ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
o0o
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TỈNH HẢI DƯƠNG
GIAI ĐOẠN 2011- 2020
Đơn vị tư vấn: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
Tháng 8 năm 2011
2
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TỈNH HẢI DƯƠNG
GIAI ĐOẠN 2011- 2020
MỤC LỤC
DANH MỤC BIỂU BẢNG 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
PHẦN THỨ NHẤT
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG 9
I. DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG 9
1. Dân số và cơ cấu dân cư 9
2. Hiện trạng nguồn nhân lực 11
3. Đặc điểm tâm lý - xã hội, chăm sóc y tế và những kỹ năng mềm của nhân lực 18
II. HIỆN TRẠNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 20
1. Hiện trạng hệ thống giáo dục, đào tạo 20
2. Các điều kiện đảm bảo phát triển đào tạo 21
3. Hệ thống quản lý, cơ chế, chính sách phát triển đào tạo nhân lực 24
4. Kết quả đào tạo nhân lực 25
III. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NHÂN LỰC 26
1. Trạng thái hoạt động của nhân lực 26
2. Trạng thái việc làm của nhân lực 26
IV. DỰ BÁO CUNG – CẦU LAO ĐỘNG ĐẾN NĂM 2020 29
1. Dự báo cung lao động giai đoạn 2011 – 2020 29
2. Dự báo cầu lao động giai đoạn 2011-2020 29
3. Dự báo cầu lao động theo ngành 30
I. TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH 63
1. Văn phòng UBND 63
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư 63
4. Sở Giáo dục và Đào tạo 64
5. Sở Lao động Thương binh Xã hội 64
6. Sở Nội vụ 64
7. Các Sở ban ngành có liên quan, UBND quận, huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan
truyền thông 65
II. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 65
1. Kiến nghị với Trung ương 65
2. Kết luận 65
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Biểu 1. Quy mô dân số và lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh 10
Biểu 2: Lao động phân theo nhóm tuổi 11
Biểu 3: Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo của Hải Dương 12
Biểu 4: Lao động làm việc tại các doanh nghiệp đang hoạt động
phân theo loại hình doanh nghiệp 16
Biểu 5: Lao động nữ làm việc tại các doanh nghiệp đang hoạt động
phân theo loại hình doanh nghiệp 17
Biểu 6: Ngân sách nhà nước cho giáo đục đào tạo giai đoạn 2005-2010 21
Biểu 7: Chi tiêu cho cho giáo dục của dân cư tỉnh Hải Dương 22
Biểu 8: Cơ cấu lao động theo khu vực sản xuất 27
Biểu 9: Dự báo dân số và nguồn lao động tỉnh Hải Dương 29
Biểu 10: Dự báo tổng cầu lao động giai đoạn 2011-2020 30
Biểu 11: Dự báo cầu lao động chia theo ngành 30
Biểu 12: Dự báo số lượng lao động qua đào tạo 32
Biểu 13: Dự báo số lượng lao động qua đào tạo phân theo trình độ 32
Biểu 14: Nhu cầu vốn đào tạo nhân lực 62
Biểu 15: Nhu cầu vốn đầu tư xây dựng/cải tạo cơ sở đào tạo nhân lực 62
4
Dương nói riêng khi chuyển sang giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa về kinh tế. Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định: “Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục
tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát
huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
Để khai thác có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực sẵn có cũng như tận
dụng được các cơ hội và điều kiện thuận lợi trong hoàn cảnh mới, quy hoạch
phát triển nhân lực là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2020.
Mục đích của quy hoạch phát triển nhân lực là đánh giá thực trạng phát
triển nhân lực về số lượng, chất lượng, xác định rõ những thế mạnh và yếu kém
của nhân lực so với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Phân tích, làm rõ
thực trạng những điều kiện phát triển nhân lực trên địa bàn tỉnh, đúc kết những
tác động tích cực, hạn chế; Đồng thời dự báo nhu cầu, xác định phương hướng
và luận chứng hệ thống các giải pháp phát triển nhân lực, xác định nhu cầu các
nguồn lực của tỉnh đến năm 2020 nhằm đảm bảo nhân lực có trình độ chuyên
môn kỹ thuật, kỹ năng làm việc, đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật lao động đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và hội nhập kinh tế trong nước
và quốc tế giai đoạn đến năm 2020.
