Pháp luật về tái định cư và thực tiễn thực hiện tại khu kinh tế vũng áng – tỉnh hà tĩnh - Pdf 96

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Từ bao đời nay, nhân dân ta luôn luôn tâm niệm “an cư rồi mới lạc nghiệp”. Quan
niệm này đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ, vào tiềm thức của mỗi người. Vấn đề đầu tiên
mà người ta hướng tới khi muốn ổn định đời sống là nơi ở. Nơi ở gắn liền với tập quán
sinh hoạt, tập quán sản xuất, thậm chí gắn với cả truyền thống văn hóa của con người. Đặc
biệt là ở vùng nông thôn – nơi mà văn hóa làng xã còn khá đậm nét và sản xuất nông
nghiệp vẫn là chủ yếu thì nơi ở có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Tuy nhiên, trong xu thế mở cửa hội nhập hiện nay, nơi ở của người dân, nhất là ở
vùng nông thôn có sự xáo trộn mạnh mẽ. Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất
nước, nhu cầu đất đai cho việc đầu tư xây dựng các khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu
công nghệ cao, KKT nói riêng và cho sự phát triển kinh tế nói chung của đất nước là rất
cần thiết. Có thể thấy, nhu cầu đất cho đô thị hóa và công nghiệp hóa ở nước ta là rất lớn,
nhưng quỹ đất nhàn rỗi do Nhà nước quản lý không đáp ứng đủ những nhu cầu đó. Bởi
vậy, quỹ đất phục vụ cho công cuộc phát triển nói trên cần phải lấy từ nhiều nguồn, trong
đó có phần từ thu hồi đất của tổ chức, cá nhân và hộ gia đình. Trong số đó, có nhiều trường
hợp Nhà nước phải thu hồi cả đất ở của người dân để lấy mặt bằng thực hiện dự án. Thậm
chí đối với một số dự án, số hộ phải di dời lên đến hàng nghìn hộ với vài chục nghìn nhân
khẩu như Dự án Thủy điện Sơn La ở tỉnh Sơn La; Dự án Khu liên hợp gang thép và cảng
biển Sơn Dương Formosa ở tỉnh Hà Tĩnh… Đối với các dự án này, vấn đề TĐC cho người
dân bị mất đất ở là một yêu cầu bức thiết, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người
dân. Bởi lẽ, tách con người ra khỏi nơi ở truyền thống là tách họ ra khỏi cuộc sống thường
nhật đã gắn bó với họ nhiều năm, có khi là cả cuộc đời, cả nhiều thế hệ. Điều này có ảnh
hưởng vô cùng to lớn, là bước ngoặt trong cuộc đời của họ.
Xuất phát từ tầm ảnh hưởng của vấn đề TĐC đối với người bị thu hồi đất, trong
những năm qua chính sách và pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC luôn được Nhà nước
quan tâm. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, pháp luật về bồi thường, TĐC đã bộc lộ
nhiều điểm vướng mắc. Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến
tình trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trên thực tế gặp phải rất nhiều khó
khăn, gây bức xúc trong dư luận, gây tác động tiêu cực đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội của
đất nước. Để góp phần khắc phục tình trạng này, việc đi sâu tìm hiểu quy định của pháp

việc phân tích một khía cạnh nhỏ trong toàn bộ chế định TĐC. Đối với các luận văn thạc
sỹ, các khóa luận tốt nghiệp, đây là những công trình nghiên cứu công phu, có chất lượng.
Nhưng các công trình này chủ yếu đề cập đến việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu
hồi đất, trong đó vấn đề TĐC chỉ là một phần nhỏ trong tổng thể công trình. Một số công
trình khác tuy đã trực tiếp nghiên cứu về TĐC, nhưng có nhiều quy định về TĐC được đề
cập trong đó hiện nay đã bị bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung Bởi vậy, việc nghiên cứu pháp luật
hiện hành về TĐC là rất cần thiết.
3. Phạm vi nghiên cứu:
TĐC cho người dân bị Nhà nước thu hồi đất ở là một chế định pháp luật được quy
định đầu tiên tại Luật Đất đai 1993 và tiếp tục được khẳng định tại Luật Đất đai 2003.
Trong giới hạn nghiên cứu, luận văn đi sâu tìm hiểu các quy định pháp luật hiện hành về
TĐC, bao gồm quy định tại Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất
đai 2003 về TĐC khi Nhà nước thu hồi đất.
Tuy nhiên, do đặc thù của công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC mà mỗi địa phương
khác nhau có thể có các quy định không giống nhau về cùng một vấn đề. Để làm rõ hơn
khía cạnh này, luận văn cũng tìm hiểu các quy định pháp luật về TĐC áp dụng đối với một
địa bàn cụ thể là KKT Vũng Áng – tỉnh Hà Tĩnh. Qua thực tiễn thực hiện pháp luật về
TĐC ở địa bàn này, luận văn làm rõ những ưu điểm cũng như những mặt còn hạn chế,
vướng mắc của pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước của dân, do
dân, vì dân, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác xít là phương pháp duy vật
biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử để phân tích những vấn đề đặt ra trong luận
văn; tuân theo quy luật logic, tổng hợp, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn… Luận văn
cũng sử dụng phương pháp xã hội học, thống kê, tổng hợp, so sánh, khảo cứu tài liệu và kế
thừa những kết quả nghiên cứu đã có để giải quyết những vấn đề trong phạm vi nghiên cứu
của đề tài.
5. Tính mới và đóng góp của luận văn:

