Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên
- Khảo sát trên địa bàn thành phố Ninh Bình,
tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005-2011)
Đinh Thị Mai Trâm
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Xã hội học
Chuyên ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn: TS. Trương An Quốc
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài “hội nhập việc làm và nghề
nghiệp”. Chỉ ra nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên. Làm rõ thực trạng khả
năng đáp ứng (trình độ, kỹ năng) đối với việc làm, nghề nghiệp của thanh niên trong
thời kỳ hội nhập trên địa bàn thành phố Ninh Bình. Cách thức thanh niên trên địa bàn
nghiên cứu tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp.
Keywords. Xã hội học; Việc làm; Nghề nghiệp; Thanh niên; Ninh Bình
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hội nhập với thế giới và khu vực đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng đưa đến
không ít những thách thức đối với nước ta. Đặc biệt với việc gia nhập tổ chức Thương
mại thế giới WTO, bộ mặt kinh tế của đất nước cũng có nhiều thay đổi, tạo ra nhiều
việc làm cho người lao động nhưng cũng đòi hỏi người lao động phải chủ động và tích
cực hơn trong việc tìm kiếm việc làm và thích ứng với những việc làm mới, nghề
nghiệp mới. Do vậy, sự cạnh tranh trên thị trường lao động ngày càng khốc liệt đối với
những người đang tìm kiếm việc làm và cả giữa những người đang có việc làm muốn
duy trì hay cố gắng tìm một công việc tốt hơn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với
thanh niên, những người có nhu cầu rất lớn về việc làm, có trình độ, năng lực, sự nhanh
việc làm, nghề nghiệp, bên cạnh đó là cách thức họ tìm kiếm việc làm thông qua những
thông tin, số liệu điều tra cụ thể trên địa bàn nghiên cứu trong giai đoạn 2005 – 2011,
đặc biệt với sự tác động của việc gia nhập tổ chức Thương mại quốc tế WTO (ngày
chính thức có hiệu lực 11/1/2007).
Đồng thời đưa ra được một số những khuyến nghị giúp cho chính những người
thanh niên đang có nhu cầu tìm kiếm việc làm có cơ hội tìm được việc làm, lựa chọn
được nghề nghiệp phù hợp trong thời kỳ hội nhập; Còn các nhà quản lý, hoạch định
chính sách có những giải pháp để sử dụng tốt hơn nữa lực lượng lao động này.
3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
“Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên – khảo sát trên địa bàn Thành
phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005-2011)”
3.2. Khách thể nghiên cứu:
- Thanh niên trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (độ tuổi từ 15 -
29 tuổi).
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 2 năm 2012
- Phạm vi không gian: Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Phạm vi nội dung:
+ Những nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên.
+ Khả năng đáp ứng (trình độ, kỹ năng) của thanh niên đối với việc làm, nghề
nghiệp trong thời kỳ hội nhập.
+ Cách thức tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên.
4. Mục tiêu nghiên cứu:
- Chỉ ra nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên.
- Làm rõ thực trạng khả năng đáp ứng (trình độ, kỹ năng) đối với việc làm, nghề
nghiệp của thanh niên trong thời kỳ hội nhập trên địa bàn thành phố Ninh Bình.
- Cách thức thanh niên trên địa bàn nghiên cứu tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề
nghiệp.
5. Giả thuyết nghiên cứu:
Thông qua quá trình tri giác trực tiếp để thu thập những thông tin cần thiết liên
quan tới đề tài, những hành động, thái độ của thanh niên trong việc tìm kiếm việc làm,
lựa chọn nghề nghiệp cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu về việc làm, nghề nghiệp của
họ. Bên cạnh đó là thái độ, hành động của người tuyển dụng lao động đối với vấn đề
này. 6.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Thông qua quá trình tương tác trao đổi trực tiếp giữa người đi phỏng vấn và
người được phỏng vấn, qua đó thu thập những thông tin mang tính định tính cho đề tài
nghiên cứu. Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu: Cán bộ ngành Lao động, thương binh và xã
hội: 01 người; Cán bộ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: 01 người; Người sử
dụng lao động: 01 người; Trung tâm giới thiệu việc làm: 01 người; Thanh niên đang
làm việc trong cơ quan nhà nước: 01 người; Thanh niên đang làm việc trong công ty cổ
phần: 01 người; Thanh niên đang làm việc trong doanh nghiệp tư nhân: 01 người;
Thanh niên đang làm việc trong công ty có vốn đầu tư nước ngoài: 01 người.