6
Yêu cầu của quy hoạch phải đạt được là dựa trên những chủ trương,
đường lối, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ
và HĐND tỉnh để xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực của tỉnh phù hợp với
phương hướng phát triển kinh tế-xã hội tỉnh, vùng, Chiến lược phát triển kinh
tế-xã hội của cả nước thời kỳ 2011-2020, Chiến lược phát triển nhân lực của cả
nước đến năm 2020 và cơ chế, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Trung
ương và của tỉnh.
Phạm vi của quy hoạch
Thời gian xây dựng quy hoạch từ năm 2011 tới năm 2020, trong đó có phân
hướng đến năm 2020 của các địa phương;
- Công văn số 5458/BKH-CLPT ngày 06/8/2010 của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư hướng dẫn xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực các ngành, địa
phương;
- Quyết định số 2862/QĐ-UBND ngày 28/10/2010 của UBND tỉnh Hải
Dương về việc phê duyệt đề cương nhiệm vụ và dự toán kinh phí dự án “Quy
hoạch phát triển nhân lực tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2020”
- Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân tại cuộc
họp trực tuyến “Hội nghị toàn quốc triển khai việc lập Quy hoạch phát triển
nhân lực của các Bộ, ngành, địa phương” ngày 10/8/2010;
- Công văn số 1006/BKHĐT-CLPT ngày 22/2/2011 của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư hướng dẫn Đề cương (chỉnh sửa) Quy hoạch phát triển nhân lực các
tỉnh/thành phố giai đoạn 2011-2020;
- Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng chính phủ
về phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020
- Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 28/4/2011 của Thủ tướng chính phủ
về việc phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam
giai đoạn 2011-2030
- Báo cáo thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh từ khi tái lập
tỉnh đến nay bao gồm các báo cáo hàng năm, 5 năm 2001-2005, 5 năm 2006-
2010, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 định hướng đến
năm 2020;
- Quy hoạch phát triển nhân lực của các ngành và nguồn dữ liệu thống kê
của Tổng cục thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê tỉnh, Sở Giáo
dục - Đào tạo; Lao động - Thương binh và Xã hội; các ngành và các địa phương
có liên quan.
Báo cáo Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011
-2020, ngoài phần mở đầu và kết luận, bao gồm 3 phần chính:
- Phần thứ nhất: Thực trạng phát triển nhân lực của tỉnh Hải Dương
- Phần thứ hai: Phương hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển nhân lực
Theo khu vực: thì lao động ở thành thị chiếm 16% và lao động ở nông
thồn chiếm 84%. Như vậy có thể thấy lao động ở nông thôn vẫn chiếm một tỷ
trọng rất lớn. Điều này đặt ra vấn đề phải tạo việc làm cho lao động ở nông
thôn. Như vậy thì vấn đề đào tạo lao động trở nên vô cùng quan trọng.
Nhìn chung, tỷ lệ lực lượng lao động ở nhóm tuổi trẻ (15-24 và 25-34) có
xu hướng giảm và tỷ lệ lực lượng lao động ở các nhóm tuổi cao (45-54 và 55
tuổi trở lên) có xu hướng tăng. Tuy nhiên, cũng như các tỉnh trong vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ, lực lượng lao động của tỉnh Hải Dương thuộc loại trẻ, số
người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số lên tới 64,6%.
9
Biểu 1. Quy mô dân số và lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh
(giai đoạn 2000-2010)
Đơn vị: người
TT Chỉ tiêu 2001 2005 2010
Tốc độ tăng trung bình
(%/năm)
2001-2005 2006-2010
1 Dân số trung bình 1.662.74
4 1.685.512 1.712.841 0,27 0,27
- Nam
802.543 821.687 839.326 0,47 0,35
- Nữ
860.201 863.825 873.515 0,08 0,19
- Thành thị
230.899 266.444 327.149 2,91 4,06
- Nông thôn
1.431.845 1.419.068 1.385.692 -0,18 -2,52
2 Dân số trong độ tuổi lao
động 929.039 1.046.093 1.106.865 2,40 1,10
Tỷ lệ so với dân số (%)
2.1. Số lượng, cơ cấu tuổi và giới của nhân lực
Nhìn chung, tỷ lệ lực lượng lao động ở nhóm tuổi trẻ (15-24 và 25-34) có
xu hướng giảm và tỷ lệ lực lượng lao động ở các nhóm tuổi cao (45-54 và 55
tuổi trở lên) có xu hướng tăng. Tuy nhiên, lực lượng lao động của tỉnh Hải
Dương thuộc loại trẻ, tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi lao động chiếm tỷ
lệ loại cao.
