LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Viêt Nam nói riêng đang đối mặt với
những biến động khó lường. Dịch vụ kiểm toán được coi là một trong những dịch vụ
mang tính chuyên nghiệp cao và có ý nghĩa rất to lớn trong việc tạo lập môi trường
kinh doanh minh bạch và có hiệu quả. Trong tiến trình hội nhập chất lượng kiểm toán
là vấn đề cơ bản có tính chất sống còn đối với kiểm toán Việt Nam. Đặc biệt khi kiểm
toàn nước ngoài hội nhập vào thị trường Việt Nam thì việc khẳng định chất lượng kiểm
toán trở nên quan trọng, đòi hỏi Công ty kiểm toán phát triển những kỹ thuật kiểm toán
vừa hiệu quả vừa tiết kiệm được chi phí. Các Công ty kiểm toán Việt Nam không
ngừng nâng cao chất lượng kiểm toán để đáp ứng nhu cầu đặt ra. Qua bốn tháng thực
tập tại Công ty TNHH dịch vụ kiểm toán và tư vấn UHY (UHY LTD) đây là cơ hội để
em tiếp cận thực tế vận dụng kiến thức đã học trong nhà trường. Qua đó em nhận thấy
đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hay cung cấp dịch vụ thì khoản mục
Nợ phải thu là một khoản mục lớn trên BCTC ảnh hưởng trọng yếu tới tính trung
thực và hợp lý của BCTC. Vì vậy kiểm toán khoản mục Nợ phải thu đặc biệt quan
trọng trong mọi cuộc kiểm toán. Nên em chọn đề tài: ‘Hoàn thiện kiểm toán khoản
mục phải thu trong kiểm toán BCTC do Công ty TNHH dịch vụ Kiểm toán và
Tư vấn UHY thực hiện’. Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm tiếp cận lý luận về
kiểm toán BCTC nói chung cũng như kiểm toán khoản mục phải thu nói riêng, mô tả
thực tế kiểm toán khoản mục phải thu Công ty UHY LTD thực hiện, từ đó đưa ra giải
pháp nhằm hoàn thiện chu trình kiểm toán khoản mục phải thu.
Khoá luận tốt nghiệp của em gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về khoản phải thu trong kiểm toán BCTC
Chương 2: Thực trạng kiểm toán khoản mục phải thu trong kiểm toán
BCTC do Công ty UHY LTD thực hiện
Chương 3: Nhận xét và một số giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán
khoản mục phải thu trong kiểm toán BCTC do UHY LTD thực hiện
1
Em xin chân thành cám ơn tới tập thể ban lãnh đạo Công ty UHY đã tạo điều
kiện cung cấp các tài liệu của Công ty cho em trong quá trình thực tập cũng như các
anh chị trong phòng Tư vấn và đào tạo đã nhiệt tình hướng dẫn. Và em cũng xin gửi
Một là: Phân chia BCTC theo khoản mục là cách phân chia máy móc từng khoản mục
hoặc nhóm khoản mục trên BCTC vào một phần hành. Cách chia này tuy đơn giản dễ
3
làm song lại không thấy được mối liên hệ kinh tế giữa các khoản mục có liên hệ với
nhau. Ví dụ kiểm toán các khoản phải thu ( 131, 138, 136 )
Hai là: Phân chia theo chu trình là cách phân chia căn cứ vào mối liên hệ chặt chẽ lẫn
nhau giữa các khoản mục giữa các quá trình cấu thành và các yêu tố trong một chu
trình. Cách phân chia này có ưu điểm là thấy được mối liên hệ giữa các khoản mục.
Nhược điểm là khó thực hiện, một tài khoản có liên quan tới nhiều nên dẫn tới trùng
tài khoản kiểm toán làm mất thời gian và chi phí kiểm toán. Ví dụ kiểm toán chu
trình bán hàng thu tiền ( 155, 331, 511, 111, 112 ..)
1.2 Khái quát chung về khoản phải thu
1.2.1 Đặc điểm các khoản phải thu
Các khoản phải thu là khoản mục chiếm tỷ lệ lớn trên BCĐKT bao gồm các khoản
phải thu khách hàng, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác. Đây là nguồn tài
sản của doanh nghiệp đang bị các đối tượng khác chiếm dụng nó thể hiện nguồn tiền
mà doanh nghiệp sẽ thu trong tương lai. Vì vậy kế toán công nợ phải theo dõi chặt
chẽ từng khoản nợ phải thu và có biện pháp thu hồi tránh tình trạng bị chiếm dụng
vốn và mất khả năng thu hồi.
