Phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương - Pdf 25

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hải Dương là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ,
nằm ở vị trí có nhiều hướng tác động mang tính liên vùng, là cầu nối giữa thủ
đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng. Tương lai không xa, Hải Dương sẽ
trở thành trọng điểm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương
mại và trở thành một trong các đô thị lớn trong vùng.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 145/2004/QĐ-TTg ngày 13
tháng 8 năm 2004 về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 thực hiện
đối với 8 tỉnh, trong đó có Hải Dương khẳng định: "Phát huy tiềm năng, lợi
thế về vị trí địa lý, hệ thống kết cấu hạ tầng để đẩy nhanh tốc độ phát triển
kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ một cách có hiệu quả và bền
vững; đi đầu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, luôn
giữ vai trò đầu tàu đối với cả vùng Bắc bộ và cả nước trong quá trình thúc
đẩy, hỗ trợ các vùng khác, nhất là các vùng khó khăn, cùng phát triển, đi đầu
về hợp tác quốc tế, về thu hút đầu tư nước ngoài, kết hợp chặt chẽ giữa phát
triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, trật tự, an
toàn xã hội, bảo vệ môi trường".
Để xứng đáng với vị thế và tầm vóc của mình trong hiện tại cũng như
tương lai; thời gian vừa qua Đảng bộ, Hội đồng nhân dân và UBND tỉnh Hải
Dương đã ban hành nhiều nghị quyết và văn bản về phát triển kinh tế - xã hội,
trong đó có sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Ngành Y tế Hải Dương không chỉ đảm nhận trách nhiệm chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân trên địa bàn tỉnh mà còn góp phần đáng kể
trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân của khu vực trọng điểm kinh tế phía Bắc
(gần 18 triệu người, chiếm 22% dân số cả nước). Để thực hiện được trọng
trách này, ngành Y tế Hải Dương cần phải có một hệ thống y tế đủ mạnh, một
mạng lưới y tế rộng khắp, một đội ngũ cán bộ y tế có chất lượng cao với cơ sở
và trang thiết bị hiện đại.
Trong thời kỳ đổi mới, ngành Y tế Hải Dương đã có một số chuyển

cơ sở cung cấp dịch vụ y tế theo địa bàn dân cư nhằm tạo cơ hội cho mọi
người dân được tiếp cận và sử dụng dịch vụ bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ với
chất lượng ngày càng cao...
3. Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động dịch vụ y tế trên trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
4. Phạm vi nghiên cứu
Các dịch vụ y tế cho mọi người dân trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo
các lĩnh vực, bao gồm: Y tế dự phòng - nâng cao sức khoẻ; khám chữa bệnh -
Phục hồi chức năng; y dược học cổ truyền, mạng lưới sản xuất, kiểm nghiệm,
phân phối thuốc...
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở luận về dịch vụ y tế và phát triển dịch vụ y tế trên
địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn
tỉnh Hải Dương những năm tới.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ y tế và kinh nghiệm phát
triển dịch vụ y tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và đất nước Singapore.
Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh
Hải Dương.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh
Hải Dương.
Chương I:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ Y TẾ
VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa
người mua và người bán. Trong thị trường dịch vụ y tế không có sự thỏa
thuận này, giá dịch vụ do người bán quyết định.
Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế
nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế.
Cụ thể, muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp giấy phép hành nghề và cần
đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất. Nói một cách khác,
trong thị trường dịch vụ y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo.
Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch
vụ. Như trên đã trình bày, trên thực tế, bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật
và các chỉ định điều trị, do vậy hầu như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào
các quyết định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế (cầu do
cung quyết định). Nếu vấn đề này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới tình
trạng lạm dụng dịch vụ từ phía cung ứng, đẩy cao chi phí y tế.
Dịch vụ y tế là các dịch vụ có đặc điểm “hàng hóa công cộng” và mang
tính chất “ngoại lai”. Đặc điểm “ngoại lai” của các dịch vụ này là lợi ích
không chỉ giới hạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kể cả những
người không trả tiền (Ví dụ: các dịch vụ y tế dự phòng, giáo dục sức khỏe).
