GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
MỤC LỤC
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
ST
T
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 NHNN Ngân hàng Nhà nước
2 NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
3 NHTM Ngân hàng thương mại
4 NSNN Ngân sách nhà nước
5 TCTD Tổ chức tín dụng
6 TSĐB Tài sản đảm bảo
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Danh mục bảng
Danh mục hình
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước đang chuyển mình với những bước đi đúng hướng, những thành tựu
mới trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Xu hướng toàn cầu hoá trên thế
giới cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã mở ra nhiều cơ
hội mới cho mọi nhà, mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực trong đó không thể không nói
tới ngân hàng - một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở Việt Nam. Chúng ta đang bắt đầu
thực hiện các cam kết mở cửa, khiến cho các doanh nghiệp đứng trước sự cạnh tranh
ngày càng khốc liệt, cơ hội nhiều nhưng thách thức cũng không nhỏ. Điều này tạo ra
những ảnh hưởng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vì thế
ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) nói chung và hoạt
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Th.s Nguyễn Thị
Hải Yến, sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo trường Đại học Công nghiệp Hà
Nội, và sự giúp đỡ nhiệt tình các cô chú, anh chị cán bộ nhân viên Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Mỹ Lộc đã giúp đỡ, chỉ bảo và tạo
điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành chuyên đề này.
Do còn hạn chế về thời gian ngiên cứu, tài liệu thu thập cũng như trình độ hiểu
biết, chuyên đề sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong các thầy cô quan tâm,
đóng góp ý kiến để hoàn thiện bản báo cáo này.
Sinh viên thực hiện
Lê Thùy Linh
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 5
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về tín dụng
1.1.1. Khái niệm
Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một
tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp
vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các
nghiệp vụ khác.
1.1.2. Đặc điểm tín dụng
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín
dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và
có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn.
Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn. Ngân hàng là
trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều
phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Để xác định thời hạn
cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và
quá trình luân chuyển vốn của đối tượng cho vay. Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài
hạn ổn định, thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốn
1.1.3. Vai trò của tín dụng
1.1.3.1. Đối với nền kinh tế
Vai trò kinh tế cơ bản của tín dụng ngân hàng là luân chuyển vốn từ những
người (cá nhân, hộ gia đình, công ty và chính phủ) có nguồn vốn thặng dư (do chi tiêu
ít hơn thu nhập) đến những người thiếu hụt ( do nhu cầu chi tiêu vượt quá thu nhập).
Nhu cầu vay vốn không chỉ để đầu tư kinh doanh mà còn dùng để thỏa mãn nhu cầu
tiêu dùng trước mắt. Việc luân chuyển vốn từ người tiết kiệm sang người sử dụng vốn
lại quan trọng với nền kinh tế vì những người tiết kiệm thường không đồng thời là
những người có cơ hội sinh lời cao. Như vậy, nếu không có ngân hàng, thì việc luân
chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế sẽ ách tắc. Chính vì vậy, kênh luân
chuyển vốn qua ngân hàng có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy tính hiệu quả của nền
kinh tế.
Tín dụng ngân hàng không giới hạn chỉ trong chức năng truyền thống là luân
chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu mà còn giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài
chính trong nền kinh tế. Thông qua tín dụng ngân hàng mà vốn từ những người thiếu
các dự án đầu tư hiệu quả được chuyển tới những người có các dự án đầu tư hiệu quả
hơn nhưng thiếu vốn. Kết quả là, kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm, và năng
suất lao động cao.
Thông qua việc đầu tư vốn tín dụng vào những ngành, nghề, khu vực kinh tế
trọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành, nghề đó, hình thành nên cơ cấu
hiện đại, hợp lý và hiệu quả.
Tín dụng ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường,
kiểm soát giá trị đồng tiền và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa các
nước.
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 7
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
Tín dụng ngân hàng mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước (NSNN)
thông qua thuế thu nhập và lãi từ ủy thác đầu tư vốn của Chính phủ.
Tín dụng ngân hàng là kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nông
nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội.
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 8
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
1.1.4.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm và được sử dụng để
bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp, phục vụ nhu cầu tiêu
dùng cá nhân và hộ gia đình.
Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm và sử
dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở
rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Tín
dụng trung hạn còn là nguồn vốn quan trọng hình thành nên vốn lưu động thường
xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp mới thành lập.
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng cho nhu cầu
đầu tư dài hạn như: xây dựng cơ bản (nhà xưởng, dây chuyền sản xuất…), xây dựng
cơ sở hạ tầng (đường xá, cảng biển, sân bay…) , cải tiến và mở rộng sản xuất có quy
mô lớn. Do thời gian đầu tư thường kéo dài, nên tín dụng dài hạn thường áp dụng hình
thức giải ngân nhiều lần theo tiến độ dự án. Nhìn chung, tín dụng dài hạn chịu rủi ro
rất lớn, bởi vì thời hạn càng dài, thì những biến động không dự tính có thể xảy ra càng
lớn.
1.1.4.2. Căn cứ vào bảo đảm tín dụng
Tín dụng có bảo đảm: là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh
của người thứ ba. Hình thức tín dụng này áp dụng đối với những khách hàng không đủ
uy tín, khi vay vốn phải có tài sản đảm bảo hoặc phải có người bảo lãnh. Tài sản bảo
đảm hoặc bảo lãnh của người thứ ba là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn
thu dự phòng khi nguồn thu chính (dòng tiền) của con nợ thiếu hụt, tạo áp lực buộc
con nợ phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hay
không có bảo lãnh của người thứ ba. Loại tín dụng này áp dụng cho những khách hàng
mới, có hệ số tín nhiệm không cao.
1.1.4.3. Căn cứ vào mục đích tín dụng
- Tín dụng bất động sản: Đây là các khoản tín dụng đầu tư vào bất động sản,
và có thời hạn ngắn.
Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là loại tín dụng mà khách hàng có thể hoàn trả
nợ vay bất cứ khi nào. Loại tín dụng này thường áp dụng cho những khoản vay thấu
chi, thẻ tín dụng.
1.1.4.6. Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
Tín dụng bằng tiền: là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tiền. Tín
dụng bằng tiền gọi là cho vay.
Tín dụng bằng tài sản: là loại tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tài
sản. Hình thức tín dụng này chính là cho thuê tài chính.
Tín dụng bằng uy tín: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng uy tín.
Hình thức tín dụng này chính là bảo lãnh ngân hàng.
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 10
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
1.1.4.7. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng, trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp
cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực tiếp
cho ngân hàng.
Tín dụng gián tiếp: là hình thức cấp tín dụng thông qua trung gian như: tín dụng
ủy thác, tín dụng thông qua tổ chức đoàn thể.
1.1.4.8. Tín dụng khác
Bao gồm các khoản tín dụng khác chưa được phân loại ở trên (ví dụ: tín dụng
kinh doanh chứng khoán).
1.1.5. Các phương thức cho vay
Cho đến nay, các ngân hàng thường sử dụng các phương thức cho vay phổ biến
dựa trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng gồm:
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện
thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng(TCTD) và khách hàng xác
định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
- Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các
sách tín dụng an toàn và hiệu quả”. Chính sách tín dụng cung cấp cho cán bộ tín dụng
và nhà quản lý một khung chỉ dẫn chi tiết để ra các quyết định tín dụng và định hướng
danh mục đầu tư tín dụng của ngân hàng. Thông qua kết cấu danh mục tín dụng của
một ngân hàng, ta có thể biết được chính sách tín dụng của ngân hàng này là như thế
nào. Nếu một chính sách tín dụng hoạt động không hiệu quả thì phải tiến hành kiểm
tra hoặc phải được tăng cường quản lý bởi ban lãnh đạo ngân hàng.
Sau đây là những yếu tố quan trọng nhất thường cấu thành trong chính sách tín
dụng của một ngân hàng:
- Mục đích của danh mục tín dụng ngân hàng, bao gồm các đặc điểm của một
danh mục tín dụng xét theo các tiêu chí như: các loại tín dụng, những kỳ hạn tín dụng,
các độ lớn tín dụng, chất lượng tín dụng, đối tượng khách hàng nòng cốt, khách hàng
mục tiêu…
- Phân cấp thẩm quyền cho vay đối với từng cán bộ tín dụng và từng hội đồng
tín dụng (quy định mức cho vay tối đa, các loại tín dụng được phép, và chữ ký của
người có trách nhiệm).