Biểu 2: Lao động phân theo nhóm tuổi
Nhóm
tuổi
2006 2007 2008 2009 2010
Số lượng
(người)
Tỷ lệ Số lượng
(người)
Tỷ lệ Số lượng
(người)
Tỷ lệ Số lượng
(người)
Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
(%) (%) (%) (%) (%)
Tổng
số
1.056.001 100
1.072.72
4
100
1.075.94
4
100 1.091.291 100 1.106.865 100
15-24
Nguồn: Cục Thống Kê tỉnh Hải Dương và Báo cáo “Đánh giá tình hình phát
triển kinh tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 – 2010; đề xuất mục tiêu, phương
hướng, nhiệm vụ và giải pháp giai đoạn 2011 – 2015”
2.2. Trình độ học vấn của nhân lực
Tỷ lệ lao động qua đào tạo của Hải Dương tới năm 2010 đã đạt tới mức
40% lực lượng lao động, tuy nhiên lao động đào tạo ở trình độ từ trung cấp
nghề trở lên vẫn còn khá thấp (16% lực lượng lao động).
Hải Dương đạt thành tích tốt về đào tạo phổ thông. Tỷ lệ học sinh tốt
nghiệp năm học 2008 - 2009 hệ THPT đạt 91,6%, hệ bổ túc THPT đạt 86,6%;
duy trì thành tích là 1 trong 5 tỉnh đứng đầu cả nước về số học sinh giỏi
2
.
Chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đã hoàn thành từ năm
2000 và đạt chuẩn phổ cập THCS từ năm 2001. Trong giai đoạn 2006 - 2010
chỉ tập trung nâng cao chất lượng giáo dục phổ cập và từng bước thực hiện phổ
cập bậc trung học. Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 năm 2009 đạt 99,99%,
ước năm 2010 vẫn đạt 99,99%; hiệu quả đào tạo đạt 98,2%. Học sinh hoàn
thành chương trình tiểu học vào lớp 6 đạt tỷ lệ 100%. Học sinh tốt nghiệp
2
Báo cáo số: 93 /BC-UBND, ngày 27 /11/2009 về tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2009,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010. (Báo cáo tại kỳ họp lần thứ 16, HĐND tỉnh khoá XIV)
11
THCS vào THPT và GDTX năm 2009 đạt 85,56%, ước năm 2010 đạt 86%. Tỷ
lệ thanh thiếu niên từ 15 - 18 tuổi tốt nghiệp THCS năm 2009 đạt 95,15% và
ước năm 2010 đạt 95,3%
3
.
Biểu 3: Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo của Hải Dương
Đơn vị: người
2000 2005 2009 2010
37.233
38.864
9. Trên đại học
177 565
1.144
1.457
II. CƠ CẤU (%)
1. Chưa qua đào tạo
77,50 71,00 62,00 60,00
2. Sơ cấp nghề
1,70 2,50 4,47
5,00
3. Công nhân kỹ thuật không bằng
15,00 17,50 18,68
19,00
4. Trung cấp nghề
2,00 2,70 4,81
5,00
5. Cao đẳng nghề
0,30 0,40 0,84
0,86
6. Trung cấp chuyên nghiệp
1,80 2,80 3,15
3,16
7. Cao đẳng
0,95 1,40 2,05
2,10
8. Đại học
1,05 2,00 3,87
nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ trọng lớn. Khả năng thu hút lao động nông
nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp còn nhiều khó khăn và hạn chế.