Chính điều này không tạo ra được động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất, làm
việc cung ứng các dịch vụ đó thấp. Lúc này, để đảm bảo đủ cung đáp ứng cho
cầu cần có sự can thiệp hỗ trợ của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ y tế
mang tính công cộng.
Do tính chất đặc thù của dịch vụ y tế và thị trường dịch vụ y tế, Nhà
nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và cung ứng dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ. Nhà nước cần giữ vai trò cung ứng đối với các dịch vụ y tế
“công cộng” và dịch vụ dành cho các đối tượng cần ưu tiên còn để tư nhân
cung ứng các dịch vụ y tế tư. Đồng thời với sự tạo điều kiện thuận lợi phát
triển các loại hình dịch vụ y tế tư, vai trò quản lý của Nhà nước rất cần thiết
trong việc kiểm soát giá cả và chất lượng dịch vụ, tăng cường thông tin, thẩm
định điều kiện hành nghề như đã nêu ở trên. Công cụ hữu hiệu nhất trong

người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được.
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng (người bệnh)
thường không tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y
tế) quyết định. Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ “Cầu quyết định
cung” trong dịch vụ y tế “Cung quyết định cầu”. Cụ thể, người bệnh có nhu
cầu khám chữa bệnh nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao
lâu lại do bác sĩ quyết định. Như vậy, người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi
điều trị, ở một chừng mực nào đó, bác sĩ điều trị chứ không được chủ động
lựa phương pháp điều trị.
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá gắn liền với sức khoẻ, tính mạng con
người nên không giống các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền
nhưng người ta vẫn phải mua (khám chữa bệnh) đây là đặc điểm đặc biệt
không giống các loại hàng hóa khác.
- Dịch vụ y tế nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt
trong tình trạng cấp cứu: Không thể chờ đợi được và chấp nhận dịch vụ bằng
mọi giá.
- Bên cung cấp dịch vụ có thể là một tổ chức hay cũng có thể là một cá
nhân. Để được là bên cung cấp dịch vụ y tế thì phải có giấy phép hành nghề
theo quy định của Nhà nước.
1.1.2 Phân loại dịch vụ y tế:
a. Phân loại theo đối tượng phục vụ: Có ba loại dịch vụ y tế: dịch vụ y
tế công cộng (public good), dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu
tiên (merit good) và dịch vụ y tế cá nhân (private good).
Dịch vụ y tế công cộng là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ này
không chỉ giới hạn ở việc cung ứng trực tiếp (dịch vụ khám chữa bệnh) cho
người sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng đồng như các dịch vụ
phòng bệnh, giáo dục y tế.
Dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên: sẽ được dành cho
một số đối tượng đặc biệt như người nghèo, bà mẹ - trẻ em, người có công với
cách mạng...

tế kèm nơi ở thay vì các dịch vụ bệnh viện.
1.1.3 Tổ chức hoạt động dịch vụ y tế
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết các hoạt động
dịch vụ y tế để đạt được tính công bằng và tính hiệu quả trong nền kinh tế xã
hội. Các chính sách của Nhà nước nhằm đảm bảo kiểm soát các dịch bệnh lây
lan, khuyến khích sự phát triển của khoa học. Bảo vệ người tiêu dùng tránh
mua phải những dịch vụ không cần thiết, chất lượng kém hoặc chi phí cao.
Sức khoẻ tốt đang ngày càng được xem như một quyền cơ bản của con
người trong xã hội. Đảm bảo sức khoẻ tốt cho mọi người là việc rất cần thiết của
Chính phủ. Hiện nay ở Việt nam đang lấy dịch vụ y tế Nhà nước làm chủ đạo và
phát triển từng bước hợp lý dịch vụ y tế tư nhân. Nhà nước nắm trong tay nguồn
nhân lực y tế, đặc biệt là y tế cơ sở tuyến huyện, tuyến xã và thôn bản. Nhà nước
lấy nguồn NSNN làm nguồn tài chính chủ yếu cho y tế để chủ động điều chỉnh
kinh phí cho vùng nghèo và các đối tượng nghèo cũng như các đối tượng hưởng
chính sách (những người có công với nước), thực hiện công bằng xã hội trong
chăm sóc sức khoẻ và giải quyết những việc bức bách, cấp thiết của các dịch vụ
hoặc những hậu quả do thiên tai, thảm hoạ gây ra... Trong giai đoạn hiện nay,
nhiệm vụ của khu vực y tế công là đảm bảo ba mục tiêu lớn:
+ Tăng cường sức khoẻ nhân dân,
+ Thực hiện công bằng xã hội trong CSSK,
+ Tăng cường hiệu quả và chất lượng trong chăm sóc sức khoẻ.