- Phân cấp chịu trách nhiệm hàng ngày trong công việc và báo cáo thông tin
trong nội bộ phòng tín dụng.
- Quy trình tiếp nhận, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định đối với đơn xin vay
của khách hàng.
- Hồ sơ bắt buộc đối với từng đơn xin vay, và những gì phải được lưu giữ tại
ngân hàng (ví dụ như các báo cáo tài chính, hợp đồng bảo đảm tín dụng…)
- Phân cấp chịu trách nhiệm trong nội bộ ngân hàng, cụ thể ai là người chịu
trách nhiệm duy trì và kiểm tra hồ sơ tín dụng.
- Các chỉ dẫn, nhận định, đánh giá và hoàn tất hồ sơ bảo đảm tín dụng.
- Quy định chính sách và quy trình ấn định mức lãi suất tín dụng mức phí và
các điều kiện hoàn trả nợ vay.
- Quy định những tiêu chuẩn chất lượng áp dụng chung cho tất cả các loại tín
dụng.
- Quy định giới hạn tín dụng tối đa cho một khách hàng.
- Quy định lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng, từ đó hướng tín dụng vào
đủ thẩm quyền hợp pháp để sở hữu các tài sản bảo đảm tín dụng đối với người vay
trước tòa án nếu cần thiết.
- Đánh giá điều kiện tài chính và những dự báo về người vay, trên cơ sở đó xem
xét lại nhu cầu tín dụng của người vay thay đổi như thế nào.
- Đánh giá xem khoản tín dụng có còn tuân thủ chính sách cho vay của ngân
hàng và các tiêu chuẩn do cơ quan quản lý đặt ra.
Nguyên lý 3: Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn, bởi vì nếu các
“đại gia” bị vỡ nợ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện tài chính của ngân hàng.
Nguyên lý 4: Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tín dụng có vấn đề,
tăng cường kiểm tra giám sát khi phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh liên quan
đến khoản tín dụng của ngân hàng.
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 13
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
Nguyên lý 5: Tăng cường kiểm tra tín dụng khi nền kinh tế có những biểu hiện
đi xuống, hoặc ngành nghề sử dụng nhiều tín dụng của ngân hàng có biểu hiện những
vấn đề nghiêm trọng trong phát triển (ví dụ như xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới,
hay có sự áp dụng công nghệ mới đòi hỏi phải có sản phẩm mới và các phương pháp
phân phối mới).
Kiểm tra tín dụng không phải là công việc thừa, lãng phí, mà rất cần thiết để
hình thành chính sách cho vay của ngân hàng một cách lành mạnh. Nó không những
giúp cho nhà quản lý nhận ra vấn đề một cách nhanh chóng, mà còn có tác dụng kiểm
tra thường xuyên xem cán bộ tín dụng có chấp hành đúng chính sách cho vay của ngân
hàng. Với lý do này, đồng thời tăng cường tính khách quan của công tác kiểm tra tín
dụng, hầu hết các ngân hàng lớn đều thành lập phòng “kiểm tra tín dụng” độc lập với
“phòng tín dụng”. Kiểm tra tín dụng giúp cho Hội đồng quản trị và Ban giám đốc điều
hành trong việc đánh giá toàn bộ tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng, từ đó đề ra các biện
pháp phòng chống cũng như định hướng chính sách “quỹ dự phòng bù đắp rủi ro” và
chiến lược tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng trong tương lai.
1.1.8. Sự cần thiết của tín dụng ngân hàng
Trong suốt sự phát triển lâu dài của tín dụng thì hình thức tín dụng ngân hàng tỏ
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.2.1. Nhân tố thuộc về phía ngân hàng
Quy mô và cơ cấu kỳ hạn của nguồn vốn ngân hàng: muốn cho vay được thì
điều kiện trước tiên là ngân hàng phải có vốn. Nhưng chỉ có vốn thôi thì chưa đủ, do
yêu cầu phải đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên nên các khoản vay của ngân
hàng cần phải được tài trợ một cách phù hợp từ nguồn vốn phù hợp. Quy mô các
nguồn vốn là một trong những nhân tố quyết định quy mô cho vay của ngân hàng.