6.2.4. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi:
Nhằm thu thập được những thông tin định lượng về vấn đề nghiên cứu, đề tài xây
dựng bảng hỏi tập trung vào những nội dung cụ thể như sau:
- Nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên.
- Khả năng đáp ứng về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên trong thời kỳ hội
nhập.
- Cách thức tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp.
6.3. Phương pháp chọn mẫu:
Đề tài tiến hành chọn mẫu theo cụm, sau đó phân tầng theo trình độ học vấn, số
lượng phiếu phát ra: 220 phiếu. Sau khi kiểm tra làm sạch, số phiếu sử dụng là 200
phiếu, cụ thể như sau:
Trình độ
Địa bàn
Tốt nghiệp
HỘI NHẬP VIỆC LÀM, NGHỀ NGHIỆP
CỦA THANH NIÊN
Điều kiện kinh tế-xã hội
(Thời kỳ hội nhập)
Cơ chế, chính
sách
Quan niệm, giá
trị, chuẩn mực
làm có
thu
nhập
cao
Việc làm
phù hợp
với năng
lực, sở
thích
Việc
làm có
cơ hội
phát
triển
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận:
1.1.1. Lý thuyết xã hội học áp dụng
1.1.1.1. Lý thuyết Tương tác xã hội
Thuyết Tương tác xã hội có nguồn gốc là các quan niệm xã hội học của Max
Weber, G. Simmel, R. Park, và các tác giả nổi bật của thuyết tương tác biểu trưng là
Charles Horton Cooley, George Herbert Mead, Herbert Blumer, Erving Goffman. Luận
điểm gốc của thuyết tương tác biểu trưng là: xã hội được tạo thành từ sự tương tác của
vô số các cá nhân, bất kỳ hành vi và cử chỉ nào của con người đều có vô số các ý nghĩa
khác nhau, hành vi và hoạt động của con người không những phụ thuộc mà còn thay đổi
cùng với các ý nghĩa biểu trưng. Do đó, để hiểu được tương tác xã hội giữa các cá nhân,
giữa con người với xã hội, cần phải nghiên cứu tương tác xã hội, cần phải lý giải được ý
nghĩa của các biểu hiện của mối tương tác đó.
Trong quá trình hội nhập việc làm, nghề nghiệp, thanh niên luôn được đặt trong
mạng lưới các quan hệ xã hội, mỗi mối quan hệ có một ý nghĩa và tương tác xã hội khác
nhưng nó chỉ được sử dụng một cách rộng rãi sau công trình của Coleman, Bourdieu và
Putnam vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990. Thuật ngữ này liên quan
đến mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tán thành, thừa nhận khiến cho hành động
hợp tác giữa các cá nhân và các cộng đồng được dễ dàng.
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về vốn xã hội, song nhìn chung vốn xã
hội được xem như là tập hợp các mối quan hệ của mỗi cá nhân trong các mạng lưới xã
hội và khả năng tạo ra các mối quan hệ mới của mỗi cá nhân đó. Vốn xã hội của mỗi cá
nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hóa của họ và thông qua sự tương tác giữa các
cá nhân.
Nhờ các mối quan hệ trong mạng lưới xã hội, thanh niên có được những thông
tin từ việc làm, những thông tin này có thể xuất phát từ người thân trong gia đình, anh
em, họ hàng hoặc từ bạn bè. Sự mở rộng của mối quan hệ với sự đa dạng của mạng lưới
xã hội, từ đó thông tin về việc làm phong phú hơn. Trong nhiều trường hợp, những
thông tin từ việc làm lại xuất phát từ những người quen, những mối quan hệ ít thân thiết
hơn. Cùng với những mối quan hệ đã trở nên gắn bó, gần gũi thì những mối quan hệ ban
đầu còn ít thân thiết (sức mạnh của mối quan hệ yếu), những mối quan hệ này có vai
trò, ý nghĩa rất lớn trong việc hỗ trợ để có được việc làm: tư vấn, đưa ra những lời
khuyên, cung cấp tài liệu, cách thức thi tuyển… gia tăng cơ hội có được việc làm.