thuật ngữ “TĐC” được nhắc đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như
trong cuộc sống của người dân. Nó cũng là một thuật ngữ pháp lý được đề cập nhiều trong
các văn bản pháp luật, đặc biệt là văn bản pháp luật về đất đai. Vậy “TĐC” là gì?
“Từ điển Luật học” – cuốn sách tập hợp những giải thích trên khía cạnh pháp lý về
các thuật ngữ pháp lý thông dụng không đưa ra định nghĩa về “TĐC”.
Trong “Đại từ điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên cũng không giải thích
về thuật ngữ “TĐC”. Tuy nhiên, tác giả lại chỉ rõ: “tái: hai lần hoặc lần thứ hai; lại một lần
nữa”

[46, tr.1485]; “định cư: ở lại một nơi nhất định để sinh sống và làm ăn, phân biệt với
du cư” [46, tr.641]. Như vậy, có thể hiểu TĐC là việc một lần nữa chuyển đến một nơi
nhất định để sinh sống và làm ăn ổn định. Có thể thấy cách hiểu về TĐC như trên không
chỉ áp dụng trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà còn áp dụng
đối với một số trường hợp khác không liên quan đến thu hồi đất như TĐC cho đồng bào
dân tộc ít người sinh sống du canh du cư, hoặc TĐC tự phát của từng người dân riêng lẻ…
“TĐC” là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản quy phạm
pháp luật, bởi vậy các nhà làm luật đã có giải thích về thuật ngữ này tại Nghị định số
197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việc bồi thường, hỗ trợ TĐC khi Nhà
nước thu hồi đất (sau đây gọi tắt là Nghị định 197/2004/NĐ-CP). Theo đó, “người sử dụng
đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này mà phải di chuyển chỗ ở thì
được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:
1. Bồi thường bằng nhà ở
2. Bồi thường bằng đất ở
3. Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới” (Điều 4)
Có thể thấy, quy định trên mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra các hình thức TĐC mà
chưa chỉ rõ nội hàm của “TĐC”. Các nhà làm luật mới chỉ liệt kê được các hình thức TĐC
mà chưa định nghĩa được TĐC là gì.
Bởi vậy, trong thực tế, có một số tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về
TĐC.
Theo tác giả Nguyễn Quang Tuyến, “TĐC là việc người sử dụng đất được bố trí nơi

