hàng trong quá trình hội nhập.
Lý A Cháng Tài chính công KV17
25