1.1.2. Các khái niệm công cụ
1.1.2.1. Khái niệm Hội nhập, Hội nhập việc làm, nghề nghiệp
Hội nhập là khái niệm nền tảng của lý thuyết chức năng, nó mô tả phương thức
quan hệ của những đơn vị trong một hệ thống mà vì hệ thống đó, một mặt chúng hành
động một cách tập thể để tránh phá vỡ nó và làm cho nó không thể duy trì được tính ổn
định của mình và mặt khác chúng “hợp tác” để thúc đẩy sự hoạt động của nó như một
thể thống nhất. (T.Parsons, Những tiểu luận về lý thuyết xã hội học).
Hội nhập việc làm không chỉ là tìm được việc làm, đó còn là tìm được một việc
làm phù hợp/tương ứng với/đáp ứng được những gì mà người lao động kỳ vọng, biểu thị
bằng những mục tiêu rõ rệt (được đặt ra và đã, hoặc) cần đạt được;
Không chỉ là tìm một việc làm để có nguồn thu nhập (kiếm sống), đó còn là một
việc làm cho phép hướng tới một tương lai nghề nghiệp xác định, được hiểu là bao gồm
1.1.2.4. Khái niệm Thanh niên
Thanh niên là thuật ngữ được đề cập đến trong xã hội học như là một điển hình
về vị thế quy gán, hay một cái nhãn được đặt ra về mặt xã hội chứ không chỉ đơn giản là
điều kiện sinh học của thời tuổi trẻ. Thuật ngữ này được sử dụng theo ba cách: Một cách
rất chung thì nó bao hàm toàn bộ các giai đoạn trong vòng đời, từ lúc còn trẻ đến khi bắt
đầu thành người trưởng thành; một cách hay dùng thay cho thuật ngữ vị thành niên vốn
chưa hợp lý lắm, để chỉ lý thuyết và nhu cầu thanh thiếu niên (tuổi 13-19 tuổi) và quá
trình chuyển thành người lớn; Cách sử dụng hiện nay ít phổ biến hơn để chỉ một tập hợp
những vấn đề giả định về tình cảm và xã hội gắn với việc lớn lên trong xã hội công
nghiệp đô thị
Theo N. O’Higgins, thanh niên là lứa tuổi đang trong thời gian chuyển tiếp giữa
thời thiếu niên và trưởng thành.
Theo cơ cấu lứa tuổi của dân số các nước trên thế giới có những quy định khác
nhau về độ tuổi thanh niên, thông thường từ 15 đến 24, 25, 29 hoặc 34 tuổi. Theo Liên
Hợp Quốc lứa tuổi 15 – 34 là thuộc cơ cấu lao động trẻ. Còn thanh niên thường chỉ tính
trong độ tuổi 15 – 24 để hàm ý ở độ tuổi này thanh niên bao gồm những người rời ghế
nhà trường sớm nhất từ 15 tuổi (kết thúc THCS khi 15 tuổi) và kết thúc việc đào tạo
nghề nghiệp ở cấp Đại học lúc 24 tuổi. Nhiều nước quy định, thanh niên là trong độ tuổi
15-24, riêng Việt Nam quy định ở độ tuổi 15-29 (tuổi còn sinh hoạt trong tổ chức đoàn
Thanh niên).
1.2. Cơ sở thực tiễn:
1.2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
- Hội nhập việc làm nghề nghiệp của người tốt nghiệp đại học (Khảo sát trên địa
bàn thành phố Hà Nội), TS. Trương An Quốc, đề tài cấp Đại học Quốc gia, nghiệm thu:
tháng 12/2006.
- Thanh niên với việc làm và phát triển tài năng, TS Dương Tự Đam, NXB Thanh
niên, năm 2008.
- Thanh niên với hội nhập khu vực và thế giới, PTS. Hồ Đức Việt, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội năm 1997.
- Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên, TS. Nguyễn
1.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
Ninh Bình giáp với Hòa Bình, Hà Nam ở phía bắc, Nam Định ở phía đông qua
sông Đáy, Thanh Hóa ở phía tây, biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía đông nam. Trung tâm tỉnh
là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía nam.
Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng, năm 2010 chỉ
số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 11/63, liên tục nằm trong nhóm tỉnh đứng đầu
miền Bắc.
Về tình hình giải quyết việc làm: Bằng sự tác động của các chương trình phát
triển kinh tế - xã hội và các chính sách khác đã giải quyết việc làm cho 90.160 lượt
người (trong đó xuất khẩu lao động: 7.287 lượt người); bình quân mỗi năm giải quyết
việc làm cho 18.032 lượt người (trong đó xuất khẩu lao động: 1.457 người).
Bảng 1.1. Số lao động được giải quyết việc làm qua các năm.
Chỉ tiêu
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Lao động được giải quyết
việc làm
19.337
16.600
17.200
18.065
18.958
được đặt trong mối quan hệ với thị trường lao động Việt Nam: Vào thời điểm điều tra
1/7/2010, cả nước có 50,8 triệu người lao động trở lên thuộc lực lượng lao động chiếm
58,5% tổng dân số, bao gồm 49,5 triệu người có việc làm và 1,3 triệu người thất nghiệp.
Trong khi đó về chất lượng của lực lượng lao động, theo điều tra Lao động Việc làm
năm 2010 cho thấy tỷ trọng lao động nước ta qua đào tạo vẫn còn thấp. Trong tổng số
50,8 triệu người thuộc lực lượng lao động của cả nước chỉ có hơn 7,4 triệu người được
đào tạo, chiếm 14,7% tổng lực lượng lao động. Như vậy, lực lượng lao động nước ta trẻ
và dồi dào nhưng lực lượng chuyên môn kỹ thuật thấp. Về tỷ lệ lao động đang làm việc
đã qua đào tạo: Trong tổng số hơn 49,5 triệu người từ 15 tuổi trở lên đang làm việc của
cả nước, chỉ có gần 7,2 triệu người đã được đào tạo chiếm 14,6%. Hiện cả nước có
85,4% số người đang làm việc được đào tạo để đạt một trình độ chuyên môn kỹ thuật
nào đó. Điều này cho thấy, chất lượng việc làm của Việt Nam còn thấp, đây là một
thách thức lớn của đất nước trong việc đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững.
Phân tích yếu tố cung lao động thanh niên của thị trường lao động thanh niên
phải bắt đầu từ dân số trong độ tuổi thanh niên, phản ánh đúng về số lượng lao động
thanh niên cho thị trường lao động. Dân số trong độ tuổi thanh niên cũng chính là dân
số trong độ tuổi lao động đang có xu hướng tăng lên.
Tác giả đã tiến hành điều tra, khảo sát đánh giá về việc tìm kiếm việc làm, lựa
chọn nghề nghiệp của thanh niên trên địa bàn nghiên cứu. Kết quả khảo sát cho thấy:
Chiếm một tỷ lệ lớn thanh niên được hỏi cho rằng việc tìm kiếm việc làm hiện nay là rất
khó khăn (25,5%) và 59% cho rằng khó khăn, chỉ có một tỷ lệ nhỏ cho đó là việc đơn
giản, dễ dàng với 1,5% và 14% cho rằng việc tìm kiếm được việc làm, lựa chọn nghề
nghiệp là bình thường.
Đồng thời để hiểu rõ hơn về những khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, lựa
chọn nghề nghiệp hiện nay của thanh niên, bảng hỏi đã đưa ra câu hỏi: Anh (chị) có gặp
khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm không? Kết quả điều tra, xử lý bảng hỏi
cho thấy có tới 82% lao động thanh niên cho rằng có gặp khó khăn trong việc tìm kiếm
việc làm. Trong đó, khó khăn, trở ngại mà thanh niên gặp phải chiếm tỷ lệ lớn nhất là số
lượng việc làm ít nhưng số hồ sơ đăng ký quá nhiều chiếm 62,7% số người trả lời có
gặp khó khăn này. Tiếp đó là lý do khó tìm được ngành nghề phù hợp với chuyên môn
thích ứng rất linh hoạt của lao động thanh niên trong thời kỳ hội nhập hiện nay.