Lao động có tay nghề, có kỹ năng, được đào tạo trong các lĩnh vực còn thấp cả
về số lượng và chất lượng, đặc biệt là khu vực nông thôn, khiến người lao động
không hoặc khó có cơ hội chuyển nghề, tìm việc làm mới và phải chấp nhận
những công việc giản đơn, cha truyền con nối, dựa hẳn vào đồng ruộng. Mặt
khác, trong tiến trình công nghiệp hóa-hiện đại hoá, nhu cầu nâng cao năng suất
lao động dẫn đến việc đào thải lực lượng lao động không có kỹ năng và chất
lượng thấp, tạo ra thất nghiệp, trong khi khả năng đào tạo và bổ túc kỹ năng cho
hàng loạt lao động hiện tại đang gặp nhiều khó khăn.
Tính chung cả tỉnh Hải Dương, tỷ lệ qua đào tạo nói chung của lực lượng
lao động đã tăng từ 26,6% năm 2005 lên 40% năm 2010, trong đó: tỷ lệ đã qua
đào tạo nghề tăng từ 30,9% lên 37,3%, tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, cao
đẳng, đại học và trên đại học tăng từ 0,9% lên 2,1%. Bình quân hàng năm tỷ lệ
lao động qua đào tạo tăng 3%/năm. Tỷ lệ đã qua đào tạo nói chung của lực
lượng lao động tỉnh Hải Dương cao hơn so với mức bình quân chung của cả
nước. Nhóm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ đại học trở lên chiếm
3,37% năm 2008 và ngày càng có xu hướng tăng.
Cơ cấu trình độ chuyên môn của nhân lực còn nhiều bất cập. Tỷ lệ lao
động có trình độ cao đẳng, đại học – lao động có trình độ trung cấp, chuyên
nghiệp – lao động có trình độ sơ cấp, công nhân kỹ thuật của Hải Dương năm
2010 là 1: 1,1 : 3,5. Trong khi đó, một số nghiên cứu cho rằng tỷ lệ tối ưu nên ở
mức 1 - 4 - 10.
2.3.1. Nhóm cán bộ - công chức - viên chức
Tính đến năm 2010, toàn tỉnh Hải Dương có trên 31 nghìn cán bộ, công
chức, viên chức.
Trong đó, số cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước
là 1.994 người, bao gồm 7 tiến sỹ (năm 2005 có 6 tiến sỹ), 129 thạc sỹ (năm
2005 có 67 thạc sỹ), 768 đại học (năm 2005 có 642 đại học), 5 cao đẳng (năm
2005 có 5 người). Có 260 người có trình độ cao cấp lý luận chính trị trở lên,
bao gồm cả tính tích cực và hạn chế, là đa phần cán bộ lãnh đạo tại Hải Dương
là những người có quê quán tại Hải Dương. Trong số 317 lãnh đạo cấp tỉnh, Sở,
huyện, có tới 308 người có quê Hải Dương. Trong số 593 lãnh đạo cấp Phòng
của Sở và huyện, có tới 560 người có quê Hải Dương.
Như vậy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh đã cơ bản được
đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Nhìn chung, số công chức, viên
chức có trình độ tiến sỹ, thạc sỹ ngày càng tăng, năm 2010 đạt tỷ lệ 2,73% so
với năm 2005 là 1,91%. Cơ cấu về độ tuổi của đội ngũ lãnh đạo và đội ngũ kế
cận là tương đối hợp lý và có tính kế thừa. Trong 5 năm thực hiện đề án “Nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong giai đoạn cách mạng mới”, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính
14
trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng; cán bộ, công chức, viên chức
và cán bộ khoa học nói chung của tỉnh được nâng lên rõ rệt.
Tuy nhiên, trước yêu cầu thực tiễn, đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Hải
Dương vẫn còn một số điểm cần khắc phục như sau:
- Năng lực thực tiễn của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa
tương xứng với trình độ đào tạo.