Tuy lấy dịch vụ y tế Nhà nước là chủ đạo nhưng hiện nay chúng ta vẫn
kết hợp phát triển từng bước hợp lý dịch vụ y tế tư nhân vì dịch vụ y tế Nhà
nước tuy có các ưu điểm nhưng cũng có nhược điểm ở chỗ thiếu tính cạnh
tranh. Trong hoàn cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay nguồn Ngân sách Nhà
nước có hạn và tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao, sự phát triển không đồng
đều giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi, có bộ phận dân
cư giàu lên nhưng đại bộ phận vẫn ở mức nghèo, vì vậy việc huy động tài
chính từ một bộ phận dân cư giàu lên để đỡ một phần gánh nặng NSNN, đó là
việc làm cần thiết.

- Chi phí bao nhiêu?.
- Có các mối liên hệ nào với các dịch vụ y tế khác nhau?.
- Người dân sẽ được hưởng những gì từ hoạt động này?.
Trả lời cho những câu hỏi trên thường bị ảnh hưởng bởi việc ước tính
về giá trị thực của những hoạt động được đề ra. Để đánh giá đúng, các câu hỏi
thường đặt ra:
- Với các nguồn lực đang sử dụng thì dịch vụ y tế và trương trình y tế
đang được thực hiện có giá trị hơn là các chương trình khác mà chúng ta đã
bỏ qua không?.
- Cách sử dụng nguồn lực để cung cấp dịch vụ y tế, thực hiện chương
trình y tế đã phù hợp chưa?.
Do vậy đánh giá hoạt động dịch vụ y tế là công cụ giúp nhà hoạch định
chính sách và nhà kế hoạch ra quyết định nhằm tối ưu hoá lợi ích và hiệu quả
cho xã hội đã được phân bổ.
Các phương pháp đánh giá dịch vụ y tế:
1.1.4.1 Phân tích giảm thiểu chi phí ( Cost Minimization Anlysisa –
CMA) dựa trên các phát hiện dịch tễ học, kỹ thuật này dùng để xác định các
chi phí can thiệp nhỏ nhất.
1.1.4.2 Phân tích chi phí hiệu quả ( Cost Effectiveness Analysis- CEA)
Phát hiện phương pháp tốt nhất để hoàn thành một mục tiêu đơn bằng cách so
sánh chi phí với hiệu quả:
- Loại can thiệp nào trong một số can thiệp sẽ hoàn thành với chi phí
nhỏ nhất.
- Với một ngân sách cố định, loại can thiệp nào sẽ tối đa hoá hiệu quả
của chi phí.
- Các kết quả đánh giá sẽ được biểu hiện bằng chi phí, hoặc hiệu quả
tính bằng đơn vị tiền tệ.
1.1.4.3 Phân tích chi phí lợi ích ( Cost Bebefit Analysis – CBA) Đó là
việc định giá cả chi phí và lợi ích thành tiền, so sánh chúng, lượng giá xem đề
án, chương trình có phải là điều mong muốn không, qua cách sử dụng các tiêu

giá rẻ càng làm cho việc đi lại trở nên thuận tiện. Với sự vĩ đại của công nghệ
thông tin, các bệnh nhân Việt Nam có thể tiếp cận rất dễ dàng với các chuyên
gia y tế hàng đầu khu vực và quốc tế qua email và internet để hỏi ý kiến
chuyên môn và chẩn đoán.