Như vậy, tiêu chí môi trường và điều kiện làm việc tốt được các bạn thanh niên
đánh giá rất cao và có ý nghĩa quan trọng (28% cho là rất quan trọng và 65% cho là
quan trọng). Bởi vì công việc có môi trường và điều kiện làm việc tốt thì sẽ tạo được
trạng thái thoải mãi trong quá trình làm việc, qua đó sẽ phát huy được sự sáng tạo, sự
hăng say trong lao động, phát huy được năng lực bản thân. Đồng thời, nó còn có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng khác là nó sẽ tạo ra sự gắn bó với công việc, nơi làm việc, đây cũng
là yếu tố quyết định tới chất lượng và hiệu quả công việc.
Bên cạnh đó, tiêu chí cơ hội có thu nhập cao cũng được các bạn thanh niên đánh
giá rất cao với 38% cho là rất quan trọng và 58% cho là quan trọng. Đây chính là thước
đo, sự trả công cho những cố gắng của người lao động. Đồng thời, qua đó, các bạn
thanh niên cũng khẳng định được bản thân mình. Mặt khác, với một công việc có thu
nhập cao, là cơ hội để lao động thanh niên có thể đảm bảo cho mình một cuộc sống tốt
và ổn định với những trang trải chi phí cần thiết.
Việc đánh giá về tầm quan trọng của các yếu tố/tiêu chí về việc làm, nghề nghiệp
này có sự khác biệt giữa nam và nữ cũng như trình độ học vấn của đối tượng điều tra.
Về mức độ rất quan trọng của các yếu tố/tiêu chí thì tỷ lệ thanh niên nam lựa chọn cao
hơn nữ, đặc biệt là ở các yếu tố như cơ hội thăng tiến: có tới 36,5% nam cho là rất quan
trọng và chỉ có 17,3% nữ cho là rất quan trọng; Phù hợp với sở thích: 22,9% nam cho là
rất quan trọng và 14,4% nữ cho là rất quan trọng; Khẳng định được năng lực bản thân:
32,3% nam và 16,3% nữ cho là rất quan trọng. Còn mức độ quan trọng của các yếu
tố/tiêu chí việc làm thì tỷ lệ nữ lựa chọn thường cao hơn nam, đặc biệt là các yếu tố/tiêu
chí: Môi trường và điều kiện làm việc tốt: 58,3% nam cho là quan trọng, trong khi có tới
71,2% nữ cho là quan trọng; Đảm bảo sự ổn định (50% nam và 58,7% nữ cho là quan
trọng); Có thời gian cần thiết để chăm sóc gia đình bản thân (55,2% nam và 65,4% nữ
cho là quan trọng); Gần nhà (31,3% nam và 37,5% nữ cho là quan trọng). Như vậy, có
thể thấy rằng: các tiêu chí như: cơ hội thăng tiến, phù hợp với sở thích, khẳng định được
năng lực bản thân được lao động thanh niên nam đánh giá cao hơn nữ; Còn các yếu tố
như: môi trường và điều kiện làm việc tốt, đảm bảo sự ổn định, có thời gian cần thiết để
chăm sóc gia đình bản thân, gần nhà được nữ thanh niên đánh giá cao hơn nam thanh
tích về mức thu nhập, tư cách pháp lý trong công việc, cơ quan làm việc: Khi được hỏi
về mức thu nhập/tháng thì lao động thanh niên chủ yếu có mức thu nhập trên 2 triệu đến
4 triệu/tháng chiếm 48,5%, 18,5% thanh niên được hỏi có mức thu nhập từ 1,5 triệu - 2
triệu. Mức thu nhập trên 4 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ nhỏ (trên 4 triệu - 6 triệu chiếm
10,5% và trên 6 triệu chiếm 6%). Do đó, tiêu chí việc làm: Cơ hội có thu nhập cao
chiếm tỷ lệ lớn thanh niên không hài lòng (30,0%) và tương đối hài lòng (27%).
Về tư cách pháp lý trong công việc: Chiếm tỷ lệ lớn lao động thanh niên làm việc
với tư cách pháp lý của công việc là hợp đồng với 58% (hợp đồng dài hạn 21,8%, hợp
đồng ngắn hạn 36,2%), tiếp đó là hình thức Biên chế nhà nước với 30,5%; Tạm thời và
không có hợp đồng chiếm tỷ lệ nhỏ (11,5%). Điều này cũng phản ánh những khó khăn
trong việc làm, cơ hội có được việc làm, cũng như sự chấp nhận của người lao động để
có được việc làm.