quả pháp lý của hành vi thu hồi đất của Nhà nước.
TĐC có các đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, TĐC là việc giải quyết hậu quả pháp lý của một hành vi hành chính của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi họ ra quyết định thu hồi đất ở của người đang sử
dụng đất
Thứ hai, về đối tượng, TĐC chỉ áp dụng đối với trường hợp người sử dụng đất ở bị
Nhà nước thu hồi đất ở và phải di chuyển chỗ ở;
Thứ ba, mục đích của TĐC là nhằm giải quyết chỗ ở mới cho người bị thu hồi đất
và phải di chuyển chỗ ở để giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống và sinh hoạt.
Đây là mục đích xuyên suốt trong chính sách, pháp luật về TĐC. Việc di chuyển
chỗ ở đã tạo ra sự xáo trộn lớn trong cuộc sống của người dân bị thu hồi đất, thậm chí
trong rất nhiều trường hợp nó đã tạo ra những bất lợi lớn cho người được TĐC khi chỗ ở
mới không phù hợp với tập quán sinh hoạt, nghề nghiệp cũ của họ. Bởi vậy, để đảm bảo
lợi ích của những đối tượng được TĐC, Đảng và Nhà nước luôn quán triệt nguyên tắc
TĐC là chỗ ở mới phải tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ.
Thứ tư, TĐC không phải là một biện pháp chế tài của Nhà nước áp dụng đối với
người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật đất đai mà là nghĩa vụ của Nhà nước đối
với người bị thu hồi đất ở và phải di chuyển chỗ ở.
1.1.2. Phân loại TĐC
TĐC là một chính sách nhất quán của Nhà nước được áp dụng thống nhất trên phạm
vi cả nước. Trên cơ sở các quy định của Nhà nước, các địa phương ban hành các quy định
phù hợp với thực tế của địa phương mình. Có thể nói, TĐC không phải là một chính sách
đơn nhất, áp dụng cứng nhắc ở mọi địa phương như nhau. Bởi lẽ, ở các địa phương khác
nhau có sự khác biệt rõ nét về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội…,
dẫn đến việc giải quyết vấn đề nhà ở TĐC ở các địa phương là không giống nhau. Trong
quá trình tìm hiểu về TĐC, có thể nhận thấy một đặc thù là việc giải quyết TĐC ở đô thị có
các hình thức đa dạng hơn so với ở khu vực nông thôn. Ở khu vực đô thị việc giải quyết
TĐC có thể bằng nhiều hình thức khác nhau, trong khi ở khu vực nông thôn hầu như chỉ áp
dụng hình thức TĐC bằng đất ở.
Đối với đất đô thị, đất bị thu hồi là đất ở thì được bồi thường bằng tiền, nhà ở chung

1.1.3.1 Một số vấn đề khái quát về thu hồi đất:
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Chế
độ sở hữu này khác hoàn toàn so với chế độ tư hữu đất đai được thừa nhận ở nhiều quốc
gia trên thế giới. Xuất phát từ điểm khác biệt cơ bản này mà việc thu hồi đất ở nước ta
cũng có nhiều điểm đặc thù.
- Khái niệm thu hồi đất:
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy
định của Luật Đất đai (Khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai 2003). Như vậy, thu hồi đất là một
biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ cho lợi ích của Nhà
nước, của xã hội, hoặc xử lý vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất. Hình thức
pháp lý của thu hồi đất được thể hiện bằng một quyết định hành chính của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền.
- Đặc trưng của thu hồi đất:
Thứ nhất, thu hồi đất là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm
chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng đất
Thứ hai, thu hồi đất là quyết định hành chính thể hiện quyền lực Nhà nước nhằm
thực thi một trong những nội dung của quản lý Nhà nước về đất đai
Thứ ba, việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện
pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử
dụng đất
- Các trường hợp thu hồi đất:
Như đã nói ở trên, thu hồi đất là quyết định hành chính của người có thẩm quyền
nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng đất. Như vậy, có thể thấy tất cả các
trường hợp thu hồi đất đều dẫn tới một hệ quả như nhau là quyền sử dụng đất bị chấm dứt.
Tuy nhiên, các trường hợp thu hồi đất trên thực tế lại có sự khác nhau về bản chất pháp lý,
cụ thể như sau:
- Nhóm thứ nhất: các trường hợp thu hồi đất do nhu cầu của Nhà nước, của xã hội
Đây là các trường hợp thu hồi đất không do lỗi của người sử dụng đất gây ra mà do
nhu cầu của Nhà nước, của xã hội để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi

Như vậy, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, TĐC chỉ đặt ra đối với nhóm trường hợp thu
hồi đất do nhu cầu của Nhà nước và xã hội để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích công cộng, phát triển kinh tế. Có thể thấy cách tiếp cận thu hồi đất ở góc độ này
giống với quan điểm về thu hồi đất của Ngân hàng Thế giới: Thu hồi đất – là quá trình
trong đó một cá nhân, hộ gia đình, công ty hoặc cơ sở tư nhân bị một cơ quan Nhà nước
buộc chuyển giao một phần hoặc toàn bộ đất đai mà họ sở hữu hoặc chiếm hữu sang cho
cơ quan Nhà nước đó sử dụng hoặc chiếm hữu vì các mục đích công và được bồi thường
với mức chi phí thay thế [23, tr.5]. Sở dĩ hậu quả pháp lý của hành vi thu hồi đất của Nhà
nước trong trường hợp này khác hẳn so với các nhóm trường hợp thu hồi đất còn lại là do
ở trường hợp này người sử dụng đất không có bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật đất đai
nào, cũng như không hề có bất kỳ một lý do đương nhiên nào dẫn đến việc chấm dứt quyền
sử dụng đất của họ. Theo quy định, quyền sử dụng đất của họ đang được pháp luật bảo vệ.
Bởi vậy, khi Nhà nước thu hồi đất của họ thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường, hỗ
trợ và trong một số trường hợp phải bố trí TĐC cho họ nếu họ phải di chuyển chỗ ở.
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy TĐC là một trong các trách nhiệm hậu thu
hồi đất của Nhà nước. TĐC là hậu quả pháp lý của hành vi thu hồi đất của Nhà nước.
Trong phạm vi nghiên cứu vấn đề TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, chỉ khi có hành vi thu
hồi đất mới phát sinh vấn đề TĐC. Hay nói cách khác, thu hồi đất chính là tiền đề, là điều
kiện đầu tiên, quan trọng nhất để công tác TĐC được tiến hành. Tuy nhiên, cần phải xác
định rõ hành vi thu hồi đất chỉ là điều kiện cần; người bị thu hồi đất để được TĐC còn cần
đáp ứng được một số điều kiện đủ khác.
1.1.4. Khái quát về chủ trương, chính sách TĐC của Đảng:
1.1.4.1 Sự cần thiết của việc xây dựng chính sách TĐC:
Ở bất kỳ quốc gia nào, đất đai cũng được đánh giá là tài nguyên quốc gia vô cùng
quan trọng, là tư liệu sản xuất không thể thay thế. Ý thức được tầm quan trọng của đất đai,
kể từ khi thành lập, Đảng ta đã luôn chú trọng đến vấn đề này. Trải qua các giai đoạn lịch
sử khác nhau, Đảng ta luôn kịp thời đề ra các chủ trương, chính sách đất đai cho phù hợp
với những thay đổi, phát triển của cách mạng Việt Nam. Bởi lẽ “đất đai là hàng hóa đặc
biệt, là nguồn nội lực và là nguồn vốn to lớn, rất quý của đất nước, có ý nghĩa kinh tế,
chính trị, xã hội sâu sắc” [21, tr3]

- Chính sách đất đai phải đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người đầu tư và
người sử dụng đất, trong đó cần chú trọng đúng mức lợi ích của Nhà nước, của xã hội.
- Nhà nước có quyền thu hồi đối với đất nông nghiệp được quy hoạch vào mục đích
xây dựng đô thị, kết cấu hạ tầng;
- Cần thực hiện các biện pháp phát triển ngành nghề, đào tạo nghề để tạo việc làm,
đổi mới cơ chế sản xuất nông nghiệp và những biện pháp hỗ trợ khác để giải quyết một
cách cơ bản việc làm và thu nhập cho người nông dân có đất bị thu hồi để sử dụng vào
mục đích công cộng, phát triển kinh tế - xã hội;
- Khi Nhà nước thu hồi đất mà cá nhân hoặc tổ chức đang sử dụng hợp pháp để
phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển sản
xuất – kinh doanh, Nhà nước thực hiện chế độ bồi thường, TĐC, đào tạo nghề và hỗ trợ
việc làm. Nhà nước không bồi thường đối với đất lấn chiếm, đất sử dụng không hiệu quả,
không đúng mục đích;
- Chính phủ quy định khung giá đất cho từng địa bàn, trong từng thời gian (có điều
chỉnh theo tình hình thực tế) và nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất. UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương quy định giá cụ thể làm căn cứ bồi thường khi thu hồi đất;
- Phải lập và xây dựng khu TĐC trước khi thu hồi đất đối với những dự án thu hồi
đất đang sử dụng; đồng thời chú trọng đào tạo để chuyển đổi nghề cho lao động TĐC. Việc
bồi thường, hỗ trợ, TĐC và đào tạo việc làm theo nguyên tắc “bảo đảm cho người bị thu
hồi đất đến chỗ ở mới có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”;
- Nhà nước có quy hoạch tổng thể về sử dụng đất trên địa bàn cả nước, tạo điều kiện
cho các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch đồng bộ việc bồi thường, TĐC và hỗ trợ đào
tạo việc làm khi thu hồi đất;
Như vậy, Nghị quyết số 26/NQ-TƯ đã đề ra quan điểm, đường lối khá đầy đủ và
toàn diện về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Quan điểm,
đường lối này có ý nghĩa hết sức quan trọng và đã được Luật Đất đai 2003 thể chế hóa, tạo
cơ sở pháp lý cho việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất.
1.1.4.3. Ý nghĩa của chính sách TĐC
- Đối với người dân thuộc đối tượng TĐC
Đối với mỗi người, không chỉ là người dân Việt Nam mà tất cả con người trên thế

