1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hải Dương là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm ở vị trí có nhiều hướng
tác động mang tính liên vùng, là cầu nối giữa thủ đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng. Tương lai không
xa, Hải Dương sẽ trở thành trọng điểm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương mại và trở
thành một trong các đô thị lớn trong vùng.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 145/2004/QĐ-TTg ngày 13 tháng 8 năm 2004 về phương
hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến
năm 2020 thực hiện đối với 8 tỉnh, trong đó có Hải Dương khẳng định: "Phát huy tiềm năng, lợi thế về vị trí
địa lý, hệ thống kết cấu hạ tầng để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
một cách có hiệu quả và bền vững; đi đầu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, luôn giữ
vai trò đầu tàu đối với cả vùng Bắc bộ và cả nước trong quá trình thúc đẩy, hỗ trợ các vùng khác, nhất là các
vùng khó khăn, cùng phát triển, đi đầu về hợp tác quốc tế, về thu hút đầu tư nước ngoài, kết hợp chặt chẽ giữa
phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi
trường".
Để xứng đáng với vị thế và tầm vóc của mình trong hiện tại cũng như tương lai; thời gian vừa qua
Đảng bộ, Hội đồng nhân dân và UBND tỉnh Hải Dương đã ban hành nhiều nghị quyết và văn bản về phát
triển kinh tế - xã hội, trong đó có sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Ngành Y tế Hải Dương không chỉ đảm nhận trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân
trên địa bàn tỉnh mà còn góp phần đáng kể trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân của khu vực trọng điểm kinh tế
phía Bắc (gần 18 triệu người, chiếm 22% dân số cả nước). Để thực hiện được trọng trách này, ngành Y tế Hải
Dương cần phải có một hệ thống y tế đủ mạnh, một mạng lưới y tế rộng khắp, một đội ngũ cán bộ y tế có
chất lượng cao với cơ sở và trang thiết bị hiện đại.
Trong thời kỳ đổi mới, ngành Y tế Hải Dương đã có một số chuyển
biến tích cực, mạng lưới y tế của tỉnh đã từng bước được củng cố, cơ sở vật
chất ngày càng được tăng cường, các loại hình dịch vụ y tế trong khám chữa
bệnh, phòng bệnh và cung ứng thuốc ngày càng đa dạng. Cùng với các cơ sở
của Bộ Y tế và các cơ sở Y tế của nhiều ngành khác đóng trên địa bàn tỉnh,
ngành Y tế Hải Dương đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng
các dịch vụ y tế trên phạm vi toàn tỉnh, bước đầu đáp ứng được nhu cầu chăm
Các hoạt động dịch vụ y tế trên trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
2
3
4. Phạm vi nghiên cứu
Các dịch vụ y tế cho mọi người dân trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo
các lĩnh vực, bao gồm: Y tế dự phòng - nâng cao sức khoẻ; khám chữa bệnh -
Phục hồi chức năng; y dược học cổ truyền, mạng lưới sản xuất, kiểm nghiệm,
phân phối thuốc...
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở luận về dịch vụ y tế và phát triển dịch vụ y tế trên
địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn
tỉnh Hải Dương những năm tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ y tế và kinh nghiệm phát
triển dịch vụ y tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và đất nước Singapore.
Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh
Hải Dương.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh
Hải Dương.
3
4
Chương I:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ Y TẾ
VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
luôn tồn tại các yếu tố “thất bại thị trường”, cụ thể:
Thị trường y tế không phải là thị trường tự do. Trong thị trường tự do,
giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa
người mua và người bán. Trong thị trường dịch vụ y tế không có sự thỏa
thuận này, giá dịch vụ do người bán quyết định.
Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế
nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế.
Cụ thể, muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp giấy phép hành nghề và cần
đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất. Nói một cách khác,
trong thị trường dịch vụ y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo.
Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch
vụ. Như trên đã trình bày, trên thực tế, bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật và
các chỉ định điều trị, do vậy hầu như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào các
quyết định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế (cầu do cung
quyết định). Nếu vấn đề này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới tình trạng
lạm dụng dịch vụ từ phía cung ứng, đẩy cao chi phí y tế.
Dịch vụ y tế là các dịch vụ có đặc điểm “hàng hóa công cộng” và mang
tính chất “ngoại lai”. Đặc điểm “ngoại lai” của các dịch vụ này là lợi ích
không chỉ giới hạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kể cả những
người không trả tiền (Ví dụ: các dịch vụ y tế dự phòng, giáo dục sức khỏe).