- Công tác tuyển dụng nói chung và công tác tuyển dụng viên chức sự
nghiệp nói riêng vẫn còn có những bất cập, việc thi tuyển viên chức sự nghiệp
còn phân tán, hình thức, gây lãng phí. Công tác đánh giá và quản lý cán bộ vẫn
là khâu hạn chế, việc đánh giá cán bộ còn chung chung, thiếu cụ thể, thiếu khoa
học. Công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ còn bộc lộ không ít những hạn chế,
khuyết điểm. Một số nơi việc đánh giá cán bộ trong quá trình quy hoạch chưa
chú trọng rà soát chuẩn bị nguồn, chưa thực sự phát huy dân chủ, chủ yếu vẫn
dựa vào kết quả lấy phiếu tín nhiệm nên có hiện tượng co kéo, vận động thiếu
lành mạnh.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng tuy đã đã được rất nhiều thành tích đáng
ghi nhân, nhưng còn chưa thật sự gắn với quy hoạch cán bộ và chưa đáp ứng
được yêu cầu, đặc biệt là đào tạo cán bộ cơ sở. Có tình trạng quá coi trọng bằng
Tổng số (người)
Tổng số 82.659 100.023 122.641 180.298
Doanh nghiệp Nhà nước 19.561 17.300 18.548 15.334
Doanh nghiệp ngoài nhà
nước (bao gồm cả hợp tác
xã) 40.977 52.439 60.414 88.578
Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài 22.121 30.284 43.679 76.386
Cơ cấu (%)
Tổng số 100 100 100 100
Doanh nghiệp Nhà nước 23,7 17,4 15,1 8,5
Doanh nghiệp ngoài Nhà
nước 49,5 52,3 49,3 49,1
Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài 26,8 30,3 35,6 42,4
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Vào thời điểm cuối năm 2009, khu vực doanh nghiệp Hải Dương thu hút
180.298 lao động, với tốc độ tăng trưởng sử dụng lao động trên 17%/năm.
Trong đó số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp nhà nước đang
trong xu hướng giảm dần (từ sử dụng 23,7% lao động khu vực doanh nghiệp
năm 2005 xuống còn 8,5% năm 2009). Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng phần lớn lực lượng lao
động tại các doanh nghiệp Hải Dương.
Về cơ cấu giới, 55% số lao động làm việc tại khu vực doanh nghiệp là
lao động nữ. Tuy nhiên, cơ cấu giới của lao động là rất khác nhau tại các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Tại khu vực doanh nghiệp nhà
nước, đa phần lao động (trên 70%) là lao động nam. Tình hình tương phản tại
khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khi có tới 81% là lao động nữ.
Điều này cho thấy khu vực đầu tư nước ngoài đang chủ yếu sử dụng lao động
giá rẻ, kỹ năng thấp tại tỉnh Hải Dương.
57,1
62,8
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Tuy nhiên chất lượng lao động không đồng đều và ở mức thấp. Hải
Dương vẫn chưa có được một đội ngũ doanh nhân giỏi, tinh thông nghiệp vụ
kinh tế thị trường, đáp ứng yêu cầu kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu
đang ngày càng đòi hỏi cao hơn. Đội ngũ lao động làm việc tại doanh nghiệp,
cho dù có tỷ lệ khá cao đã qua lớp đào tạo nghề, thậm chí có chứng chỉ đào tạo
nghề, nhưng nhìn chung vẫn không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp,
đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khi tuyển dụng lao
động, doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các lao động có
tay nghề phù hợp với công việc. Vì vậy, sau khi tiếp nhận doanh nghiệp, các
doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thường phải
tổ chức đào tạo và đào tạo lại cho người lao động trước khi bố trí công việc
chính thức.
2.3.3. Nhóm lao động làm việc tại khu vực nông nghiệp, nông thôn
Lực lượng lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp tại Hải Dương
đang giảm về số lượng, tuy nhiên, lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản
vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lao động. Ngoài canh tác lúa nước, Hải
17
Dương còn nổi tiếng với các nghề truyền thống như kim hoàn, chạm khắc gỗ,
chế biến bánh kẹo
Trong bối cảnh phát triển mới, cơ hội kiếm việc làm có thu nhập cao và
điều kiện nâng cao trình độ, kỹ năng làm việc còn hạn chế. Trình độ văn hóa
phổ biến mới tốt nghiệp THCS, nên hạn chế nhiều đến năng lực tiếp cận khoa
học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật; sản xuất vẫn mang nặng tư tưởng tiểu nông,
manh mún, chưa bỏ được tập quán canh tác lạc hậu. Nhưng quan trọng hơn là
mối liên kết giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân còn rất
lỏng lẻo. Vì thế, nông dân Hải Dương vẫn nặng về sản xuất tự phát, lúng túng
trong việc lựa chọn sản phẩm phục vụ thâm canh, tổ chức sản xuất theo hướng
công việc được giao (ví dụ: làm việc theo dây chuyền, theo nhóm, tổ…), đức
tính của người lao động là cần cù, chịu khó, thông minh.