thực hiện dự án làm hoạt động kinh doanh của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bởi vậy,
chính sách về bồi thường thiệt hại nói chung và TĐC nói riêng có ý nghĩa không nhỏ đối
với các nhà đầu tư. Một chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC tốt sẽ đẩy nhanh tiến độ giải
quyết các công việc này. Qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh của họ được tiến
hành theo đúng kế hoạch đề ra.
- Đối với Nhà nước:
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và
thống nhất quản lý. Thẩm quyền tiến hành thu hồi đất thuộc về Nhà nước. Thẩm quyền này
một mặt là quyền hạn của Nhà nước trong việc quản lý quỹ đất để tiến hành các hoạt động
của mình, mặt khác cũng là trách nhiệm nặng nề của Nhà nước khi mà việc thực hiện công
tác thu hồi đất trên thực tế rất khó khăn. Đối với những trường hợp thu hồi đất mà phải
thực hiện TĐC thì công việc càng khó khăn hơn vì chỉ khi việc bố trí TĐC được thu xếp ổn
định thì mới có thể thu hồi đất. Bởi vậy, chính sách TĐC hợp lý sẽ giúp cho công tác thu
hồi đất được thực hiện nhanh chóng hơn, nhờ đó giúp Nhà nước giảm được áp lực trong
công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC.
Mặt khác, một chính sách TĐC tốt cũng giúp cho Nhà nước nhận được sự đồng
thuận của người dân trong công tác bồi thường, TĐC. Từ đó góp phần cải thiện mối quan
hệ vốn căng thẳng giữa Nhà nước và người dân trong lĩnh vực đất đai nói chung và bồi
thường, hỗ trợ, TĐC nói riêng; tạo điều kiện để các chính sách được ban hành sau đó được
người dân tiếp nhận dễ dàng hơn.
Bên cạnh đó, chính sách TĐC tốt còn góp phần làm cho môi trường đầu tư hấp dẫn
hơn, thu hút được nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài nhiều hơn. Qua đó,
thúc đẩy phát triển kinh tế nước nhà.
Tóm lại, chính sách TĐC có ý nghĩa quan trọng đối với cả Nhà nước, người được
TĐC và nhà đầu tư. Nếu chính sách TĐC đề ra hợp lý, đảm bảo được lợi ích của các chủ
thể liên quan sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội.
1.1.5. Các yêu cầu cơ bản đối với công tác TĐC
TĐC là quan hệ được đặt ra giữa Nhà nước và người có đất bị thu hồi phải di
chuyển chỗ ở. Tuy nhiên, “sức nóng” của vấn đề này không chỉ ảnh hưởng tới các bên chủ
thể liên quan mà được cả xã hội quan tâm. Chính bởi vấn đề này có tác động lớn tới quyền