Trong khi đó, cung cấp dịch vụ y tế nói chung và đặc biệt là dịch vụ y tế
chất lượng cao trong nền kinh tế thị trường là thoả mãn nhu cầu của khách hàng
vẫn là khái niệm mơ hồ đối với nhiều bệnh viện tại Việt Nam, đặc biệt tại các
bệnh viện công. Không nói quá khi nhiều bệnh viện công lập tỏ thái độ không
cần bệnh nhân vì lúc nào họ cũng trong tình trạng quá tải. Nếu phải làm dịch vụ
y tế chất lượng cao, họ chỉ quan tâm tới việc trang bị tivi, tủ lạnh, máy điều hoà
cho một vài phòng bệnh chứ không ý thức xây dựng một chiến lược thông qua
liên kết, quảng bá, tiếp thị nhằm thu hút bệnh nhân nước ngoài, Việt kiều hoặc
người có điều kiện tài chính muốn được chữa trị và chăm sóc đúng mức.
Phải đối diện với cạnh tranh quốc tế về trình độ công nghệ và dịch vụ y
tế chất lượng cao là một thực tế và thách thức của dịch vụ y tế Việt Nam. Dịch
vụ y tế Việt Nam có truyền thống rất lâu đời và có nhiều thành tích tốt đẹp
được thế giới ghi nhận như tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe ban đầu,
kết hợp tốt hai nền y học cổ truyền và hiện đại, giải quyết tốt đại dịch SARS và
dịch cúm gia cầm, thực hiện tốt ghép tạng trong điều kiện hết sức thiếu thốn và
khó khăn. Do vậy vấn đề mang tính thời đại là phải có những giải pháp cần
thiết trong đào tạo, nghiên cứu, quản lý, đặc biệt là việc xây dựng chiến lược
phát triển dịch vụ y tế thì ngành Y tế Việt Nam mới thực hiện tốt, hiệu quả, đáp
ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, tiến tới xuất khẩu dịch vụ
y tế và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
1.2.2 Các biện pháp phát triển dịch vụ y tế
Tăng trưởng trong lĩnh vực y tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý
về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: Viện phí, công xuất sử dụng
giường bệnh... thì phát triển dịch vụ y tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng
đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến
đổi về mặt chất của ngành y tế, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu ngành

quản lý số liệu để có các thông tin kịp thời cho việc xử lý các vụ dịch. Lãnh
đạo chính quyền tỉnh, thành phố có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, cung cấp
nguồn lực, huy động các ban ngành, đoàn thể và nhân dân tham gia phòng
chống dịch và các chương trình như cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường...
Triển khai thực hiện rộng rãi các trương trình phòng chống các bệnh
không nhiễm trùng như: tim mạch, ung thư, đái tháo đương....
Tham gia tích cực trong việc phòng chống tai nạn thương tích, nhất là
tai nạn giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp...
Tăng cường quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, phát triển
đội ngũ thanh tra và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại tất cả các tuyến..
Triển khai mạnh mẽ chương trình sức khoẻ sinh sản, làm mẹ an toàn,
chăm sóc sản khoa thiết yếu và các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình...
Thực hiện các chương trình chăm sóc sức khoẻ trẻ em như: Phòng
chống suy dinh dưỡng, sức khoẻ vị thành niên... Đẩy mạnh phong trào thể dục
thể thao nâng cao sức khoẻ.
1.2.2.3 Phát triển hệ thống khám chữa bệnh và phục hồi chức năng
Đầu tư nâng cấp hệ thống khám chữa bệnh một cách đồng bộ, phù hợp
với nhu cầu từng vùng và khả năng kinh tế xã hội. Tập trung nguồn lực cho
việc nâng cấp các cơ sở khám chữa bệnh ở 2 trung tâm y tế chuyên sâu. Phân
tuyến chuyên môn kỹ thuật và có quy định chuyển tuyến chặt chẽ hơn để
giảm bớt tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến trên. Sớm hoàn thành quy
hoạch mạng lưới khám chữa bệnh, chuẩn hoá các phương tiện và kỹ thuật
thường quy, sử dụng có hiệu quả và khai thác hết công xuất các thiết bị trong
chuẩn đoán và điều trị. Xây dựng danh mục thuốc điều trị phù hợp với nhu
cầu của bệnh viện...
