Phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương. - Pdf 32

Cỏc c s y t t nhõn
S Y t
Cỏc phũng chc nng
UBND huyn
UBND xó
T.tõm giỏm nh Phỏp y
- Trung tõm giỏm nh y khoa
- BV a khoa tnh
- BV YHCT
- BV Lao & bnh phi
- BV Tõm thn
- BV éiu dng -PHCN
- BV Phong Chớ Linh
- BV Ph sn v BV Nhi
- BV Mt
- Khu Qun lý v iu tr bnh nhõn AIDS
- TT YT d phũng
- TT phũng chng HIV/AIDS
- TT CSSKSS
- TT TTGDSK
- TT Kim nghim Dc - Hoỏ m phm - Thc phm
- Cụng ty c phn Dc - Vt t y t
- Cỏc cụng ty TNHH Dc
Phũng Y t
BVK huyn
TTYTDP huyn
Ca hng Dc
Trm y t xó
Quy thuc
Y t thụn, bn
- Trng TH y t tnh nõng cp thnh trýng cao ng y t

tr thnh trng im thu hỳt u t phỏt trin cụng nghip, dch v, thng
mi v tr thnh mt trong cỏc ụ th ln trong vựng.
Quyt nh ca Th tng Chớnh ph s 145/2004/Q-TTg ngy 13
thỏng 8 nm 2004 v phng hng ch yu phỏt trin kinh t - xó hi vựng
kinh t trng im Bc B n nm 2010 v tm nhỡn n nm 2020 thc hin
i vi 8 tnh, trong ú cú Hi Dng khng nh: "Phỏt huy tim nng, li
th v v trớ a lý, h thng kt cu h tng y nhanh tc phỏt trin
kinh t - xó hi vựng kinh t trng im Bc b mt cỏch cú hiu qu v bn
vng; i u trong cụng cuc cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ t nc, luụn
gi vai trũ u tu i vi c vựng Bc b v c nc trong quỏ trỡnh thỳc
y, h tr cỏc vựng khỏc, nht l cỏc vựng khú khn, cựng phỏt trin, i u
v hp tỏc quc t, v thu hỳt u t nc ngoi, kt hp cht ch gia phỏt
trin kinh t - xó hi vi tng cng, cng c quc phũng, an ninh, trt t, an
ton xó hi, bo v mụi trng".
xng ỏng vi v th v tm vúc ca mỡnh trong hin ti cng nh
tng lai; thi gian va qua ng b, Hi ng nhõn dõn v UBND tnh Hi
Dng ó ban hnh nhiu ngh quyt v vn bn v phỏt trin kinh t - xó hi,
trong ú cú s nghip chm súc sc kho nhõn dõn.
Ngnh Y t Hi Dng khụng ch m nhn trỏch nhim chm súc v
bo v sc kho cho nhõn dõn trờn a bn tnh m cũn gúp phn ỏng k
trong chm súc sc kho nhõn dõn ca khu vc trng im kinh t phớa Bc
(gần 18 triệu người, chiếm 22% dân số cả nước). Để thực hiện được trọng
trách này, ngành Y tế Hải Dương cần phải có một hệ thống y tế đủ mạnh, một
mạng lưới y tế rộng khắp, một đội ngũ cán bộ y tế có chất lượng cao với cơ sở
và trang thiết bị hiện đại.
2
2
Trong thời kỳ đổi mới, ngành Y tế Hải Dương đã có một số chuyển
biến tích cực, mạng lưới y tế của tỉnh đã từng bước được củng cố, cơ sở
vật chất ngày càng được tăng cường, các loại hình dịch vụ y tế trong

cơ sở cung cấp dịch vụ y tế theo địa bàn dân cư nhằm tạo cơ hội cho mọi
người dân được tiếp cận và sử dụng dịch vụ bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ với
chất lượng ngày càng cao...
3. Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động dịch vụ y tế trên trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
4. Phạm vi nghiên cứu
Các dịch vụ y tế cho mọi người dân trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo
các lĩnh vực, bao gồm: Y tế dự phòng - nâng cao sức khoẻ; khám chữa bệnh -
Phục hồi chức năng; y dược học cổ truyền, mạng lưới sản xuất, kiểm nghiệm,
phân phối thuốc...
5. Phương pháp nghiên cứu
4
4
- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở luận về dịch vụ y tế và phát triển dịch vụ y tế trên
địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn
tỉnh Hải Dương những năm tới.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ y tế và kinh nghiệm phát
triển dịch vụ y tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và đất nước Singapore.
Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh
Hải Dương.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh
Hải Dương.
Chương I:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ Y TẾ