Đối với bất kỳ hoạt động nào, lợi ích kinh tế chính là một trong những vấn đề mà
những chủ thể liên quan quan tâm nhất; và công tác TĐC không phải là ngoại lệ. Bởi vậy,
công tác TĐC phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản nhằm thỏa mãn lợi ích kinh tế của
các chủ thể.
Đối với người bị thu hồi đất, yêu cầu cơ bản đối với công tác TĐC là phải bố trí cho
họ nơi ở mới thích hợp, đảm bảo theo nguyên tắc “nơi ở mới phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở
cũ”. Tất nhiên việc bố trí TĐC không thể thực hiện theo hình thức đền bù ngang nhau,
nghĩa là bố trí TĐC theo đúng diện tích, giá trị địa lí… như phần đất ở bị thu hồi. Tuy
nhiên, về cơ bản phải xác định đúng giá trị và có phương án bồi thường, TĐC tương xứng.
Có như vậy mới đảm bảo được lợi ích kinh tế cho người có đất bị thu hồi, tạo được sự
đồng thuận trong dân.
Đối với nhà đầu tư, công tác TĐC phải được thực hiện theo đúng kế hoạch, thời
gian đề ra. Khi đó, dự án đầu tư của họ không bị cản trở, vướng mắc, tạo thuận lợi cho hoạt
động kinh doanh của họ.
Về phía Nhà nước, yêu cầu đặt ra đối với công tác TĐC là việc thực hiện phải
nhanh chóng, kịp thời, phù hợp với nguyện vọng của người dân; đồng thời công tác TĐC
cũng phải được thực hiện với chi phí thấp nhất có thể. Nếu các yêu cầu này được thực
hiện, Nhà nước vừa đạt được sự đồng thuận của người dân, vừa tạo ra môi trường đầu tư
hấp dẫn để thu hút đầu tư. Hơn nữa, gánh nặng ngân sách cũng bị giảm thiểu đáng kể.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, khi mà “việc thu hồi đất để thực hiện các dự án
phát triển kinh tế vẫn là một trong các vấn đề nổi cộm ở phần lớn các địa phương và là một
trong các nguyên nhân chủ yếu làm chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư, gây nên
những bức xúc cả cho người sử dụng đất, nhà đầu tư và chính quyền có trách nhiệm thu
hồi đất [36, tr.4] thì việc thực hiện các yêu cầu đặt ra đối với công tác TĐC là một tất yếu
khách quan. Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó đòi hỏi phải có một quá trình lâu dài
thực hiện cải cách đồng bộ về hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật ở nước ta.
1.2. Pháp luật về TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1. Khái niệm pháp luật về TĐC
“Một nhà nước văn minh có nhiệm vụ tạo ra an toàn mọi mặt cho dân chúng, trong
đó có cả an toàn về pháp lý. Pháp luật phải đảm bảo cho quyền tự do của dân chúng không

sống mới là những vấn đề luôn được người bị Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở
quan tâm” [15, tr.32] thì việc nơi bố trí TĐC có thể đáp ứng được cơ bản nguyện vọng của
người dân là một điều hết sức có ý nghĩa. Khi đó, họ mới có thể yên tâm với cuộc sống
mới, mới có thể “lạc nghiệp” sau khi được “an cư”.
Như vậy, pháp luật về TĐC không chỉ đơn thuần là một chế định pháp luật về lĩnh
vực đất đai mà còn là một bộ phận chính sách an sinh xã hội đối với người dân sau thu hồi
đất, thể hiện được bản chất “của dân, do dân, vì dân” của Nhà nước.
1.2.2. Điều chỉnh pháp luật về TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 2003:
Trong lịch sử lập pháp của nước ta, vấn đề thu hồi đất đã được quy định khá sớm tại
một số văn bản như: Nghị định 151/TTg ngày 14/5/1959 của Hội đồng Chính phủ quy định
về Thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất; Thông tư 1972/TTg ngày 11/1/1970 quy định
một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa màu cho
nhân dân xây dựng các vùng kinh tế, mở rộng thành phố… Những văn bản này đã bước
đầu quy định về đền bù về đất và tài sản trên đất; về một số biện pháp hỗ trợ khi Nhà nước
trưng dụng đất. Ngày 29/12/1987, Quốc hội khóa VIII thông qua Luật Đất đai, trong đó có
quy định đền bù thiệt hại khi thu hồi đất. Tuy nhiên, trong thời kỳ này, vấn đề TĐC chưa
được đề cập đến.
Năm 1992 Hiến pháp mới được ban hành thay thế Hiến pháp năm 1980. Lần đầu
tiên vấn đề đền bù, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được quy định trong văn bản có hiệu
lực pháp lý cao nhất. Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1992, ngày 14/7/1993 Quốc
hội khóa IX thông qua Luật Đất đai 1993 thay thế cho Luật Đất đai 1987. Với sự ra đời của
Luật Đất đai 1993, vấn đề TĐC chính thức được ghi nhận. Thời gian sau đó, các cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền tiếp tục ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
1993.
1.2.2.2 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay:
Sau 10 năm thực hiện, các văn bản pháp luật trên đây đã phần nào phát huy được
hiệu quả, góp phần vào việc thực hiện chính sách đất đai nói chung và chính sách bồi
thường, TĐC nói chung. Tuy nhiên, có một thực tế là Luật Đất đai 1993 và các văn bản
hướng dẫn thực hiện trong quá trình thi hành đã bộc lộ rất nhiều điểm vướng mắc, đặc biệt