Năng lực của ngân hàng trong việc thẩm định các hợp đồng: Một trong những
tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng là vốn và lãi được hoàn trả đúng
kỳ hạn. Điều này sẽ không thể có được nếu như việc thực hiện dự án không đạt hiệu
quả như mong muốn, hoặc khách hàng không có thiện chí, cố tình lừa đảo. Để hạn chế
nguy cơ đó ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác thẩm định dự án, thẩm định
khách hàng. Thông thường công tác thẩm định khách hàng được tiến hành trước và
chủ yếu tập trung vào xem xét các mặt: tư cách pháp lý, khả năng tài chính, khả năng
quản lý điều hành sản xuất kinh doanh, năng lực sản xuất kinh doanh, mức độ tín
nhiệm. Nếu khách hàng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu do ngân hàng đặt ra thì dự án đầu
tư sẽ được tiếp tục xem xét để quyết định có cho vay hay không. Vấn đề đặt ra ở đây là
thủ tục và các điều kiện, tiêu chuẩn sử dụng làm căn cứ để đánh giá khách hàng và dự
án đầu tư có hợp lý hay không. Nếu thủ tục rườm rà, các điều kiện, tiêu chuẩn đặt ra
quá khắt khe, không phù hợp với thực tế thì sẽ có rất ít khách hàng bảo đảm thỏa mãn
được yêu cầu của ngân hàng. Điều đó gây cản trở cho ngân hàng trong việc thu hút
thêm khách hàng, mở rộng quan hệ tín dụng. Ngược lại, nếu quy trình điều kiện đặt ra
không chặt chẽ có thể sẽ khiến cho ngân hàng sai lầm trong việc ra quyết định cho
vay, dẫn đến rủi ro tín dụng. Chính vì vậy trong quá trình hoạt động các ngân hàng
phải không ngừng cải tiến, hoàn thiện công tác thẩm định của mình.
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 15
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
Năng lực giám sát và xử lý các tình huống tín dụng của ngân hàng: cho dù công
tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng được tiến hành tốt, giúp cho ngân hàng lựa
chọn được những khách hàng tốt, những dự án khả thi có khả năng sinh lời cao song
còn giúp cho ngân hàng xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, chính sách tín
dụng một cách linh hoạt phù hợp với tình hình thực tế. Tất cả những điều đó góp phần
nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng.
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 16
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
Công nghệ ngân hàng, trang thiết bị kỹ thuật cũng là một nhân tố tác động tới
chất lượng tín dụng của ngân hàng, nhất là trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển
như vũ bão hiện nay. Một ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại được trang bị các
phương tiện kỹ thuật chất lượng cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn
thời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng vay vốn. Đó là tiền đề để
ngân hàng thu hút thêm khách hàng, mở rộng tín dụng. Sự hỗ trợ của các phương tiện
kỹ thuật hiện đại còn giúp cho việc thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, công
tác lập kế hoạch, xây dựng chính sách tín dụng cũng có hiệu quả hơn.
Chất lượng nhân sự và quản lý nhân sự của ngân hàng: Cho dù khoa học kỹ
thuật hiện đại đã mở ra cơ hội tự động hóa trong nhiều lĩnh vực song nhân tố còn
người vẫn luôn giữ vai trò quyết định. Đặc biệt trong hoạt động tín dụng ngân hàng là
hoạt động phức tạp, có liên quan đến nhiều vấn đề của đời sống xã hội thì vai trò của
con người lại càng quan trọng. Do đó vấn đề nhân sự là vấn đề cực kỳ quan trọng đối
với mỗi ngân hàng, trong đó nổi bật lên hai vấn đề: chất lượng nhân sự và quản lý
nhân sự. Chất lượng nhân sự ở đây không chỉ đơn thuần đề cập đến trình độ chuyên
môn mà còn bao gồm cả lương tâm, đạo đức, tác phong, kỷ luật lao động của người
cán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng. Trong đó vấn đề lương tâm
và đạo đức của cán bộ tín dụng là hết sức quan trọng. Điều này sẽ ảnh hưởng đến trực
tiếp trong quá trình thẩm định tín dụng của Ngân hàng, nếu cán bộ tín dụng có lương
tâm vào đạo đức nghề nghiệp sẽ không dễ bị sa ngã, tránh cho Ngân hàng những hợp
đồng tín dụng kém tính khả thi, tránh việc thua lỗ trong hoạt động tín dụng của Ngân
hàng. Chất lượng nhân sự tốt, biểu hiện ở sự năng động sáng tạo trong công việc, tinh
thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật cao của các cán bộ, trong một chừng mực
nào đó có thể giúp cho ngân hàng bù đắp lại những hạn chế về công nghệ, kỹ thuật,
nhờ đó mà ngân hàng vẫn có thể tồn tại và phát triển được cho dù phải cạnh tranh với
có thể do điều kiện đặt ra quá khắt khe, không thực tế hoặc do khả năng của các khách
hàng quá thấp, thì ngân hàng không thể mở rộng cho vay trong khi vẫn bảo đảm an
toàn tín dụng.