Trong những năm gần đây, công tác tuyên truyền, công tác quản lý được
tăng cường, hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân nói chung và
người lao động nói riêng được nâng lên. Thói quen làm việc tuân thủ những
quy định, có kỷ luật đã có bước tiến bộ, đặc biệt trong các doanh nghiệp công
nghiệp chế biến có quy mô lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong
quá trình CNH - HĐH, các doanh nghiệp không ngừng mở rộng sản xuất, đầu
tư máy móc, trang thiết bị hiện đại, làm việc theo dây truyền, ca kíp, … cộng
với công tác giáo dục, áp dụng các quy trình quản lý chất lương, quản lý lao
động khoa học, tiên tiến được quan tâm, coi trọng, góp phần nâng cao tinh thần
hợp tác, năng suất lao động, chất lượng công việc, sản phẩm được nâng lên.
Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân và nguồn nhân lực được
quan tâm phát triển. Hệ thống y tế nhà nước ngày càng được củng cố và hoàn
thiện từ tỉnh đến cơ sở. Mạng lưới y tế công lập có: 2 chi cục là Chi cục Dân số
- Kế hoạch hoá gia đình và Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm; 51 đơn vị sự
nghiệp, bao gồm: 01 Bệnh viện đa khoa tỉnh, 6 bệnh viện chuyên khoa tuyến
tỉnh, 6 trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh; 13 bệnh viện đa khoa huyện/TP; 12
trung tâm y tế huyện/TP; 12 trung tâm dân số - kế hoạch hoá gia đình
huyện/TP; Trường trung cấp y tế. Toàn tỉnh có 265 trạm y tế xã, phường, thị
trấn (gọi chung là trạm y tế).
Về y tế ngoài công lập, hiện toàn tỉnh có 1.333 cơ sở hành nghề y và
dược tư nhân, tăng 767 cơ sở so với năm 2005. Trong đó, có 01 bệnh viện đa
khoa, 24 phòng khám đa khoa, 234 phòng khám chuyên khoa, 209 cơ sở dịch
vụ y tế, 245 phòng chẩn trị y học cổ truyền, 19 cơ sở kinh doanh thuốc, 01
Trung tâm kế thừa ứng dụng y học cổ truyền và 580 cơ sở sản xuất, kinh doanh
dược. Tổng số giường bệnh năm 2010 là 4.725 (không tính giường ngoài công
lập và Viện quân y 7). Trong đó, tuyến tỉnh 1.720, tuyến huyện 1.595 và tuyến
xã 1.060. Tổng số giường bệnh được cấp kinh phí do Sở Y tế quản lý là 3.315
(tuyến tỉnh 1.720, tuyến huyện 1.595); tỷ lệ giường bệnh được cấp kinh
đề ra
6
.
Như vậy, hệ thống đào tạo nghề của Hải Dương phát triển khá mạnh,
năng lực đào tạo lớn, có thể đáp ứng nhu cầu về đào tạo nhân lực cho địa
phương. Tỉnh đã thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ tạo việc làm,
đồng thời đẩy mạnh hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động.
Bình quân mỗi năm giải quyết, tạo việc làm mới cho trên 3 vạn lao động.
Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở đào tạo này mới ở cấp độ dạy nghề sơ,
trung cấp, nghề thường xuyên. Ở cấp độ nghề cao như cao đẳng nghề mới có 4
trường, số học sinh chiếm tỷ lệ thấp (10,9% tổng số học sinh học nghề). Phần
lớn các nghề đào tạo như may công nghiệp, tin học văn phòng, điện dân dụng,
xây dựng, cơ khí là những nghề có hàm lượng kỹ thuật thấp mang tính chất
giải quyết việc làm cấp bách, chưa phải là những ngành nghề có hàm lượng
chuyên môn, kỹ thuật cao.