Chính điều này không tạo ra được động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất, làm
việc cung ứng các dịch vụ đó thấp. Lúc này, để đảm bảo đủ cung đáp ứng cho
5
6
cầu cần có sự can thiệp hỗ trợ của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ y tế
mang tính công cộng.
Do tính chất đặc thù của dịch vụ y tế và thị trường dịch vụ y tế, Nhà
nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và cung ứng dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ. Nhà nước cần giữ vai trò cung ứng đối với các dịch vụ y tế
“công cộng” và dịch vụ dành cho các đối tượng cần ưu tiên còn để tư nhân
trình tạo ra dịch vụ cũng chính là quá trình tiêu dùng dịch vụ. Đó là sự ảnh
hưởng mật thiết của người tiêu dùng tới sự tồn tại của dịch vụ.
Tuy nhiên, không giống các loại dịch vụ khác, dịch vụ y tế có một số
đặc điểm riêng, đó là:
- Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở các
mức độ khác nhau. Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên thường
người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được.
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng (người bệnh)
thường không tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y
tế) quyết định. Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ “Cầu quyết định
cung” trong dịch vụ y tế “Cung quyết định cầu”. Cụ thể, người bệnh có nhu
cầu khám chữa bệnh nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao
lâu lại do bác sĩ quyết định. Như vậy, người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi
điều trị, ở một chừng mực nào đó, bác sĩ điều trị chứ không được chủ động
lựa phương pháp điều trị.
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá gắn liền với sức khoẻ, tính mạng con
người nên không giống các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền
nhưng người ta vẫn phải mua (khám chữa bệnh) đây là đặc điểm đặc biệt
không giống các loại hàng hóa khác.
- Dịch vụ y tế nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt
7
8
trong tình trạng cấp cứu: Không thể chờ đợi được và chấp nhận dịch vụ bằng
mọi giá.
- Bên cung cấp dịch vụ có thể là một tổ chức hay cũng có thể là một cá
nhân. Để được là bên cung cấp dịch vụ y tế thì phải có giấy phép hành nghề
theo quy định của Nhà nước.
1.1.2 Phân loại dịch vụ y tế:
a. Phân loại theo đối tượng phục vụ: Có ba loại dịch vụ y tế: dịch vụ y
tế công cộng (public good), dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu
- Các dịch vụ nha khoa và y tế: Các dịch vụ chủ yếu nhằm mục đích dự
phòng, chẩn đoán và chữa bệnh qua tham vấn với các bệnh nhân mà không có
chăm sóc tại bệnh viện...
- Các dịch vụ do hộ sinh, y tá, vật lý trị liệu và nhân viên kỹ thuật y tế
cung cấp: Các dịch vụ như giám sát trong thai kỳ và sinh con... chăm sóc
(không nhập viện), tư vấn và dự phòng cho bệnh nhân tại gia.
- Các Dịch vụ bệnh viện: Các dịch vụ được cung cấp theo chỉ dẫn của
bác sỹ chủ yếu đối với các bệnh nhân nội trú nhằm mục đích chữa trị, phục
hồi và/hoặc duy trì tình trạng sức khoẻ...
- Các dịch vụ y tế con người khác: Các dịch vụ ngoại trú; Các dịch vụ y
tế kèm nơi ở thay vì các dịch vụ bệnh viện.
1.1.3 Tổ chức hoạt động dịch vụ y tế
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết các hoạt động
dịch vụ y tế để đạt được tính công bằng và tính hiệu quả trong nền kinh tế xã
hội. Các chính sách của Nhà nước nhằm đảm bảo kiểm soát các dịch bệnh lây
lan, khuyến khích sự phát triển của khoa học. Bảo vệ người tiêu dùng tránh
mua phải những dịch vụ không cần thiết, chất lượng kém hoặc chi phí cao.