Khả năng của khách hàng trong việc quản lý và sử dụng khoản vay có hiệu quả:
Khi cho vay thì ngân hàng trông đợi khoản trả nợ sẽ được lấy từ chính kết quả hoạt
động của dự án chứ không phải bằng cách phát mại tài sản thế chấp, cầm cố. Điều này
lại phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốn vay của khách hàng. Có nhiều yếu
tố cần thiết để đảm bảo cho việc sử dụng vốn vay của khách hàng có hiệu quả cao,
trong đó có một nhân tố giữ vai trò quyết định như năng lực và trình độ quản lý nguồn
vốn của khách hàng.
1.2.2.3. Nhân tố khách quan khác
Môi trường tự nhiên: nói chung môi trường tự nhiên không tác động trực tiếp
tới hoạt động tín dụng của ngân hàng mà vai trò của nó thể hiện qua sự tác động đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Điều kiện tự nhiên diễn biến thuận lợi
hay bất lợi sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng, do đó ảnh
hưởng tới khả năng trả nợ cho ngân hàng.
Môi trường kinh tế: là một tế bào trong nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng cũng như khách hàng chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường này. Sự biến
động của nền kinh tế theo chiều hướng tốt hay xấu sẽ làm cho hiệu quả hoạt động của
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 18
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
ngân hàng và khách hàng biến động theo. Những tác động do môi trường kinh tế gây
ra có thể là trực tiếp đối với ngân hàng hoặc tác động xấu đến hiệu quả kinh doanh của
khách hàng, qua đó gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Môi trường chính trị, xã hội: sự ổn định của môi trường chính trị, xã hội là một
căn cứ quan trọng để ra quyết định của các nhà đầu tư. Nếu môi trường này ổn định thì
các nhà đầu tư sẽ yên tâm thực hiện việc mở rộng đầu tư và do đó nhu cầu vốn tín
dụng ngân hàng sẽ tăng lên.
Môi trường pháp lý không chặt chẽ nhiều khe hở và bất cập sẽ tạo cơ hội cho
các nhà đầu tư yếu kém làm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau và lừa đảo ngân hàng. Môi
của các khoản tín dụng bị giảm sút.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại
1.2.3.1. Chỉ tiêu định tính
Tín dụng là một trong những hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho các
NHTM, song không phải tất cả các NHTM đều thực hiện tốt hoạt động này. Một số
ngân hàng gặp khó khăn trong việc không thể tìm được dự án thích hợp để cho vay
hoặc gặp khó khăn trong việc huy động vốn. Vì vậy việc xem xét chất lượng hiệu quả
tín dụng là hết sức cần thiết, nó giúp ngân hàng có thể đánh giá lại hoạt động cho vay
của mình từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, thiếu sót và đẩy
mạnh hơn công tác tín dụng của ngân hàng.
Để đánh giá chất lượng tín dụng, ngân hàng cần phải xem xét cả những chỉ tiêu về mặt
định tính và mặt định lượng. Về mặt định tính, các chỉ tiêu được thể hiện qua một số
khía cạnh sau:
- Chất lượng tín dụng được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhu cầu
của khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, an
toàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán hợp lý, phù hợp với chu kỳ kinh doanh của
khách hàng.