ngoại lai v.v...Trong lĩnh vực y tế, cơ chế thị trường không thể vận hành một
cách hiệu quả. Các nhà phân tích kinh tế đã thừa nhận trong thị trường y tế
luôn tồn tại các yếu tố “thất bại thị trường”, cụ thể:
Thị trường y tế không phải là thị trường tự do. Trong thị trường tự do,
giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa
người mua và người bán. Trong thị trường dịch vụ y tế không có sự thỏa
thuận này, giá dịch vụ do người bán quyết định.
Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế
nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế.
Cụ thể, muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp giấy phép hành nghề và cần
đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất. Nói một cách khác,
trong thị trường dịch vụ y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo.
Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch
vụ. Như trên đã trình bày, trên thực tế, bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật và
các chỉ định điều trị, do vậy hầu như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào các
quyết định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế (cầu do cung
quyết định). Nếu vấn đề này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới tình trạng
lạm dụng dịch vụ từ phía cung ứng, đẩy cao chi phí y tế.
Dịch vụ y tế là các dịch vụ có đặc điểm “hàng hóa công cộng” và mang
tính chất “ngoại lai”. Đặc điểm “ngoại lai” của các dịch vụ này là lợi ích
không chỉ giới hạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kể cả những
người không trả tiền (Ví dụ: các dịch vụ y tế dự phòng, giáo dục sức khỏe).
Chính điều này không tạo ra được động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất, làm
việc cung ứng các dịch vụ đó thấp. Lúc này, để đảm bảo đủ cung đáp ứng cho
cầu cần có sự can thiệp hỗ trợ của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ y tế
mang tính công cộng.
Do tính chất đặc thù của dịch vụ y tế và thị trường dịch vụ y tế, Nhà
nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và cung ứng dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ. Nhà nước cần giữ vai trò cung ứng đối với các dịch vụ y tế
“công cộng” và dịch vụ dành cho các đối tượng cần ưu tiên còn để tư nhân

trình tạo ra dịch vụ cũng chính là quá trình tiêu dùng dịch vụ. Đó là sự ảnh
hưởng mật thiết của người tiêu dùng tới sự tồn tại của dịch vụ.
Tuy nhiên, không giống các loại dịch vụ khác, dịch vụ y tế có một số
đặc điểm riêng, đó là:
- Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở các
mức độ khác nhau. Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên thường
người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được.
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng (người bệnh)
thường không tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y
tế) quyết định. Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ “Cầu quyết định
cung” trong dịch vụ y tế “Cung quyết định cầu”. Cụ thể, người bệnh có nhu
cầu khám chữa bệnh nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao
lâu lại do bác sĩ quyết định. Như vậy, người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi
điều trị, ở một chừng mực nào đó, bác sĩ điều trị chứ không được chủ động
lựa phương pháp điều trị.
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá gắn liền với sức khoẻ, tính mạng con
người nên không giống các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền
nhưng người ta vẫn phải mua (khám chữa bệnh) đây là đặc điểm đặc biệt
không giống các loại hàng hóa khác.
- Dịch vụ y tế nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt
trong tình trạng cấp cứu: Không thể chờ đợi được và chấp nhận dịch vụ bằng
mọi giá.
- Bên cung cấp dịch vụ có thể là một tổ chức hay cũng có thể là một cá
nhân. Để được là bên cung cấp dịch vụ y tế thì phải có giấy phép hành nghề
theo quy định của Nhà nước.
1.1.2 Phân loại dịch vụ y tế:
a. Phân loại theo đối tượng phục vụ: Có ba loại dịch vụ y tế: dịch vụ y
tế công cộng (public good), dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu
tiên (merit good) và dịch vụ y tế cá nhân (private good).
Dịch vụ y tế công cộng là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ này