Về cơ quan làm việc: chiếm một tỷ lệ lớn lao động thanh niên làm việc trong cơ
quan nhà nước với 55,4%, làm việc trong doanh nghiệp tư nhân chiếm 14,3%, làm việc
trong công ty TNHH chiếm 13,7%, làm việc trong công ty cổ phần chiếm 12,0%, công
ty có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ nhỏ. Các cơ quan làm việc thuộc nhà nước mặc
dù không đem lại thu nhập cao cho người lao động chiếm 23,4% từ 1,5 triệu - 2 triệu và
68,1% trên 2 triệu - 4 triệu nhưng đông đảo thanh niên vẫn muốn làm việc trong khu
vực này vì có tính ổn định cao.
Bước vào thời kỳ hội nhập việc làm, nghề nghiệp, trong khi việc làm ngày càng
trở nên khó khăn, nhiều thanh niên chấp nhận những công việc có thể chưa được như
mong muốn sau đó trong quá trình làm việc tiếp tục tìm công việc phù hợp và đổi việc.
Khảo sát trên địa bàn nghiên cứu cũng cho thấy: Khi được hỏi về việc thay đổi việc làm
thì 40% đối tượng điều tra chưa đổi việc lần nào, còn 60% đã đổi việc từ 1 lần đến trên
2 lần: đã đổi việc 1 lần chiếm 30,5%, đã đổi việc 2 lần (8,5%), đã đổi việc trên 2 lần
(9%).
Về lý do đổi việc: Có tới 41,4% đối tượng điều tra muốn thay đổi công việc hiện
tại của mình và lý do được đưa ra là: Muốn tìm một công việc tốt hơn (79,5%); Thu
nhập thấp và không ổn định (53,4%); Không phát huy được năng lực (31,5%); Chịu quá
nhiều áp lực từ công việc (24,7%); Điều kiện và môi trường làm việc không tốt
thông tin được đánh giá có mức độ phù hợp và cụ thể, chi tiết thấp nhất là từ các tổ chức
đoàn, hội (29% cho rằng không phù hợp và 27% cho rằng tương đối phù hợp, 28% cho
rằng tương đối cụ thể, chi tiết và 27,5% cho rằng không cụ thể chi tiết). Bên cạnh đó,
qua khảo sát, tác giả cũng nhận thấy khi được hỏi về “Đánh giá của anh (chị) về thông
tin việc làm từ các nguồn mà anh (chị) nhận được theo các tiêu chí Phù hợp và Cụ thể,
chi tiết thì có một tỷ lệ các phiếu không trả lời/đánh giá về chất lượng của thông tin việc
làm từ trung tâm giới thiệu việc làm và các tổ chức đoàn, hội khá cao với trên 20% đối
tượng điều tra. Do họ không biết, không tiếp cận và nhận được thông tin việc làm từ
những nguồn này. Qua đây có thể thấy rằng những thông tin về việc làm từ trung tâm
giới thiệu việc làm, các tổ chức, đoàn, hội chưa được người lao động đánh giá cao.