- Những ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang thiết bị tốt,
đồng thời ngân hàng tham gia vào nhiều hình thức huy động vốn, đa dạng hóa và
không ngừng cung ứng các dịch vụ ngân hàng mới. Ngân hàng có tổng nguồn vốn huy
động lớn, ổn định lượng khách hàng vay đông đảo chứng tỏ ngân hàng có uy tín.
- Ngoài ra chất lượng tín dụng còn được xem xét thông qua tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh của ngân hàng, tình hình khai thác tiềm năng của ngân hàng trên
địa bàn hoạt động.
Cách đánh giá chỉ tiêu định tính:
Để đánh giá chỉ tiêu định tính, các cách thường dùng là các cách dùng trong
thống kê học như điều tra, phỏng vấn và phương pháp chuyên gia. Trong đó, điều tra
là phương pháp hay sử dụng nhất. Thông qua điều tra, quan sát có thể biết được thủ
tục cho vay đối với khách hàng như thế nào, rút ra nhận xét. Cũng có thể thấy được cơ
sở vật chất của ngân hàng. Thông qua điều tra cũng cho thấy được đối tượng khách
Tỷ lệ nợ quá hạn=
Số dư nợ quá hạn
x 100%
Tổng dư nợ
Nguyên tắc quan trọng nhất của cho vay là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là
yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng cho vay. Khi một khoản vay không
được hoàn trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ vi
phạm nguyên tắc cho vay quan trọng nhất của Ngân hàng và nó bị chuyển sang nợ quá
hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế phần lớn các khoản nợ quá
hạn là các khoản nợ có vấn đề , có khả năng mất vốn lớn, có nghĩa là tính an toàn thấp.
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi
được. Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ hiện hành có bao nhiêu đồng đã
quá hạn, đây là một chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng hoạt động tín dụng của ngân
hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp; ngược lại, tỷ lệ nợ quá
hạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao.
Thông thường thì tỷ lệ nợ quá hạn tốt nhất ở mức ≤ 5%. Tuy nhiên, chỉ tiêu này
đôi khi cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng của ngân hàng. Bởi vì bên cạnh
những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý do đã thực hiện tốt các khâu trong
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 21
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
quy trình tín dụng, còn có những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông qua
việc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo quy định.
Nợ quá hạn xuất hiện là do nhiều nguyên nhân, có thể là do ngân hàng không
xem xét kỹ khoản vay, đánh giá không chính xác thời gian sử dụng vốn cần thiết của
ngân hàng, có thể do khách hàng gặp khó khăn tạm thời trong việc kinh doanh vì môi
trường kinh doanh không thuận lợi, khách hàng cố tình không trả nợ cho ngân hàng….
Vì nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn nên ta chia nợ quá hạn ra là hai nhóm:
+ Nhóm 1: nợ quá hạn có khả năng thu hồi.
Tỷ lệ nợ quá hạn có
khả năng thu hồi
bởi năng lực huy động vốn. Thật là lý tưởng, nếu NHTM chủ động được nguồn vốn
huy động để cân đối nhu cầu cho vay (lúc đó hệ số H1 xấp xỉ bằng 100%). Tuy nhiên,
trong thực tế không phải lúc nào và ở đâu ngân hàng cũng tự cân đối được vốn huy
động để đáp ứng nhu cầu cho vay. Hai khả năng trong đó có thể xảy ra là:
Thứ nhất, tại địa bàn hoạt động nhu cầu vay vốn đầu tư là rất lớn, trong khi đó
khả năng huy động vốn là rất khó. Để giải quyết mâu thuẫn này, buộc ngân hàng phải
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 22
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
đi vay từ các ngân hàng khác (hoặc vay trung ương) để cho vay lại. Do phải đi vay với
chi phí cao nên có thể làm cho hiệu quả hoạt động của tín dụng giảm. Chính vì vậy,
giải pháp tốt nhất cho ngân hàng là phải từng bước chủ động cải thiện nguồn vốn huy
động của mình.