không có ch m sóc t i b nh vi n...ă ạ ệ ệ
- Các d ch v do h sinh, y tá, v t lý tr li u v nhân viên àị ụ ộ ậ ị ệ k thu tỹ ậ y tế
cung c pấ : Các d ch v nh giám sát trong thai kị ụ ư ỳ v sinh con... ch m sócà ă
(không nh p vi n), t v n v d phòngàậ ệ ư ấ ự cho b nh nhân t i giaệ ạ .
- Các D ch v b nh vi nị ụ ệ ệ : Các d ch v c cung c p theo ch d nị ụ đượ ấ ỉ ẫ
c a bác s ch y u i v i các b nh nhân n i trúủ ỹ ủ ế đố ớ ệ ộ nh m m c ích ch a tr ,ằ ụ đ ữ ị
ph c h i v /ho c duy trì tình tr ng s c kho ...àụ ồ ặ ạ ứ ẻ
- Các dịch vụ y tế con người khác: Các dịch vụ ngoại trú; Các dịch vụ y
tế kèm nơi ở thay vì các dịch vụ bệnh viện.
1.1.3 Tổ chức hoạt động dịch vụ y tế
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết các hoạt động
dịch vụ y tế để đạt được tính công bằng và tính hiệu quả trong nền kinh tế xã
hội. Các chính sách của Nhà nước nhằm đảm bảo kiểm soát các dịch bệnh lây
lan, khuyến khích sự phát triển của khoa học. Bảo vệ người tiêu dùng tránh
mua phải những dịch vụ không cần thiết, chất lượng kém hoặc chi phí cao.
Sức khoẻ tốt đang ngày càng được xem như một quyền cơ bản của con
người trong xã hội. Đảm bảo sức khoẻ tốt cho mọi người là việc rất cần thiết của
Chính phủ. Hiện nay ở Việt nam đang lấy dịch vụ y tế Nhà nước làm chủ đạo và
phát triển từng bước hợp lý dịch vụ y tế tư nhân. Nhà nước nắm trong tay nguồn
nhân lực y tế, đặc biệt là y tế cơ sở tuyến huyện, tuyến xã và thôn bản. Nhà nước
lấy nguồn NSNN làm nguồn tài chính chủ yếu cho y tế để chủ động điều chỉnh
kinh phí cho vùng nghèo và các đối tượng nghèo cũng như các đối tượng hưởng
chính sách (những người có công với nước), thực hiện công bằng xã hội trong
chăm sóc sức khoẻ và giải quyết những việc bức bách, cấp thiết của các dịch vụ
hoặc những hậu quả do thiên tai, thảm hoạ gây ra... Trong giai đoạn hiện nay,
nhiệm vụ của khu vực y tế công là đảm bảo ba mục tiêu lớn:
+ Tăng cường sức khoẻ nhân dân,
+ Thực hiện công bằng xã hội trong CSSK,
+ Tăng cường hiệu quả và chất lượng trong chăm sóc sức khoẻ.
Tuy lấy dịch vụ y tế Nhà nước là chủ đạo nhưng hiện nay chúng ta vẫn

tạp vì dịch vụ y tế là hàng hoá công cộng được cung cấp cho tất cả mọi người
trong xã hội nên không có giá cả trong thị trường.
Các phương pháp đánh giá kinh tế không phải là phương tiện thay thế
quá trình ra quyết định. Đánh giá hoạt động dịch vụ y tế chỉ là một trong
những phương tiện có sẵn và có ích làm cho sự lựa chọn trở lên rõ ràng hơn,
tạo cho chúng ta khả năng sử dụng tốt nhất nguồn lực khan hiếm.
Để kiểm tra và đánh giá hoạt động dịch vụ y tế, những câu hỏi chung
thường được đặt ra và cần được trả lời:
- Chúng ta nên làm gì, làm như thế nào và làm gì cho ai?.
- Nguồn lực nào cho từng hoạt động dịch vụ y tế?.
- Chi phí bao nhiêu?.
- Có các mối liên hệ nào với các dịch vụ y tế khác nhau?.
- Người dân sẽ được hưởng những gì từ hoạt động này?.
Trả lời cho những câu hỏi trên thường bị ảnh hưởng bởi việc ước tính
về giá trị thực của những hoạt động được đề ra. Để đánh giá đúng, các câu hỏi
thường đặt ra:
- Với các nguồn lực đang sử dụng thì dịch vụ y tế và trương trình y
tế đang được thực hiện có giá trị hơn là các chương trình khác mà chúng ta đã
bỏ qua không?.
- Cách sử dụng nguồn lực để cung cấp dịch vụ y tế, thực hiện
chương trình y tế đã phù hợp chưa?.
Do vậy đánh giá hoạt động dịch vụ y tế là công cụ giúp nhà hoạch định
chính sách và nhà kế hoạch ra quyết định nhằm tối ưu hoá lợi ích và hiệu quả
cho xã hội đã được phân bổ.
Các phương pháp đánh giá dịch vụ y tế:
1.1.4.1 Phân tích giảm thiểu chi phí ( Cost Minimization Anlysisa –
CMA) dựa trên các phát hiện dịch tễ học, kỹ thuật này dùng để xác định các
chi phí can thiệp nhỏ nhất.
1.1.4.2 Phân tích chi phí hiệu quả ( Cost Effectiveness Analysis- CEA)
Phát hiện phương pháp tốt nhất để hoàn thành một mục tiêu đơn bằng cách so