Các khoản công nợ theo dõi theo từng đối tượng, nội dung kinh tế và thời hạn
thanh toán để dễ theo dõi và quản lý. Đối với khách hàng truyền thống và có số dư
lớn kế toán phải thực hiện đối chiếu số dư với khách hàng định kỳ. Trường hợp các
khoản phải thu thanh toán bằng hàng hoá hoặc bù trừ công nợ thì phải có chứng từ
hợp lệ. Do các khoản công nợ luôn chứa đựng rủi ro là không có khả năng thu hồi vì
vậy kế toán thanh toán phải theo dõi tình hình và khả năng thanh toán của khách hàng
để làm căn cứ cho việc trích lập dự phòng phải thu khó đòi.
Các khoản phải thu được trình bày bên Nợ của BCĐKT, trường hợp doanh nghiệp
nhận trước tiền đặt cọc hoặc số tiền nhận được nhiều hơn số phải thu thì xuất hiện số
dư bên Có. Cuối kỳ để thuận tiện cho việc theo dõi công nợ kế toán thường bù trừ số
dư bên Nợ và bên Có của cùng một đối tượng.
trọng cần thiết đối với các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tránh được những
rủi ro như: Bị khách hàng chiếm dụng vốn giảm tốc độ quay vòng vốn tăng chi phí tài
chính, nhân viên lợi dụng vốn, ghi nhận doanh thu và trích lập dư phòng khoản phải
thu không phù hợp.
5
Thêm vào đó sự thay đổi liên tục của chế độ tài chính nên kế toán có thể chưa cập
nhật thông tin và làm không đúng với chế độ quy định. Để ngăn ngừa những vấn đề
nêu trên các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ kiểm toán khoản mục phải thu phát hiện
nhưng sai sót, yếu kém trong công tác kế toán và kiểm soát nội bộ đồng thời đưa ra
các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thông kế toán nói chung và khoản phải thu nói
riêng đảm bảo BCTC trình bày trung thực hợp lý về tình hình tài chính của doanh
nghiệp.
1.3.2 Mục tiêu kiểm toán trong kiểm toán khoản phải thu
Tương tự mọi hoạt động có ý thức của con người kiểm toán cũng có mục đích
cũng như các chuẩn mực cần hướng tới. Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số
200, khoản 11xác định ‘Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty
kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BTCT có được lập trên cơ sở chuẩn mực và
chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có
phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Mục tiêu kiểm
toán còn giúp cho đơn vị kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm
nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị’. Vậy mục tiêu kiểm toán là hệ
thống các tiêu điểm cần hướng tới trong mỗi cuộc kiểm toán do đó việc xác định hệ
thống mục tiêu kiểm toán khoa học sẽ giúp KTV thực hiện đúng hướng và có hiệu
quả trong hoạt động kiểm toán. Các mục tiêu kiểm toán được xây dựng trên cơ sở
bản chất đặc điểm và chứ năng của đối tượng kiểm toán.
Trong hệ thống mục tiêu kiểm toán bao gồm cả mục tiêu kiểm toán chung và mục
tiêu kiểm toán đặc thù. Các mục tiêu chung lại được chia thành hai loại cụ thể là sự
trung thực hợp lý chung và các mục tiêu chung khác. Tính hợp lý chung giúp KTV
đánh giá các số dư tài khoản có trung thực hợp lý hay không xét theo tất cả các thông
tin mà KTV có về công việc kinh doanh của khách hàng. Nếu mục tiêu về tính trưng
Phân loại và trình
bày
Các khoản phải thu được phân loại và trình bày theo từng đối
tượng, nội dung và được thuyết minh đầy đủ
Tính giá Khoản phải thu được tính giá đúng đắn:
- Các nghiệp vụ bán hàng đã được ghi sổ đúng về số lượng,
chủng loại và đơn giá của doanh nghiệp
- Các khoản phải thu đều được tính giá đúng theo giá trị thuần
có thể thực hiện được
Tính chính xác cơ
học
Các khoản phải thu được tính toán đúng:
- Các nghiệp vụ bán hàng thu tiền được ghi nhận đúng đắn và
chính xác
- Nợ phải thu được ghi nhận đúng số tiền công gộp trên BCTC
7
khớp với sổ chi tiết và sổ cái các khoản phải thu
- Các bút toán cộng sổ, chuyển sổ, sang trang đều chính xác,
trùng khớp
Tính đúng kỳ - Các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền được ghi sổ đúng kỳ
phát sinh.