Thứ hai, tại địa bàn hoạt động nhu cầu vay vốn là rất ít, trong khi đó khả năng
huy động vốn lại rất cao. Để giải quyết mâu thuẫn này, buộc ngân hàng phải cho các
ngân hàng khác (hoặc chuyển về trung ương) vay lại nguồn vốn huy động.Trong
trường hợp này thì hệ số H1 là nhỏ hơn 100% rất nhiều. Do phải cho vay lại nguồn
vốn huy động với lãi suất thấp nên có thể làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Chính vì vậy, giải pháp tốt nhất cho ngân hàng là phải chủ động tìm đầu ra (cho vay,
đầu tư) để sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động.
- Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
Lợi nhuận từ hoạt động
tín dụng/Tổng dư nợ
=
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
x 100
Tổng dư nợ
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của NHTM chiếm từ 70% - 85% lợi nhuận của
NHTM. Nếu lợi nhuận của một ngân hàng tăng lên hằng năm, điều đó chứng tỏ chất
lượng tín dụng được nâng lên. Chỉ tiêu này phản ánh chênh lệch giữa chi phí đầu vào
(lãi suất huy động và thu lãi đầu ra). Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn
một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất khả năng thanh toán của
Ngân hàng, bằng chứng là đã xảy ra những cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới
Có thể nói bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng có thể lâm và tình trạng đó, vì
thế vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng không chỉ đối là cần thiết đối với Ngân hàng,
với khách hàng mà còn đối với toàn xã hội nữa.
1.2.5. Những kinh nghiệm về nâng cao chất lượng tín dụng ở ngân hàng thương
mại một số nước và bài học và bài học rút ra để vận dụng ở Việt Nam
1.2.5.1. Kinh nghiệm của Malayxia
Các NHTM đều có quỹ dự phòng chung ít nhất 1% tổng số nợ. Ngoài ra còn có
quỹ dự phòng đặc biệt cho các khoản nợ tổn thất và có nghi ngờ.
Nợ tổn thất là nợ không có khả năng thu hồi, số tiền này cần được xóa sổ hoặc
bù đắp bằng quỹ dự phòng.
Nợ nghi ngờ là nợ được coi như không có khả năng thu hồi, vì khó đánh giá số
tiền mất nên đặt một tỷ lệ là 50%.
Nợ kém tính chất: ngân hàng phải chú ý thu hồi bớt nợ, bổ sung thế chấp, nắm
thông tin thường xuyên để có giải pháp thích hợp.
1.2.5.2. Kinh nghiệm của Thái Lan
Sau khủng hoảng tài chính năm 1997, Thái Lan đã nhanh chóng đưa ra những
biện pháp cải cách hệ thống ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng như sau:
- Thứ nhất, Thái Lan đóng cửa 52 chi nhánh ngân hàng và công ty tài chính,
tiến hành tổ chức sắp xếp lại các ngân hàng thương mại.
- Thứ hai, các NHTM Thái Lan đã cố gắng nâng cao chất lượng tín dụng, phân
tán rủi ro bằng cách tập trung vào các giải pháp quy định phân loại và lựa chọn khách
hàng; hạn mức cho vay với một khách hàng không quá 25% vốn tự có; các khoản nợ
ngoài bảng tổng kết tài sản hạn chế dưới 25% tổng số vốn; các ngân hàng không được
đầu tư quá 20% tổng số vốn vào cổ phần, giấy chứng nhận nợ của một công ty; xếp
loại tài sản có thành ba loại: tổn thất, có nghi ngờ và kém tiêu chuẩn; quỹ dự phòng
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 24
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
được lập cho các khoản tín dụng bị xếp loại nghi ngờ ở mức tỷ lệ 50% và mất trắng ở
- Cải cách công tác quản trị ngân hàng và doanh nghiệp từng bước hạn chế
phương thức thống trị gia đình, bãi bỏ quy định không cho người nước ngoài làm giám
đốc, doanh nghiệp phải công bố công khai thông tin tài chính.
1.2.5.4. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Từ năm 1998, Trung Quốc tiến hành cơ cấu lại hệ thống NHTM và doanh
nghiệp Nhà nước trong thời gian 3 năm, nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ngân
hàng, cụ thể:
- Bán hàng loạt các doanh nghiệp yếu kém, tách khoản nợ của doanh nghiệp
Nhà nước ra khỏi bảng cân đối kế toán của ngân hàng.
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4 25