yếu từ các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, sau này thêm
người bệnh từ các tỉnh khác như Nam Định, Ninh Bình, Lạng Sơn… Thành
phần người bệnh cũng rất đa dạng, từ các vị lãnh đạo cao cấp trong Chính
phủ, tới các doanh nhân và công chức. Nhu cầu dịch vụ y tế của người dân
cũng rất đa dạng, từ kiểm tra sức khỏe định kỳ tới điều trị ung thư, phẫu thuật
cho tới thẩm mỹ, chăm sóc sắc đẹp.
Nếu cách đây 10 năm trở về trước, “xuất ngoại” là việc lớn của hầu hết
các gia đình Việt Nam thì “xuất ngoại” đi chữa bệnh lại càng là chuyện lạ. Thì
nay, đó lại trở nên bình thường khi đời sống của người dân ngày càng tăng.
Việc cấp hộ chiếu trong nước ngày càng phổ biến, nhanh chóng và thuận tiện.
Hàng rào visa đã hoàn toàn xóa bỏ trong khối ASEAN và sắp tới có thể với
nhiều quốc gia khác. Sự ra đời gần đây của các hãng hàng không giá rẻ càng
làm cho việc đi lại trở nên thuận tiện. Với sự vĩ đại của công nghệ thông tin,
các bệnh nhân Việt Nam có thể tiếp cận rất dễ dàng với các chuyên gia y tế
hàng đầu khu vực và quốc tế qua email và internet để hỏi ý kiến chuyên môn
và chẩn đoán.
Trong khi đó, cung cấp dịch vụ y tế nói chung và đặc biệt là dịch vụ y tế
chất lượng cao trong nền kinh tế thị trường là thoả mãn nhu cầu của khách hàng
vẫn là khái niệm mơ hồ đối với nhiều bệnh viện tại Việt Nam, đặc biệt tại các
bệnh viện công. Không nói quá khi nhiều bệnh viện công lập tỏ thái độ không
cần bệnh nhân vì lúc nào họ cũng trong tình trạng quá tải. Nếu phải làm dịch vụ
y tế chất lượng cao, họ chỉ quan tâm tới việc trang bị tivi, tủ lạnh, máy điều hoà
cho một vài phòng bệnh chứ không ý thức xây dựng một chiến lược thông qua
liên kết, quảng bá, tiếp thị nhằm thu hút bệnh nhân nước ngoài, Việt kiều hoặc
người có điều kiện tài chính muốn được chữa trị và chăm sóc đúng mức.
Phải đối diện với cạnh tranh quốc tế về trình độ công nghệ và dịch vụ y
tế chất lượng cao là một thực tế và thách thức của dịch vụ y tế Việt Nam. Dịch
vụ y tế Việt Nam có truyền thống rất lâu đời và có nhiều thành tích tốt đẹp
được thế giới ghi nhận như tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe ban đầu,
kết hợp tốt hai nền y học cổ truyền và hiện đại, giải quyết tốt đại dịch SARS và