- Các khoản phải thu được ghi nhận kịp thời
Tính được phép - Các nghiệp vụ bán hàng chịu được phê chuẩn ở cấp có thẩm
quyền phù hợp
- Những nghiệp vụ bán chịu, việc tiếp nhận hàng bán bị trả lại
phải có sự xét duyệt phê chuẩn của người có thầm quyền
( Nguồn: [7,10]
1.3.3 Quy trình kiểm toán khoản phải thu
Theo nguyên lý chung, trình tự kiểm toán khoản phải thu cũng trải qua ba giai
đoạn là: Lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, hoàn thành và công bố Báo
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nộ bộ
và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán và thiết
kế chương trình kiểm toán
9
của khách hàng, và việc chấp nhận cuộc kiểm toán này có ảnh hưởng tới uy tín của
công ty kiểm toán hay không.
Đối với khách hàng truyền thống: Công ty kiểm toán đã từng tiến hành kiểm toán
nên đã có nhiều thông tin về khách hàng rồi nhưng KTV vẫn phải thường xuyên cập
nhật những thay đổi có thể ảnh hưởng tới rủi ro kiểm toán khiến phải ngừng cuộc
kiểm toán. Trường hợp phải ngừng cung cấp dịch vụ khi có những mâu thuẫn sau đây
giữ công ty kiểm toán và khách hàng kiểm toán: Giới hạn về phạm vi cuộc kiểm toán,
loại báo cáo kiểm toán hoặc KTV nghi ngờ về tính liêm chính của thành viên ban
giám đốc
Đối với khách hàng năm đầu: KTV phụ trách có thể tìm hiểu thông tin về khách
hàng thông qua việc trao đổi với KTV tiền nhiệm, qua tạp chí, internet và các bên có
liên quan như nhà cung cấp, Ngân hàng. KTV cần tìm hiểu: tại sao khách hàng lại
thay đổi Công ty kiểm toán, tính liêm chính của ban giám đốc, đặc điểm ngành nghề
kinh doanh, các yếu tố về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Thứ hai: Nhận diện lý do kiểm toán để xác định phạm vi, mục tiêu của người sử
dụng BCTC làm cơ sở cho việc xác định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu
thập. Đối với những khách hàng kiểm toán cần nhằm mục đích kiểm tra tình hình
hoạt động tình hình tài chính kế toán và hiệu quả của HTKSNB thì khi thực hiện
kiểm toán khoản phải thu KTV thường xem xét việc phê chuẩn cho các nghiệp vụ
bán hàng, xét duyệt bán chịu, chiết khấu giảm giá, hàng bán bị trả lại và việc tổ chức
hoạch toán kế toán đã tuân thủ theo quy định của chế độ kế toán hiện hành chưa? Từ
đó đưa ra những biện pháp hoàn thiện công tác kế toán và HTKSNB đối với khoản
phải thu.