và Bộ Tài nguyên Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định
84/2007/NĐ-CP;
9. Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về
quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, và TĐC (sau đây gọi tắt là
Nghị định 69/2009/NĐ-CP);
10. Thông tư 14/2009/TT-TNMT ngày 16/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, TĐC và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho
thuê đất (sau đây gọi tắt là Thông tư 14/2009/TT-TNMT);
Như vậy, song hành với sự phát triển của pháp luật đất đai, các quy định về bồi
thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất luôn được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện
nhằm xử lí hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và
chủ đầu tư. “Ở một chừng mực nhất định, các quy định này đã đạt được mục đích nêu trên
và tạo ra quỹ đất sạch đáp ứng nhu cầu sử dụng của xã hội và góp phần vào việc thực hiện
thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ở từng thời kỳ lịch sử” [5,
tr.13-14].
Pháp luật hiện hành về TĐC khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: Các nguyên tắc
TĐC; đối tượng TĐC; các hình thức TĐC; điều kiện đối với các khu TĐC; trình tự thực
hiện công tác TĐC; trách nhiệm của các cấp, các ngành và chủ đầu tư; giải quyết các khiếu
kiện liên quan đến công tác TĐC…
Kết luận chương 1
Trên đây người viết đã tập trung phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận chung nhất về
TĐC cho người dân bị mất đất ở khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm: (i) Các vấn đề chung
về TĐC; (ii) Pháp luật về TĐC khi Nhà nước thu hồi đất. Qua việc phân tích này, người
viết đã cố gắng làm rõ các vấn đề cơ bản về công tác TĐC – một phạm trù nghiên cứu mới
mà chưa nhiều tác giả nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện. Đồng thời chúng tôi cũng
đưa ra cái nhìn tổng quát về pháp luật TĐC qua các thời kỳ, qua đó thấy được nỗ lực của
Nhà nước ta trong việc điều chỉnh các quan hệ đất đai nói chung và bồi thường, TĐC nói
riêng; cũng như thấy được bước phát triển của pháp luật về TĐC.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT - NGHIÊN CỨU CỤ THỂ TẠI

2.1.2 Đối tượng TĐC:
* Các đối tượng thuộc diện được bố trí TĐC:
Theo quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ,
TĐC khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế bao gồm: “tổ chức, cộng đồng dân cư,
cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ
chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi chung là
người sử dụng đất)” (Khoản 1 Điều 2).
Tuy nhiên, không phải tất cả các đối tượng thuộc diện nêu trên đều được bố trí
TĐC. Theo quy định tại Điều 18 Thông tư 14/2009/TT-BTNMT, các trường hợp sau đây
được bố trí TĐC khi Nhà nước thu hồi đất:
- Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ
ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia
đình, cá nhân không có nhu cầu TĐC);
- Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau khi bị thu
hồi không đủ điều kiện để ở theo quy đinh của UBND cấp tỉnh mà không có chỗ ở nào
khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi;
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng
công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở
nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi;
- Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ (nhiều cặp vợ chồng cùng sinh sống)
đủ điều kiện tách hộ hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một thửa đất ở bị
thu hồi thì UBND cấp tỉnh căn cứ điều kiện thực tế tại địa phương để quy định diện tích
đất, diện tích nhà ở để bố trí TĐC.
* Quyền và nghĩa vụ của người được bố trí TĐC:
Về quyền: người được TĐC có các quyền sau:
- Đăng ký đến ở nơi TĐC bằng văn bản;
- Được ưu tiên đăng ký hộ khẩu cho bản thân, các thành viên khác trong gia đình về
nơi ở mới và được ưu tiên chuyển trường cho các thành viên trong gia đình trong độ tuổi đi
học;