Tập trung triển khai tốt quy chế bệnh viện, cải cách các thủ tục hành
chính trong khám bệnh và chữa bệnh để tạo điều kiện cho bệnh nhân. Đảm
bảo điều kiện phục vụ các bệnh nhân tại cơ sở khám chữa bệnh như ăn, ở và
sinh hoạt. Tiếp tục giáo dục cán bộ toàn ngành y tế thấm nhuần y đức xoá bỏ
tiêu cực trong bệnh viện. Đổi mới cơ chế quản lý các dịch vụ y tế...

các ngành, các tổ chức chính trị xã hội trong công tác truyền thông giáo dục
sức khoẻ cộng đồng.
1.2.3 Những điều kiện để phát triển dịch vụ y tế
1.2.3.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất là điều kiện quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng
khám, phòng và chữa bệnh.
Về đầu tư:
Việc đầu tư cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân phải
dựa vào nhiều nguồn lực khác nhau, bao gồm: đầu tư của Nhà nước, đóng góp
của cộng đồng và viện trợ quốc tế... trong đó đầu tư của nhà nước giữ vai trò
chủ đạo. Từng bước phấn đấu mức chi thường xuyên cho y tế đạt tỷ lệ 5%
trong tổng chi ngân sách vào năm 2010.
Thực hiện phân bổ ngân sách dựa trên mức thu nhập và nhu cầu chăm
sóc sức khoẻ, mức độ bao phủ của Bảo hiểm y tế và khả năng chi trả viện phí
của người dân tại mỗi vùng. Ngân sách Nhà nuớc ưu tiên đầu tư cho vùng
nghèo, vùng núi và các hoạt động y tế dự phòng, y học cổ truyền, các hoạt
động chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại y tế cơ sở, khám chữa bệnh cho người
nghèo và các đối tượng chính sách.
Nhà nước cần phải đầu tư cho các mục tiêu chương trình y tế quốc gia
và một số chương trình sức khoẻ ưu tiên để chủ động giải quyết các vấn đề
sức khoẻ. Ngân sách nhà nước tập trung cho những chương trình có tác động
rộng rãi đến sức khoẻ và đời sống kinh tế- văn hoá xã hội của công đồng. Bố
trí, cân đối lại tỷ trọng đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vay vốn hoặc viện trợ
để đảm bảo tính bền vững của các chương trình.
Thực hiện cơ chế chính sách tài chính mới tại một số bệnh viện ở các
thành phố lớn tiến tới tự cân đối thu chi thường xuyên dựa trên BHYT và viện
phí. Nhà nước sẽ hỗ trợ cho đầu tư phát triển và thực hiện các chính sách của
Nhà nước trong khám chữa bệnh.
Nhà nước cần thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá trong
quan hệ hợp tác quốc tế. Tăng cường huy động và điều phối các nguồn viện

vật tư và các dụng cụ thông thường.
- Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong
lĩnh vực trang thiết bị y tế với các nước và các ngành, nhằm phát triển nền
công nghiệp trang thiết bị y tế ở Việt nam.
1.2.3.2 Nhân lực y tế
Nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất của mỗi quốc gia, là nhân tố
quyết định mọi thắng lợi hay thất bại của một hệ thống. Chính vì vậy các
nước trên thế giới đều rất quan tâm tới việc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài. Người ta ước tính mức chi hợp lý cho con người ở các nước phát triển là
khoảng 50-70% tổng chi phí.
Việc đào tạo cán bộ y tế thường mất nhiều thời gian và tốn kém, ở các
nước phát triển chi cho đào tạo bác sỹ thường từ 40.000-90.000USD cho một
năm. Còn đối với nước ta chi cho đào tạo bác sỹ chính quy là
12.000USD/năm.