Đối với những khách hàng đang có nhu cầu vay vốn, thu hút đầu tư mở rộng sản
xuất, hoặc xác nhập vào tập đoàn mới thì mục đích kiểm toán là để minh bạch hoá
Thu thập thông tin cơ sở
Đây là những thông tin cơ bản phản ánh khái quát về lĩnh vự kinh doanh cũng
như tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Thứ nhất là thu thập thông tin về ngành nghề và công việc kinh doanh của
khách hàng làm cơ sở cho việc cho việc đánh giá rủi ro tiềm tàng có thể gặp phải
11
cũng như vận dụng thủ tục kiểm toán cho phù hợp. Ví dụ tại một doanh nghiêp kinh
doanh thương mại các nghiệp vụ bán hàng với số lượng lớn và thanh toán sau nên khi
kiểm toán khoản phải thu chứa đựng rủi ro hơn với những doanh nghiệp sản xuất bán
với số lượng nhỏ và thường thanh toán ngay.Vì vậy, khi kiểm toán khoản phải thu tại
doanh nghiệp thương mại tiến hành cẩn thận, mở rộng phạm vi kiểm toán thu thập
nhiều bằng chứng hơn so với công ty sản xuất bán với số lượng nhỏ. Việc thu thập
thông tin cơ sở được quy định trong chuẩn mục kiểm toán Viết Nam số 300 như sau:
‘Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV phải biết về hoạt động kinh doanh của khách hàng
để nhận biết các sự kiện, nghiệp vụ nào có thể ảnh hưởng trọng yếu tới BCTC’. Các
thông tin cần thu thập trong giai đoạn này như sau:
• Đặc điểm về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh… và những ảnh hưởng của
đặc điểm này tới khoản phải thu như quy mô, tính chất thời điểm thu hồi và
rủi ro có thể sảy ra đối với khoản phải thu. Ví dụ như doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực xây lắp lắp đặt thì khoản phải thu phát sinh lớn và thời
hạn thanh toán dài.
• Ảnh hưởng của ngành nghề hoạt động kinh doanh tới cơ cấu tổ chức và công
tác hoạch toán kế toán của khách hàng. Ví dụ như đơn vị EVN - Telecom
kinh doanh mạng, điện thoại Điện lực….. thì có nhiều đơn vị điện lực khắp
cả nước nên việc hoạch toán thu thập chứng từ không tập trung, còn một
doanh nghiệp sản xuất thông thường các phát sinh trong quá trình hoạt động
chỉ tập trung một nơi nên dễ dàng hoạch toán kế toán theo kiểu tập trung.
KTV còn phải xem xét những khác biệt của khách hàng kiểm toán với những
đơn vị trong cùng ngành nghề ảnh hưởng tới công tác kế toán nói chung và
hoạch toán khoản phải thu nói riêng.
hội đồng quản trị có ảnh hưởng tới việc hình thành và trình bày trung thực
các thông tin trên BCTC. KTV phải xem xét các quy định của đơn vị về phê
chuẩn các nghiệp vụ bán chịu, chính sách quản lý và thu hồi phải thu, phân
công trách nhiệm cụ thể đối với từng cá nhân, phòng ban có liên quan.
• Các hợp đồng và cam kết quan trọng: Giúp KTV tiếp cận với các hoạt động
chính của khách hàng. Trong kiểm toán khoản phải thu KTV cần xem xét
13
dấu hiệu của việc xét duyệt bán chịu, điều khoản về thời hạn, phương thức
thanh toán; tiền phạt bồi thường nếu vi phạm hợp đồng.
Tìm hiểu HTKSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát
Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lý, nó không chỉ là một giai
đoạn của quản lý mà nó được thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình này. Chức
năng kiểm tra kiểm soát được thực hiện chủ yếu bởi HTKSNB của doanh nghiệp.
Theo liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), HTKSNB là hệ thống chính sách và thủ
tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị; đảm
bảo độ tin cậy của các thông tin; đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm
bảo hiệu quả của hoạt động.
Khi tìm hiểu HTKSNB của khách hàng KTV cần nhận thức rằng mỗi
HTKSNB dù được thiết kế hoàn hảo tới đâu cũng không thể ngăn ngừa hay phát
hiện hết sai phạm có thể sảy ra đó chính là hạn chế cố hữu của HTKSNB. Phần lớn
công tác kiểm soát nội bộ thường chú ý tới các nghiệp vụ lặp đi lặp lại mà không
tác động tới các nghiệp vụ bất thường. Hơn nữa còn có các rủi ro do sai sót xuất
phát từ sự thiếu chú ý của con người hoặc do thiếu kinh nghiệm…
HTKSNB được cấu thành bởi ba bộ phận chủ yếu sau:
Một là môi trường kiểm soát: Nó bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong và bên
ngoài đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và sử lý dữ
liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ. Khi kiểm toán khoản phải thu cần xem xét
quan điểm thái độ và nhận thức của ban quản tri và ảnh hưởng của yếu tố môi
trường đến việc quản lý, kiểm soát và thu hồi nợ phải thu.