1.2.2.2 Phát triển dịch vụ y tế dự phòng, nâng cao sức khoẻ nhân dân
Nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng từ TW đến cơ sở, đặc biệt là
các Trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh và đội vệ sinh phòng dịch của các
huyện, quận. Củng cố các khoa y tế lao động và thành lập các phòng khám
bệnh nghề nghiệp tại các tỉnh thành trọng điểm công nghiệp. Hoàn thiện
mạnh lưới quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; kiện toàn hệ thống
thanh tra liên ngành.
Thực hiện các mục tiêu Chương trình Quốc gia thanh toán một số bệnh
xã hội và dịch bệnh nguy hiểm, phấn đấu đến năm năm 2010: Giảm số mắc
sốt rét xuống dưới 200 ca /100.000 dân; khống chế, tiến tới giảm tỷ lệ số lao
mới mắc và và tổng số lao mới mắc và tổng số bệnh nhân còn 70% so với
năm 2000...
Chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh, không để dịch lớn
xảy ra. Củng cố hệ thống báo cáo, giám sát dịch tễ, hiện đại hoá hệ thống
quản lý số liệu để có các thông tin kịp thời cho việc xử lý các vụ dịch. Lãnh
đạo chính quyền tỉnh, thành phố có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, cung cấp
nguồn lực, huy động các ban ngành, đoàn thể và nhân dân tham gia phòng
chống dịch và các chương trình như cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường...
Triển khai thực hiện rộng rãi các trương trình phòng chống các bệnh
không nhiễm trùng như: tim mạch, ung thư, đái tháo đương....
Tham gia tích cực trong việc phòng chống tai nạn thương tích, nhất là
tai nạn giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp...
Tăng cường quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, phát triển
đội ngũ thanh tra và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại tất cả các tuyến..
Triển khai mạnh mẽ chương trình sức khoẻ sinh sản, làm mẹ an toàn,
chăm sóc sản khoa thiết yếu và các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình...
18
18
Thực hiện các chương trình chăm sóc sức khoẻ trẻ em như: Phòng
chống suy dinh dưỡng, sức khoẻ vị thành niên... Đẩy mạnh phong trào thể dục

bản là đảm bảo cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người
dân, thực hiện sử dụng thuốc an toàn hợp lý. Củng cố và kiện toàn hệ thống tổ
chức quản lý Nhà nước về dược từ trung ương đến địa phương.
Quy hoạch và tổ chức lại ngành công nghiệp dược theo hướng tập
trung, chuyên môn hoá và đầu tư có trọng điểm. Phát triển công nghệ sinh
học, đặc biệt là công nghệ gen, công nghệ nhân giống và cấy mô để phục vụ
cho sản xuất thuốc, sản xuất vắc xin... Tranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư nâng
cấp các công ty dược theo tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP).
1.2.2.6 Xã hội hoá công tác y tế
Đa dạng hoá các loại hình chăm sóc sức khoẻ, tìm kiếm và khai thác
các nguồn đầu tư khác nhau cho y tế như BHYT tự nguyện, viện trợ nước
ngoài... Phát triển văn hoá, xây dựng nếp sống văn minh, xoá bỏ tập quán có
hại cho sức khoẻ. Xây dựng điển hình tiên tiến về vệ sinh môi trường và an
toàn cộng đồng.
Củng cố và phát triển các trung tâm truyền thông và giáo dục sức khoẻ.
Phát triển mạng lưới tuyên truyền xuống tận tuyến xã. Phối hợp với các cấp
các ngành, các tổ chức chính trị xã hội trong công tác truyền thông giáo dục
sức khoẻ cộng đồng.
1.2.3 Những điều kiện để phát triển dịch vụ y tế
1.2.3.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất là điều kiện quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng
khám, phòng và chữa bệnh.
20
20
Về đầu tư:
Việc đầu tư cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân phải
dựa vào nhiều nguồn lực khác nhau, bao gồm: đầu tư của Nhà nước, đóng góp
của cộng đồng và viện trợ quốc tế... trong đó đầu tư của nhà nước giữ vai trò
chủ đạo. Từng bước phấn đấu mức chi thường xuyên cho y tế đạt tỷ lệ 5%
trong tổng chi ngân sách vào năm 2010.