Sức khoẻ tốt đang ngày càng được xem như một quyền cơ bản của con
9
10
người trong xã hội. Đảm bảo sức khoẻ tốt cho mọi người là việc rất cần thiết của
Chính phủ. Hiện nay ở Việt nam đang lấy dịch vụ y tế Nhà nước làm chủ đạo và
phát triển từng bước hợp lý dịch vụ y tế tư nhân. Nhà nước nắm trong tay nguồn
nhân lực y tế, đặc biệt là y tế cơ sở tuyến huyện, tuyến xã và thôn bản. Nhà nước
lấy nguồn NSNN làm nguồn tài chính chủ yếu cho y tế để chủ động điều chỉnh
kinh phí cho vùng nghèo và các đối tượng nghèo cũng như các đối tượng hưởng
chính sách (những người có công với nước), thực hiện công bằng xã hội trong
chăm sóc sức khoẻ và giải quyết những việc bức bách, cấp thiết của các dịch vụ
hoặc những hậu quả do thiên tai, thảm hoạ gây ra... Trong giai đoạn hiện nay,
nhiệm vụ của khu vực y tế công là đảm bảo ba mục tiêu lớn:
tốt nhất cho việc sử dụng các nguồn lực. Bất kể quốc gia nào, nguồn lực dành cho
y tế luôn hạn hẹp và luôn phải cạnh tranh với lĩnh vực khác. Với mục đích như
vậy, kiểm tra và đánh giá hoạt động dịch vụ y tế là vấn đề không thể thiếu trong
hoạt động dịch vụ y tế, song các phương pháp kiểm tra và đánh giá trở lên phức
tạp vì dịch vụ y tế là hàng hoá công cộng được cung cấp cho tất cả mọi người
trong xã hội nên không có giá cả trong thị trường.
Các phương pháp đánh giá kinh tế không phải là phương tiện thay thế
quá trình ra quyết định. Đánh giá hoạt động dịch vụ y tế chỉ là một trong
những phương tiện có sẵn và có ích làm cho sự lựa chọn trở lên rõ ràng hơn,
tạo cho chúng ta khả năng sử dụng tốt nhất nguồn lực khan hiếm.
Để kiểm tra và đánh giá hoạt động dịch vụ y tế, những câu hỏi chung
thường được đặt ra và cần được trả lời:
- Chúng ta nên làm gì, làm như thế nào và làm gì cho ai?.
- Nguồn lực nào cho từng hoạt động dịch vụ y tế?.
- Chi phí bao nhiêu?.
- Có các mối liên hệ nào với các dịch vụ y tế khác nhau?.
11
12
- Người dân sẽ được hưởng những gì từ hoạt động này?.
Trả lời cho những câu hỏi trên thường bị ảnh hưởng bởi việc ước tính
về giá trị thực của những hoạt động được đề ra. Để đánh giá đúng, các câu hỏi
thường đặt ra:
- Với các nguồn lực đang sử dụng thì dịch vụ y tế và trương trình y tế
đang được thực hiện có giá trị hơn là các chương trình khác mà chúng ta đã
bỏ qua không?.
- Cách sử dụng nguồn lực để cung cấp dịch vụ y tế, thực hiện chương
trình y tế đã phù hợp chưa?.
Do vậy đánh giá hoạt động dịch vụ y tế là công cụ giúp nhà hoạch định
chính sách và nhà kế hoạch ra quyết định nhằm tối ưu hoá lợi ích và hiệu quả
cho xã hội đã được phân bổ.
quốc tế - một cuộc cạnh tranh tuy công bằng nhưng vô cùng khốc liệt. Ngành
y tế Việt Nam nói chung và dịch vụ y tế của Việt Nam không nằm ngoài cuộc
cạnh tranh này.
Sự đối mặt đầu tiên với cạnh tranh quốc tế của dịch vụ y tế sau khi Việt
Nam gia nhập WTO là ngày càng nhiều những người bệnh thu nhập cao ra
nước ngoài khám và chữa bệnh. Số lượng này ngày càng tăng, lúc đầu chủ
yếu từ các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, sau này thêm
người bệnh từ các tỉnh khác như Nam Định, Ninh Bình, Lạng Sơn… Thành
phần người bệnh cũng rất đa dạng, từ các vị lãnh đạo cao cấp trong Chính
phủ, tới các doanh nhân và công chức. Nhu cầu dịch vụ y tế của người dân
cũng rất đa dạng, từ kiểm tra sức khỏe định kỳ tới điều trị ung thư, phẫu thuật
cho tới thẩm mỹ, chăm sóc sắc đẹp.
Nếu cách đây 10 năm trở về trước, “xuất ngoại” là việc lớn của hầu hết
các gia đình Việt Nam thì “xuất ngoại” đi chữa bệnh lại càng là chuyện lạ. Thì
13
14
nay, đó lại trở nên bình thường khi đời sống của người dân ngày càng tăng.
Việc cấp hộ chiếu trong nước ngày càng phổ biến, nhanh chóng và thuận tiện.