Thứ hai là hệ thống kế toán: Hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ thống
khoản phải thu kỳ này với kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau, đầu kỳ với cuối kỳ,
số thực tế với số kế hoạch hay ước tính chủ quan của KTV, so sánh số liệu của
khách hàng với số liệu chung của ngành, của các đơn vị có cùng quy mô….
Thứ hai là phân tích dọc: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ
tương quan của các chỉ tiêu của các khoản mục trên BCTC. Các tỷ suất tài chính
dùng trong phân tích dọc khi kiểm toán khoản phải thu là: Tỷ suất số vòng quay
khoản phải thu, tỷ lệ nợ khó đòi so với tổng số nợ phải thu và tổng tài sản..
Đánh giá trọng yếu và rủi ro
15
Đây là bước công việc hết sức quan trọng đối với việc lập kế hoạch và thiết
kế chương trình kiểm toán. Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 ‘Trọng
yếu là khái niệm chỉ quy mô hay tầm cỡ và bản chất của các sai phạm của các của
các thông tin tài chính hoặc là đơn lẻ hoặc là từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể
nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác hoặc sẽ rút ra
kết luận sai lầm’. Trên góc độ người sử dụng thông tin một cách đơn giản là một
thông tin quan trọng và cần phải được trình bày nếu nó có khả năng ảnh hưởng tới
các quyết định của người sử dụng. Nhiệm vụ của KTV là xác định xem các BCTC
có sai phạm trọng yếu hay không. Vì vậy đánh giá trọng yếu rất quan trọng nhất là
trong giai đoạn lập kế hoạch KTV phải đánh giá mức trọng yếu để ước lượng mức
độ sai sót có thể chấp nhận được, xác định phạm vị, quy mô các thử nghiệm. Mức
trọng yếu chỉ là tương đối phụ thuộc vào ước tính chủ quan của KTV một sai phạm
có thể trọng yếu với đơn vị này nhưng lại không trọng yếu với đơn vị khác.
Ước lượng ban đầu về mức trọng yếu là ước lượng tối đa mà KTV tin rằng ở
mức độ đó BCTC có thể chứa đựng các sai phạm nhưng không ảnh hưởng tới quyết
định đúng đắn của người sử dụng thông tin tài chính. Mức trọng yếu ban đầu quyết
định tới số lượng và chất lượng của bằng chứng kiểm toán cần thu thập. Mức trọng
yếu ban đầu không cố định mà có thể thay đổi tuỳ thuộc và những phát hiện của
KTV trong quá trình thực hiện kiểm toán. Dù ước lượng ban đầu vè mức trọng yếu
là một xét đoán chủ quan song các công ty kiểm toán thường đưa ra những phương
pháp cho các KTV ước lượng ban đầu về mức trọng yếu. Sau đây là bảng ví dụ về
yếu được xác định cho toàn bộ BCTC và phân bổ cho từng khoản mục KTV đánh giá
khả năng sảy ra sai phạm trọng yếu đối với toàn bộ BCTC cũng như từng khoản mục
để lập kế hoạch và thiết kế chương trình kiểm toán cho phù hợp.
Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà KTV có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần về
những BCTC trình bày sai lệnh trọng yếu. Rủi ro kiểm toán có thể dẫn đến các vụ
kiện hoặc bồi thường vật chất của các công ty khách hàng cũng như người sử dụng
thông tin. Rủi ro xuất phát từ sai lệch tiềm ẩn trong BCTC đã vượt quá HTKSNB của
đơn vị mà không bị thử nghiệm cơ bản trong quá trình kiểm toán phát hiện.
Rủi ro kiểm toán nằm trong khoảng từ 0 đến 1 ( 0 đến 100% ). Khi xác định rủi ro
bằng 0 tức là đảm bảo hoàn toàn về tính chính xác của BCTC là không thực hành tiết
kiệm. Ngược lại nếu rủi ro kiểm toán là 1 nghĩa là bất kỳ cuộc kiểm toán nào KTV
đều đưa ra nhận xét sai lệch trong yếu. Khi đánh giá rủi ro kiểm toán KTV cần đánh
giá ba loại rủi ro như sau:
Rủi ro tiềm tàng: là khả năng tồn tại các sai phạm trong yếu trong bản thân các
đối tượng kiểm toán khi chưa tính tới tác động của bất cứ hoạt động kiểm soát nào.