Đánh giá thông tin việc làm theo các tiêu chí phù hợp và cụ thể, nhận thấy rằng
nguồn thông tin việc làm từ người thân có độ tin cậy về sự phù hợp và cụ thể nhất so
với các nguồn thông tin khác với 34% cho rằng rất phù hợp và 33% cho rằng khá phù
hợp, 40% cho rằng rất cụ thể, chi tiết và 32,5% cho rằng khá cụ thể chi tiết; Tiếp đến là
nguồn thông tin việc làm từ bạn bè/người quen được đánh giá là khá phù hợp (59,5%)
và khá cụ thể, chi tiết (58%). Thông tin việc làm từ mạng internet được đánh giá là
tương đối phù hợp (41%) và tương đối cụ thể, chi tiết (46,5%). Tiếp đó là thông tin việc
làm từ ti vi, báo, đài được đánh giá tương đối phù hợp chiếm tỷ lệ lớn (39,5%). Trung
tâm giới thiệu việc làm được đánh giá là đưa đến những thông tin việc làm tương đối
phù hợp (32,5%), không phù hợp (23,5%), tương đối cụ thể, chi tiết (39%). Nguồn
thông tin được đánh giá có mức độ phù hợp và cụ thể, chi tiết thấp nhất là từ các tổ chức
đoàn, hội (29% cho rằng không phù hợp và 27% cho rằng tương đối phù hợp, 28% cho
rằng tương đối cụ thể, chi tiết và 27,5% cho rằng không cụ thể chi tiết). Bên cạnh đó,
qua khảo sát, tác giả cũng nhận thấy khi được hỏi về “Đánh giá của anh (chị) về thông
tin việc làm từ các nguồn mà anh (chị) nhận được theo các tiêu chí Phù hợp và Cụ thể,
chi tiết thì có một tỷ lệ các phiếu không trả lời/đánh giá về chất lượng của thông tin việc
làm từ trung tâm giới thiệu việc làm và các tổ chức đoàn, hội khá cao với trên 20% đối
tượng điều tra. Do họ không biết, không tiếp cận và nhận được thông tin việc làm từ
những nguồn này. Qua đây có thể thấy rằng những thông tin về việc làm từ trung tâm
giới thiệu việc làm, các tổ chức, đoàn, hội chưa được người lao động đánh giá cao.
50% trường chuyên nghiệp cho là quan trọng, trong khi với tiêu chí này ở trình độ
THPT và trên đại học cho là quan trọng chiếm tỷ lệ thấp hơn). Mặc dù ở các trình độ
học vấn đều đánh giá trình độ ngoại ngữ có ý nghĩa quan trọng chiếm tỷ lệ cao, nhưng ở
trình độ học vấn cao đẳng, đại học và trên đại học lại đặc biệt đánh giá cao sự cần thiết
của yếu tố này với 50% trên đại học và 20,9% trình độ cao đẳng, đại học cho là rất quan
trọng, trong khi tỷ lệ này ở thanh niên tốt nghiệp trường chuyên nghiệp là 12,9% và
10% trình độ THPT đánh giá là rất quan trọng. Quan hệ gia đình: 54,3% tốt nghiệp
trường chuyên nghiệp và 43,5% trình độ cao đẳng, đại học đánh giá là quan trọng; Yếu
tố về kinh nghiệm thực tế: 50,9% trình độ cao đẳng đại học và 37,1% tốt nghiệp trường
chuyên nghiệp cho là quan trọng trong khi chỉ có hơn 20% trình độ THPT và trên đại
học cho rằng yếu tố này là quan trọng. Yếu tố về kinh tế, tài chính: 51,4% tốt nghiệp
trường chuyên nghiệp cho là quan trọng còn ở trình độ cao đẳng, đại học chỉ chiếm
33,3% và trên đại học là 25%.
2.3. Khả năng đáp ứng yêu cầu về việc làm, nghề nghiệp.
2.3.1. Quá trình tuyển dụng
Khi được hỏi về các hình thức người tuyển dụng lao động kiểm tra về trình độ/kỹ
năng, 85,4% đối tượng điều tra trả lời người tuyển dụng kiểm tra trình độ/kỹ năng thông
qua phỏng vấn; 49,5% đối tượng điều tra trả lời kiểm tra thông qua bài thi; 4% đối
tượng điểu tra cho rằng người tuyển dụng không kiểm tra trình độ/kỹ năng. Trong đó,
hình thức kiểm tra thông qua bài thi sẽ thường được người tuyển dụng lao động kiểm tra
kết hợp thông qua hình thức phỏng vấn. Việc không kiểm tra thông qua thi tuyển, thì
người tuyển dụng có thể đánh giá trình độ, khả năng của người lao động thông qua xét
tuyển hồ sơ.
Sau khi được tuyển dụng, người lao động phải thông qua thời gian thử việc, tiếp
tục được đào tạo, tập huấn theo nhu cầu của đơn vị, doanh nghiệp.
2.3.2. Đánh giá về một số trình độ, kỹ năng của thanh niên.