Hàng rào visa đã hoàn toàn xóa bỏ trong khối ASEAN và sắp tới có thể với
nhiều quốc gia khác. Sự ra đời gần đây của các hãng hàng không giá rẻ càng
làm cho việc đi lại trở nên thuận tiện. Với sự vĩ đại của công nghệ thông tin,
các bệnh nhân Việt Nam có thể tiếp cận rất dễ dàng với các chuyên gia y tế
hàng đầu khu vực và quốc tế qua email và internet để hỏi ý kiến chuyên môn
và chẩn đoán.
Trong khi đó, cung cấp dịch vụ y tế nói chung và đặc biệt là dịch vụ y tế
chất lượng cao trong nền kinh tế thị trường là thoả mãn nhu cầu của khách hàng
vẫn là khái niệm mơ hồ đối với nhiều bệnh viện tại Việt Nam, đặc biệt tại các
bệnh viện công. Không nói quá khi nhiều bệnh viện công lập tỏ thái độ không
cần bệnh nhân vì lúc nào họ cũng trong tình trạng quá tải. Nếu phải làm dịch vụ
y tế chất lượng cao, họ chỉ quan tâm tới việc trang bị tivi, tủ lạnh, máy điều hoà
hợp với điều kiện kinh tế địa lý, môi trường sinh thái và nhu cầu khám chữa
bệnh của từng vùng. Đảm bảo đến năm 2010, tại 100% các trạm y tế xã vùng
đồng bằng, trung du và 50% số trạm y tế xã vùng miền núi, vùng sâu có bác
sỹ... Nhà nước có trách nhiệm đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho các đối
tượng này. Phát triển đội ngũ tình nguyện viên y tế tại các thôn ấp miền đồng
bằng. Tăng cường công tác quản lý y tế cơ sở, triển khai các giải pháp quản lý
mới đạy hiệu quả cao hơn như giải pháp lồng ghép chăm sóc trẻ ốm, nâng cao
năng lực điều hành chăm sóc sức khoẻ ban đầu dựa vào cộng đồng...
1.2.2.2 Phát triển dịch vụ y tế dự phòng, nâng cao sức khoẻ nhân dân
Nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng từ TW đến cơ sở, đặc biệt là
các Trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh và đội vệ sinh phòng dịch của các
huyện, quận. Củng cố các khoa y tế lao động và thành lập các phòng khám
15
16
bệnh nghề nghiệp tại các tỉnh thành trọng điểm công nghiệp. Hoàn thiện mạnh
lưới quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; kiện toàn hệ thống thanh
tra liên ngành.
Thực hiện các mục tiêu Chương trình Quốc gia thanh toán một số bệnh
xã hội và dịch bệnh nguy hiểm, phấn đấu đến năm năm 2010: Giảm số mắc
sốt rét xuống dưới 200 ca /100.000 dân; khống chế, tiến tới giảm tỷ lệ số lao
mới mắc và và tổng số lao mới mắc và tổng số bệnh nhân còn 70% so với
năm 2000...
Chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh, không để dịch lớn
xảy ra. Củng cố hệ thống báo cáo, giám sát dịch tễ, hiện đại hoá hệ thống
quản lý số liệu để có các thông tin kịp thời cho việc xử lý các vụ dịch. Lãnh
đạo chính quyền tỉnh, thành phố có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, cung cấp
nguồn lực, huy động các ban ngành, đoàn thể và nhân dân tham gia phòng
chống dịch và các chương trình như cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường...
Triển khai thực hiện rộng rãi các trương trình phòng chống các bệnh
không nhiễm trùng như: tim mạch, ung thư, đái tháo đương....
và chữa bệnh.
1.2.2.4 Phát triển y dược học cổ truyền
Củng cố và phát triển hệ thống YDHCT từ trung ương đến trạm y tế xã
phường. Tăng cường đào tạo cán bộ chuyên sâu và phổ cập về YDHCT. Tập
trung nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu kết hợp, xác định những bệnh ưu
tiên chữa bằng y học cổ truyền để hướng dẫn các cơ sở điều trị. Phát triển
vườn thuốc nam và các kỹ thuật không dùng thuốc như châm cứu, bấm
huyệt... có chính sách cụ thể về tăng cường sử dụng thuốc YHCT.
1.2.2.5 Phát triển công nghệ dược
Tiếp tục triển khai chính sách quốc gia về thuốc với các mục tiêu cơ
17
18
bản là đảm bảo cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người
dân, thực hiện sử dụng thuốc an toàn hợp lý. Củng cố và kiện toàn hệ thống tổ
chức quản lý Nhà nước về dược từ trung ương đến địa phương.