tỉnh). Trong đó có đến 35% số lượng thiết bị hiện có đã sử dụng từ những
năm 1985 trở về trước. Gần 40% thiết bị được đưa vào sử dụng từ những năm
1986. Qua một thời gian dài sử dụng như vậy số trang thiết bị hiện còn sử
dụng được chỉ vào khoảng 25-30%.
Thêm nữa, trình độ đội ngũ cán bộ kỹ thuật đã quá lạc hậu so với các
nước trong khu vực nên nhiều cơ sở chưa đáp ứng kịp sự đổi mới về kỹ thuật
- công nghệ, không ít cơ sở còn chưa khai thác hết trang thiết bị hiện có. Ở
một số nơi, trang thiết bị ngoại nhập đắt tiền thậm chí vẫn được "đắp chiếu"
do... quá hiện đại với khả năng của người vận hành, sử dụng.
Để khắc phục tình trạng xuống cấp, khai thác chưa hết tính năng, công
suất hoặc không được sử dụng của TTBYT, đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá
ngành y tế, phấn đấu đạt trình độ ngang tầm với các nước trung bình trong
khu vực, cần phải:
- Kiện toàn về tổ chức và xây dựng các trung tâm dịch vụ kỹ thuật trang
thiết bị y tế, hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp quy về trang thiết bị y tế. Đầu
tư trang thiết bị y tế theo phân tuyến kỹ thuật của hệ thống phòng bệnh và
khám chữa bệnh, đảm bảo đến năm 2010 tất cả các cơ sở y tế được trang bị
22
22
đầy đủ thiết bị y tế theo danh mục tiêu chuẩn của Bộ y tế và được cấp đầy đủ
vật tư và các dụng cụ thông thường.
- Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong
lĩnh vực trang thiết bị y tế với các nước và các ngành, nhằm phát triển nền
công nghiệp trang thiết bị y tế ở Việt nam.
1.2.3.2 Nhân lực y tế
Nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất của mỗi quốc gia, là nhân tố
quyết định mọi thắng lợi hay thất bại của một hệ thống. Chính vì vậy các
nước trên thế giới đều rất quan tâm tới việc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài. Người ta ước tính mức chi hợp lý cho con người ở các nước phát triển là
khoảng 50-70% tổng chi phí.

hành, quản lý Nhà nước về y tế bằng pháp luật đi đôi với việc tăng cường
thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ chính sách của Nhà
nước trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Thực hiện tốt qui chế dân chủ tại tất cả các cơ sở y tế. Xây dựng phong
trào thi đua trong ngành, đặc biệt là xây dựng những đơn vị cá nhân điển hình
tiên tiến. Phong trào thi đua phải được duy trì để phát triển ngành và tăng
cường y đức.
Tiếp tục củng cố và hoàn thiện hệ thống tổ chức ngành y tế theo hướng
tinh giảm đầu mối để đạt hiệu quả cao. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện mạng
lưới tổ chức trong các lĩnh vực y tế dự phòng, khám chữa bệnh, dược và đào
tạo... Hoàn thiện cơ chế quản lý ngành từ cấp tỉnh đến cơ sở. Phát triển bệnh
viện đa khoa khu vực (liên huyện) ở những địa bàn xa trung tâm tỉnh để dưa
24
24
kỹ thuật khám chữa bệnh thích hợp xuống gần dân. Củng cố và nâng cao chất
lượng hoạt động của phòng khám đa khoa cụm liên xã tại các vùng miền núi,
vùng sâu, vùng xa.
Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ là sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân ta.
Thực hiện chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là trách nhiệm
của tất cả các Bộ, các Ngành và các địa phương, trong đó ngành y tế giữ vai
trò làm lòng cốt trong việc tham mưu cho chính phủ tổ chức thực hiện.
1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH VÀ ĐẤT NƯỚC SINGAPORE
Theo các chuyên gia tâm lý, yếu tố tâm lý tác động rất nhiều đến sự
chuyển biến của bệnh tật. Trong quá trình chữa bệnh, điều trị về tinh thần là
vô cùng quan trọng. Có những người mắc bệnh nan y như ung thư, nếu được
sống trong một môi trường thân thiện, thoải mái, tâm lý tốt, có thể kéo dài
cuộc sống thêm vài năm, thậm chí là vài chục năm. Trong khi đó phần lớn
bệnh nhân Việt Nam lại không tìm thấy không khí đấy tại các bệnh viện trong
nước. Họ cho rằng ngoài sự quá tải đến ngột ngạt thì thái độ bác sỹ cũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status