Có sự mất cân đối về phát triển về đào tạo nghề giữa các vùng trong toàn
tỉnh. Các trường dạy nghề tập trung nhiều ở thành phố Hải Dương và những
vùng kinh tế - xã hội phát triển của tỉnh. Bên cạnh đó các cơ sở dạy nghề của
5
Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XV, tháng 9/2010
6
Đề tài “Đánh giá tình hình phát triển kinh tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 – 2010; đề xuất mục tiêu,
phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp giai đoạn 2011 – 2015”, năm 2010
20
Hải Dương hầu hết mới thành lập. Ngoài trường Công nhân cơ giới Xây dựng
(thuộc Tổng công ty XD&PTHT) thành lập năm 1974, trường đào tạo nghề
Thương mại (thuộc Bộ Thương Mại) thành lập năm 1993, các trường, trung
tâm khác đều mới thành lập từ năm 1997 trở lại đây. Do vậy, các cơ sở dạy
nghề nhìn chung quy mô còn nhỏ, năng lực không cao. Chất lượng đào tạo tuy
đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa theo kịp với tình hình thực tiễn. Một số học
Tổng số 511.085 676.181 833.345 991.186 1.182.035 1.444.301
1 Ngân sách địa phương 486.885 635.561 780.835
946.72
0
1.132.40
5 1.392.231
- Giáo dục
441.06
1 577.855 721.207 887.481 1.046.210 1.287.741
21
- Đào tạo 45.824 57.706 59.628 59.239 86.195 104.490
3 Nguồn ngân sách TW 24.200 40.620 52.510 44.466 49.630 52.070
Kế hoạch giao 24.200 40.620 52.510 44.466 49.630 52.070
Quyết toán 24.200 30.510 43.899 38.215 49.395
Chuyển nguồn sang năm sau 0 10.110 8.611 6.251 235
Nguồn: Sở Tài chính Hải Dương
2.2. Chi tiêu cho giáo dục của người dân
Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục ở các hộ gia đình Hải Dương cao hơn mức
chung của cả nước. Điều này cho thấy các hộ gia đình ở Hải Dương sẵn sàng
đầu tư cho con cái được học hành ở mức cao. Đặc biệt, ở Hải Dương, tỷ lệ chi
tiêu cho giáo dục của hộ gia đình nông thôn (xét về tỷ lệ trên tổng thu nhập của
hộ gia đình) lại cao hơn thành thị, trong khi trên cả nước, tỷ lệ của thành thị cao
hơn của nông thôn. Như vậy ngay ở nông thôn, trong điều kiện thu nhập khó
khăn, người dân cũng rất có ý thức trong việc đầu tư cho học hành và nâng cao
trình độ của con cái.
Đây là một điều kiện thuận lợi để tỉnh có thể thực hiện tốt chính sách đào
tạo nguồn nhân lực. Các gia đình sẵn sàng dành nguồn ngân sách để cho con
được hưởng nền giáo dục, nhưng quan trọng họ cần được cung cấp dịch vụ có
chất lượng, và phù hợp với nhu cầu tuyển dụng lao động của xã hội.
Biểu 7: Chi tiêu cho cho giáo dục của dân cư tỉnh Hải Dương
có sự chênh lệch (độ trễ) của trình độ, kỹ năng đào tạo và nhu cầu thực tế.
2.4. Hiện trạng đội ngũ giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý
Đến hết tháng 9 năm 2009 toàn tỉnh có 1.497 giáo viên dạy nghề ở tất cả
các trình độ khác nhau. Ước tính đến hết năm 2010 là 2.250 người (tăng 1.598
người so với năm 2005). Trong đó, giáo viên có trình độ sau đại học là 338
người; bồi dưỡng và cấp chứng chỉ sư phạm dạy nghề cho 610 giáo viên. Ước
tính đến hết năm 2010, tỷ lệ giáo viên dạy nghề đạt chuẩn là 100%
7
. Đa số giáo
viên đáp ứng được yêu cầu về chuẩn trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; có năng
lực, nhiệt tình, tích cực trong công tác giảng dạy, đào tạo, tự học nâng cao trình
độ, tự làm đồ dùng giảng dạy Tuy nhiên, do các cơ sở mới thành lập nhiều
dẫn đến tình trạng thiếu giáo viên, một số giáo viên năng lực trình độ còn yếu,
thiếu tinh thần tự vươn lên. Đối với các trường ngoài công lập và các trung tâm
dạy nghề cấp huyện, tình trạng thiếu giáo viên là phổ biến.