Quy hoạch và tổ chức lại ngành công nghiệp dược theo hướng tập
trung, chuyên môn hoá và đầu tư có trọng điểm. Phát triển công nghệ sinh
học, đặc biệt là công nghệ gen, công nghệ nhân giống và cấy mô để phục vụ
cho sản xuất thuốc, sản xuất vắc xin... Tranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư nâng
cấp các công ty dược theo tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP).
1.2.2.6 Xã hội hoá công tác y tế
Đa dạng hoá các loại hình chăm sóc sức khoẻ, tìm kiếm và khai thác
các nguồn đầu tư khác nhau cho y tế như BHYT tự nguyện, viện trợ nước
ngoài... Phát triển văn hoá, xây dựng nếp sống văn minh, xoá bỏ tập quán có
hại cho sức khoẻ. Xây dựng điển hình tiên tiến về vệ sinh môi trường và an
toàn cộng đồng.
Củng cố và phát triển các trung tâm truyền thông và giáo dục sức khoẻ.
Phát triển mạng lưới tuyên truyền xuống tận tuyến xã. Phối hợp với các cấp
các ngành, các tổ chức chính trị xã hội trong công tác truyền thông giáo dục
sức khoẻ cộng đồng.
trợ, đặc biệt là các khoản viện trợ không hoàn lại cho hỗ trợ kỹ thuật và các
khoản vay ưu đãi cho đầu tư phát triển; cùng với các khoản đầu tư cá nhân và
liên doanh phù hợp với chủ trương và chính sách của Nhà nuớc. Thực hiện
việc kết hợp các nguồn viện trợ với ngân sách Nhà nước trong chiến lược
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ Nhân dân. Bên cạnh đó ngành Y tế phải nâng
cao năng lực quản lý tài chính ở các cấp, giảm bớt đầu tư bất hợp lý, tránh
thất thoát và tăng cường tiết kiệm.
Về trang thiết bị:
19
20
Trong thời gian qua, các bệnh viện tuyến tỉnh dù đã được đầu tư, nâng
cấp về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị nhưng mức đầu tư này vẫn còn thấp so
với nhu cầu thực tế. Nhiều bệnh viện mới chỉ có được 30% trên 30 loại thiết
bị y tế thiết yếu (trong tổng số trên 200 loại trang thiết bị dùng cho tuyến
tỉnh). Trong đó có đến 35% số lượng thiết bị hiện có đã sử dụng từ những
năm 1985 trở về trước. Gần 40% thiết bị được đưa vào sử dụng từ những năm
1986. Qua một thời gian dài sử dụng như vậy số trang thiết bị hiện còn sử
dụng được chỉ vào khoảng 25-30%.
Thêm nữa, trình độ đội ngũ cán bộ kỹ thuật đã quá lạc hậu so với các
nước trong khu vực nên nhiều cơ sở chưa đáp ứng kịp sự đổi mới về kỹ thuật
- công nghệ, không ít cơ sở còn chưa khai thác hết trang thiết bị hiện có. Ở
một số nơi, trang thiết bị ngoại nhập đắt tiền thậm chí vẫn được "đắp chiếu"
do... quá hiện đại với khả năng của người vận hành, sử dụng.
Để khắc phục tình trạng xuống cấp, khai thác chưa hết tính năng, công
suất hoặc không được sử dụng của TTBYT, đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá
ngành y tế, phấn đấu đạt trình độ ngang tầm với các nước trung bình trong
khu vực, cần phải:
- Kiện toàn về tổ chức và xây dựng các trung tâm dịch vụ kỹ thuật trang
thiết bị y tế, hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp quy về trang thiết bị y tế. Đầu
tư trang thiết bị y tế theo phân tuyến kỹ thuật của hệ thống phòng bệnh và
phương tiện khoa học kỹ thuật y dược hiện đại.
Phân bổ lực lượng cán bộ y tế phù hợp giữa các vùng theo nhu cầu
chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Sắp xếp lại nhân lực ở các cơ sở y tế tuyến
tỉnh, tuyến huyện để có thể điều động luân phiên các bác sỹ về tăng cường
cho y tế cơ sở. Nâng cao trình độ chuyên môn, tăng cường kỷ luật lao động và
y đức của cán bộ y tế.
21
22
1.2.3.3 Cơ chế tổ chức, điều hành và quản lý
Trình độ quản lý, cơ chế điều hành và tổ chức cán bộ có ảnh hưởng rất
lớn tới các hoạt động kinh tế xã hội trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc xây dựng một cơ chế vận hành và quản lý bộ máy nhà nước tường minh,
hiệu quả trở thành đòi hỏi bức thiết trong đời sống kinh tế xã hội.