Kỹ năng mềm bao gồm tổng hợp của rất nhiều các kỹ năng khác nhau, nhưng
địa bàn nghiên cứu. 63,6% trình độ học vấn trên đại học rất thường xuyên tìm đọc tài
liệu, nghiên cứu sách chuyên môn, trong khi cách thức này ở trình độ cao đẳng đại học
thường xuyên sử dụng chiếm 46,0% và 43,8% trường chuyên nghiệp. Hỏi ý kiến, tìm
gặp các thầy, cô giáo, các chuyên gia là cách thức ít được các bạn thanh niên sử dụng
hơn nhưng có sự khác biệt rõ về trình độ học vấn. Mức độ thường xuyên sử dụng cách
thức này để nâng cao trình độ, kỹ năng cho mình chiếm tỷ lệ cao nhất ở trình độ trên đại
học với 9,1% rất thường xuyên sử dụng và 18,2% thường xuyên sử dụng, 2,1% trình độ
cao đẳng, đại học rất thường xuyên sử dụng và 10,4% trình độ này thường xuyên sử
dụng, trong khi chỉ có 10,9% tốt nghiệp trường chuyên nghiệp thường xuyên sử dụng
cách thức này để nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng cho mình. Học hỏi, trao đổi với
bạn bè, đồng nghiệp (cùng nơi làm việc) là cách thức mà các bạn thanh niên thường sử
dụng với trên 70% thanh niên trình độ tốt nghiệp trường chuyên nghiệp, và tốt nghiệp
cao đẳng, đại học, trên 80% thanh niên tốt nghiệp THPT sử dụng cách thức này. Học
hỏi, trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp (không cùng nơi làm việc) cũng chiếm tỷ lệ tương
đối lớn các bạn thanh niên sử dụng để nâng cao trình độ kỹ năng cho mình với 53,1%
trường chuyên nghiệp, 42,7% cao đẳng, đại học, 36,4% trên đại học sử dụng cách thức
này, tốt nghiệp THPT sử dụng cách thức này chiếm tỷ lệ thấp hơn với 16,7%.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
1.1. Nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên.
Qua điều tra, khảo sát cho thấy chiếm tỷ lệ lớn 59% thanh niên cho rằng việc tìm
kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên là khó khăn và 25,5% cho rằng rất
khó khăn. Trong đó khó khăn, trở ngại lớn nhất mà thanh niên gặp phải trong quá trình
tìm kiếm việc làm là Số lượng việc làm ít nhưng số hồ sơ đăng ký quá nhiều, tiếp đó là
khó khăn Khó tìm được ngành nghề phù hợp với chuyên môn đào tạo.
Thanh niên lựa chọn việc làm với tiêu chí đưa ra là có môi trường và điều kiện
làm việc tốt, đảm bảo sự ổn định tiếp đó là tiêu chí cơ hội có thu nhập cao, còn các tiêu
chí về cơ hội thăng tiến, phù hợp với ngành nghề đào tạo, phù hợp với sở thích, khẳng
định được năng lực bản thân chiếm tỷ lệ nhỏ thanh niên đánh giá cao về mức độ tầm
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội từ đó tạo ra nhiều việc làm
- Thực hiện tốt các chính sách, dự án giải quyết việc làm
- Ban hành chính sách phân luồng học sinh rõ ràng sau khi tốt nghiệp THCS và
THPT
2.2. Đối với các trường THPT, trường chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học
- Đổi mới về nội dung và chương trình đào tạo.
- Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, định hướng việc làm, nghề nghiệp cho học
sinh, sinh viên
2.3. Đối với các Trung tâm Giới thiệu việc làm.
- Thu thập thông tin và diễn biến của thị trường lao động để có những dự báo về
cung cầu lao động.
- Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, trở thành cầu nối giữa
người tuyển dụng lao động và người lao động một cách hiệu quả.
- Tổ chức các sàn giao dịch việc làm thường xuyên và có hiệu quả, nâng cao số
lượng và chất lượng việc làm hướng tới đông đảo các tầng lớp, đối tượng.
2.4. Đối với Đoàn thanh niên.
- Thực hiện tốt vai trò là người tư vấn, giúp thanh niên có những định hướng về
việc làm, nghề nghiệp phù hợp với bản thân.
- Đẩy mạnh hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm cho thanh niên.