người dân được lựa chọn. Hình thức TĐC này áp dụng trong trường hợp người bị thu hồi
đất không có nhu cầu được TĐC bằng nhà ở, hoặc đất ở mà muốn nhận tiền để tự lo nơi ở
cho mình.
2.1.4 Điều kiện đối với các khu TĐC
- Khu TĐC phải xây dựng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tiêu chuẩn
và quy hoạch xây dựng.
Đây là một điều kiện đầu tiên vô cùng quan trọng đối với các khu TĐC. Nếu khu
TĐC không được xây dựng đúng với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có thể dẫn đến tình
trạng sau khi đưa vào sử dụng một thời gian có thể lại tiếp tục bị di dời để phục vụ cho các
công trình, các dự án khác. Mặt khác, khu TĐC được xây dựng đúng theo quy hoạch sử
dụng đất đồng nghĩa với việc nó đã được đặt trong một khu vực có quy hoạch hệ thống hạ
tầng xã hội phục vụ cho các nhu cầu cần thiết của người dân, nhờ đó cuộc sống của họ
được đảm bảo hơn.
- Khu TĐC phải được sử dụng chung cho nhiều dự án
Hiện nay, tình trạng thiếu quỹ đất, quỹ nhà TĐC đang diễn ra và sẽ tiếp tục tiếp diễn
trong nhiều năm tới. Trong khi đó, quỹ đất chưa sử dụng ngày càng bị thu hẹp lại. Bởi vậy,
khi quy hoạch các khu TĐC cần phải xác định không chỉ xây dựng để phục vụ một dự án
mà phải được sử dụng chung cho nhiều dự án.
- Trước khi bố trí đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân, khu TĐC phải được xây dựng
cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ.
Đây là một yêu cầu vô cùng cần thiết để đảm bảo cuộc sống sau TĐC cho người dân. Tuy
nhiên, nó rất khó thực hiện trên thực tế.
2.1.5 Bồi thường đất ở đối với những người đồng quyền sử dụng sử dụng đất:
Đây là vấn đề lần đầu tiên được đề cập trong Nghị định 197/2004/NĐ-CP nhằm tạo
cơ sở pháp lí để giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện xung quanh việc bồi thường đất ở đối
với những người đang đồng quyền sử dụng đất, cụ thể:
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất chung có đồng quyền sử dụng đất,
khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường theo diện tích đất thuộc quyền sử dụng; nếu
không có giấy tờ xác định diện tích đất thuộc quyền sử dụng riêng của tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân thì bồi thường chung cho các đối tượng có đồng quyền sử dụng đất.

các bước sau: (i) Lập, thẩm định và phê duyệt phương án TĐC; (ii) Công khai phương án
TĐC; (iii) Chi trả bồi thường, hỗ trợ và TĐC.
Phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và TĐC là một nội dung của dự án đầu tư
được nhà đầu tư lập và được phê duyệt cùng với phê duyệt tự án đầu tư. Trường hợp dự án
đầu tư không phải trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc không phải cấp
Giấy chứng nhận đầu tư thì UBND cấp huyện nơi có đất có trách nhiệm xem xét, chấp
thuận về phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và TĐC. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng giúp nhà đầu tư lập phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ
và TĐC. Nội dung phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và TĐC bao gồm: (i) Diện
tích các loại đất dự kiến thu hồi; (ii) Tổng số người sử dụng đất trong khu vực dự kiến thu
hồi đất; (iii) Dự kiến số tiền bồi thường, hỗ trợ; (iv) Việc bố trí TĐC (dự kiến về nhu cầu,
địa điểm, hình thức TĐC); (v) Dự kiến thời gian và kế hoạch di chuyển, bàn giao mặt
bằng.
Sau khi dự án đầu tư được phê duyệt, căn cứ quy mô thu hồi đất để thực hiện dự án
đầu tư, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư có thể quyết định tách nội dung bồi
thường, hỗ trợ, TĐC thành tiểu dự án riêng và tổ chức thực hiện độc lập (K1Đ33 NĐ69).
Thời điểm tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, TĐC thành tiểu dự án riêng là thời điểm chấp
thuận hoặc xét duyệt dự án đầu tư. Tiểu dự án đầu tư sau khi được phê duyệt được thực
hiện độc lập nhưng phải phù hợp với tiến độ thực hiện của dự án đầu tư (Đ21 TT14/2009).
* Lập, thẩm định và phê duyệt phương án TĐC:
Căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, UBND cấp tỉnh giao việc thực hiện bồi
thường, hỗ trợ, TĐC cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường gồm:
- Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và TĐC cấp huyện;
- Tổ chức phát triển quỹ đất.
Theo quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 69/2009/NĐ-CP và
Thông tư 14/2009/TT-BTNMT, phương án TĐC được thực hiện như sau:
Thứ nhất, lập phương án TĐC:
Sau khi dự án đầu tư được xét duyệt hoặc chấp thuận thì Hội đồng bồi thường, hỗ
trợ, TĐC hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm lập và trình phương án bồi
thường, hỗ trợ và TĐC theo quy định pháp luật. Nội dung phương án bồi thường, hỗ trợ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status