Đối với các hoạt động dịch vụ y tế cần: Tăng cường đào tạo cán bộ
quản lý các cấp về kiến thức tổ chức và quản lý trong lĩnh vực y tế; Nâng cao
năng lực lập kế hoạch trong các lĩnh vực hoạt động của ngành y tế; Điều
hành, quản lý Nhà nước về y tế bằng pháp luật đi đôi với việc tăng cường
thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ chính sách của Nhà
nước trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Thực hiện tốt qui chế dân chủ tại tất cả các cơ sở y tế. Xây dựng phong
trào thi đua trong ngành, đặc biệt là xây dựng những đơn vị cá nhân điển hình
tiên tiến. Phong trào thi đua phải được duy trì để phát triển ngành và tăng
cường y đức.
Tiếp tục củng cố và hoàn thiện hệ thống tổ chức ngành y tế theo hướng
tinh giảm đầu mối để đạt hiệu quả cao. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện mạng
lưới tổ chức trong các lĩnh vực y tế dự phòng, khám chữa bệnh, dược và đào
tạo... Hoàn thiện cơ chế quản lý ngành từ cấp tỉnh đến cơ sở. Phát triển bệnh
viện đa khoa khu vực (liên huyện) ở những địa bàn xa trung tâm tỉnh để dưa
kỹ thuật khám chữa bệnh thích hợp xuống gần dân. Củng cố và nâng cao chất
lượng hoạt động của phòng khám đa khoa cụm liên xã tại các vùng miền núi,
Vấn đề đặt ra ở đây là, giải pháp gì khi chúng ta đang để mất một lượng
đáng kể bệnh nhân có khả năng chi trả cao?. Bao giờ các bệnh viện Việt Nam
mới đáp ứng được nhu cầu dịch vụ y tế và bao giờ các bệnh viện Việt nam có
dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế?
23
24
Theo nhận định của các chuyên gia cho rằng, để đáp ứng nhu cầu về
dịch vụ y tế của nhân dân hiện nay còn rất khó khăn chứ chưa nói đến dịch vụ
khám chữa bệnh chất lượng cao tại các bệnh viện trong nước. Song, về trình
độ chuyên môn, các bác sỹ Việt Nam được đánh giá rất cao, họ có đủ khả
năng để tiếp xúc với nền y học tiên tiến, hiện đại.
Đặc biệt, đến nay nhiều bệnh viện trong nước đã thực hiện thành công các
ca ghép nội tạng. Trong đó, kỹ thuật ghép thận đã về đến các bệnh viện tuyến
tỉnh, và có đến 5 bệnh viện tuyến trung ương có thể tiến hành ghép gan. Kỹ thuật
ghép tim đang được bệnh viện Việt Đức tiến hành nghiên cứu thực hiện…
Tuy nhiên, để ngành y tế Việt Nam phát triển với hệ thống khám chữa
bệnh chất lượng cao, chỉ chuyên môn thôi không đủ mà còn liên quan đến cả
hệ thống. Đó là các bệnh viện Việt Nam chủ yếu được xây dựng theo mô hình
bệnh viện công, vì thế luôn trong tình trạng quá tải. Đây chính là nguyên nhân
khiến cho chất lượng dịch vụ kém đi - một bác sỹ bình quân khám khoảng 20
bệnh nhân/ngày chắc chắn sẽ đủ “minh mẫn” hơn khi con số đó là 200. “Chất
lượng hay không chính là ở chỗ đó”.
Mặt khác, chi phí y tế cho một đầu người tại Việt Nam vẫn đang ở mức
quá thấp, 6 USD/người (tại Singapore, con số này là 2.000 USD, Mỹ trên 6.000
USD). Với chi phí đó, dịch vụ y tế nói chung, trang thiết bị, cơ sở vật chất nói
riêng không thể đáp ứng được nhu cầu của những người có nhiều tiền.
Để khắc phục tình trạng này, có lẽ chỉ có thể bằng cách chuyển đổi mô
hình các bệnh viện công sang viện tư, đặt kinh doanh, lợi nhuận lên hàng đầu.
Đến lúc đó, phần lớn người dân có bệnh lại không dám đến bệnh viện vì
không có khả năng chi trả.
- Cho phép cùng tổ chức một bộ phận cung cấp dịch vụ y tế cùng hạch
toán trong cơ sở y tế công.
25