Nhân lực y tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống y tế, nó ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của con người. Do vậy yêu cầu đối với đội ngũ
cán bộ y tế phải ngày càng phát triển, chuyên môn hoá cao và sâu. Công tác
quản lý ngành ngày càng đa dạng hơn do việc đưa các thiết bị hiện đại và các
loại cán bộ kỹ thuật khác nhau vào trong công tác y tế, đặc biệt trong lĩnh vực
cận lâm sàng.
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, kỹ thuật cao
và quy trình tự động hoá cao đòi hỏi phải đổi mới cơ chế quản lý nhân lực y
tế, tiêu chuẩn hoá việc đào tạo các hình loại hình cán bộ cho từng tuyến. Cải
cách trương trình giảng dạy, đổi mới nội dung và nâng cao chất lượng đào tạo
hướng vào việc hình thành các năng lực và phẩm chất đáp ứng nhu cầu chăm
sóc sức khoẻ cộng đồng, thực hiện các chương trình y tế và sử dụng các
phương tiện khoa học kỹ thuật y dược hiện đại.
Phân bổ lực lượng cán bộ y tế phù hợp giữa các vùng theo nhu cầu
chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Sắp xếp lại nhân lực ở các cơ sở y tế tuyến
tỉnh, tuyến huyện để có thể điều động luân phiên các bác sỹ về tăng cường

MINH VÀ ĐẤT NƯỚC SINGAPORE
Theo các chuyên gia tâm lý, yếu tố tâm lý tác động rất nhiều đến sự
chuyển biến của bệnh tật. Trong quá trình chữa bệnh, điều trị về tinh thần là
vô cùng quan trọng. Có những người mắc bệnh nan y như ung thư, nếu được
sống trong một môi trường thân thiện, thoải mái, tâm lý tốt, có thể kéo dài
cuộc sống thêm vài năm, thậm chí là vài chục năm. Trong khi đó phần lớn
bệnh nhân Việt Nam lại không tìm thấy không khí đấy tại các bệnh viện trong
nước. Họ cho rằng ngoài sự quá tải đến ngột ngạt thì thái độ bác sỹ cũng
khiến cho bệnh tật của họ nặng thêm. Nhiều người có tiền đã lựa chọn dịch vụ
khám chữa bệnh ở nước ngoài, mặc dù giá cả khám chữa bệnh tại nước ngoài
không rẻ chút nào (phẫu thuật điều trị tim bẩm sinh mất khoảng 250 triệu
đồng/lần (bệnh nhân thường phải trải qua 2-3 lần), ghép gan cho người lớn
hiến từ người sống hết khoảng 2,5 tỷ đồng, phẫu thuật u não bằng phương
pháp xạ vi phẫu (tạo vết thương nhỏ) khoảng 200 đến 250 triệu đồng…), thế
nhưng nhu cầu đang ngày càng tăng.
Ngoài các bệnh nhân có nhu cầu đi chữa bệnh ở nước ngoài đều mắc
các bệnh nặng như ung thư, tim mạch, hoặc cần được ghép tạng… và phần
lớn họ không tin tưởng vào chất lượng dịch vụ y tế trong nước nhưng trên
thực tế, có rất nhiều người ra nước ngoài không phải vì bệnh hiểm nghèo mà
chỉ muốn được tận hưởng một dịch vụ chăm sóc bệnh nhân hoàn hảo. Thế
mới có chuyện, nhiều người có tiền tranh thủ ngày nghỉ cuối tuần để sang
Thái lấy cao răng?!
Vấn đề đặt ra ở đây là, giải pháp gì khi chúng ta đang để mất một lượng
đáng kể bệnh nhân có khả năng chi trả cao?. Bao giờ các bệnh viện Việt Nam
mới đáp ứng được nhu cầu dịch vụ y tế và bao giờ các bệnh viện Việt nam có
dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế?
Theo nhận định của các chuyên gia cho rằng, để đáp ứng nhu cầu về
dịch vụ y tế của nhân dân hiện nay còn rất khó khăn chứ chưa nói đến dịch vụ
khám chữa bệnh chất lượng cao tại các bệnh viện trong nước. Song, về trình
độ chuyên môn, các bác sỹ Việt Nam được đánh giá rất cao, họ có đủ khả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status