Các nhà trường, cơ sở giáo dục bố trí đủ giáo viên, nhân viên, cán bộ
quản lý giáo dục theo định mức qui định. 100% cán bộ quản lý và giáo viên
đứng lớp đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo (riêng giáo viên mầm non
đạt chuẩn 97,3%, tăng 30,5% so với năm 2005). Tỷ lệ trên chuẩn của cán bộ
quản lý và giáo viên năm sau tăng hơn năm trước. Giáo viên đạt trên chuẩn tiểu
học đạt 81,2%, THCS đạt 41,5% và THPT đạt 11%
8
.
2.5. Nội dung và phương pháp giảng dạy, đào tạo
Nội dung, chương trình và phương thức đào tạo được chú trọng quan tâm
đổi mới, hình thức, nội dung và chất lượng dạy nghề từng bước được đổi mới,
nâng cao, bước đầu có sự gắn kết với các cơ sở sử dụng lao động. Tuy nhiên,
tốc độ đổi mới còn chậm, chưa tạo được sự liên thông và gắn kết cần thiết giữa
đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước. Chưa có sự
phối kết hợp chặt chẽ giữa các trường dạy nghề với doanh nghiệp. Các doanh
hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thực hiện tốt các chính sách cho
người lao động; qua đó tổng hợp nhu cầu về tuyển dụng lao động, hỗ trợ, phối
hợp trong công tác đào tạo, tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp.
Hải Dương luôn khuyến khích bằng các ưu đãi cụ thể (tạo mặt bằng xây
dựng, đất đai, vay vốn ưu đãi, chính sách thu nộp và sử dụng phí, lệ phí đơn
giản hoá các thủ tục hành chính trong việc thành lập các cơ sơ ngoài công lập
theo quy định, thực hiện cơ chế hậu kiểm ) cho các tổ chức trong và ngoài
nước thành lập các trường, trung tâm đào tạo nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp
có địa chỉ đào tạo tin cậy, chất lượng, đồng thời các trường, trung tâm là nơi
cung cấp thông tin, tư vấn về đào tạo tại chỗ cho các doanh nghiệp.
Tỉnh đặc biệt chú trọng thực hiện Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày
18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế,
văn hoá, thể thao, Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 về
chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo
dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường nhằm huy động các tổ chức,
cá nhân tham gia hoạt động đào tạo nhân lực.
Trong nhiều năm qua, tỉnh cũng đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách
nhằm thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao về tỉnh làm việc, như Quyết
định số 2459/1999/QĐ-UB ngày 03/11/1999; Quyết định số 358/QĐ-UB ngày
4/2/2002; Quyết định số 3829/QĐ-UB ngày 22/9/2003; Quyết định số
743/2005/QĐ-UB ngày 03/3/2005; Quyết định 1466/2007/QĐ-UB ngày
13/4/2007. Nhờ có các chính sách nói trên, năm 2009 và 10 tháng đầu của năm
2010, tỉnh đã cử 250 cán bộ, công chức, viên chức đi học sau đại học và hỗ trợ
24
171 cán bộ, công chức, viên chức bảo về cấp bằng thạc sĩ, tiến sĩ chuyên khoa
cấp II, thầy thuốc ưu tú, với tổng số tiền là 2,65 tỷ đồng.
Nhìn chung, hiệu quả mang lại của các cơ chế, chính sách và biện pháp
nhằm khuyến khích, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao thời gian qua đã tạo
điều kiện cho nhân lực địa phương có điều kiện nâng cao trình độ tay nghề, tìm
kiếm việc làm, là chính sách xã hội quan trọng để doanh nghiệp ưu tiên tuyển
tiêu Đề án “Phát triển và nâng cao chất lượng các các cơ sở đào tạo nghề trên
địa bàn tỉnh gắn với giải quyết việc làm ở các khu, cụm công nghiệp”.
25