Một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới rủi ro tiềm tàng là; Bản chất công việc
kinh doanh của khách hàng, tính liêm chính của ban quản trị. động cơ của khách hàng
kiểm toán, kết qủa của lần kiểm toán trước, khách hàng lần đầu hay khách hàng
17
quen thuộc, các nghiệp vụ không thường xuyên, Số lượng tiền của số dư tài khoản,
trình độ ban giám đốc và các nhân viên
Rủi ro kiểm soát (CR) là khả năng HTKSNB của đơn vị kiểm toán không phát
hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu. KTV không tạo ra rủi
ro kiểm soát và cũng không kiểm soát được chúng. Họ chỉ có thể đánh giá HTKSNB
của đơn vị được kiểm toán và từ đó đưa ra mức rủi ro kiểm soát dự kiến. Nếu cơ cấu
kiểm soát nội bộ hoàn toàn không hiểu quả đối với việc ngăn ngừa hoặc phát hiện sai
sót, do đó KTV sẽ phân bổ 100% yếu tố rủi ro cho rủi ro kiểm soát. Cơ cấu kiểm soát
nọi bộ càng hiệu quả thì yếu tố rủi ro kiểm soát được phân bổ càng thấp.
Trước khi các kiểm toán có thể sử dụng một mức rủi ro kiểm soát thấp hơn mức
tối đa 100%, họ phải làm ba việc: có một sự hiểu biết về cơ cấu kiểm soát nội bộ của
đòi, nợ xấu ----> Chi phí
• Khoản mục này có liên quan mật thiết với việc xác định kết quả kinh doanh do
đó các doanh nghiệp thường thổi phồng doanh thu và lợi nhuận để thu hút vốn
đầu tư, hoặc cắt giảm nhằm trốn thuế nhà nước.
• Khoản phải thu được ghi nhận theo giá trị thuần có thể thực hiện được, còn
việc trích lập dự phòng phải thu khó đòi lại phụ thuộc vào ước tính chủ quan
của nhà quản lý nên nhiều khi các khoản phải thu không có khả năng thu hồi
không vẫn được phản ánh như là tài sản của đơn vị.
Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro: Trọng yếu và rủi ro là hai khái niệm có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là mối quan hệ tỷ lệ nghịch tức là mức trọng yếu
càng cao thì rủi ro càng thấp và ngược lại. Từ đó ta thấy đối với những khoản mục
càng trọng yếu thì KTV phải thu phải thu thập càng nhiều bằng chứng có giá trị để có
thể đưa ra ý kiến chính xác về BCTC của doanh nghiệp.
Thiết kế chương trình kiểm toán
19
Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán
cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các KTV cũng
như dự kiến về tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập. Trọng tâm của
thủ tục kiểm toán là thủ tục kiểm toán cần thực hiện đối với từng khoản mục được
kiểm toán. Một chương trình kiểm toán phù hợp tạo điều kiện thuận lợi cho KTV
thực hiện công tác kiểm toán được hiệu quả vì:
Thứ nhất là chương trình kiểm toán sắp xếp tổ chức công việc và nhân lực một
cách hợp lý, đảm bảo sử dụng tối đa các nguồn lực.
Thứ hai đây là công cụ hữu hiệu để những người có trách nhiệm quản lý, kiểm
soát chất lượng kiểm toán, đánh giá được tiến độ công việc cũng như hiệu quả làm
việc của các trợ lý kiểm toán.
Thứ ba là chương trình kiểm toán là bằng chứng để chứng minh các thủ tục
kiểm toán đã được thực hiện
Chương trình kiểm toán khoản phải thu bao gồm các nội dung sau đây:
Tên chương trình kiểm toán
việc), kiểm tra ngược. Tuy nhiên khi thực hiện các phương pháp thu thập bằng chứng
kiểm toán trên cần lưu ý thực hiện các biện pháp một cách đồng bộ, phải lựa chọn
các biện pháp kỹ thuật phải phù hợp với đối tượng được kiểm tra.
Thủ tục kiểm soát đối với khoản phải thu thường có đặc điểm sau:
Thứ nhất: Do đặc điểm của kiểm toán khoản phải thu phát sinh với nhiều khách
hàng, đối tượng khác nhau nên khi hoạch toán doanh nghiệp phải theo dõi nợ phải thu
theo từng đối tượng, mỗi đối tượng có một mã số riêng để theo dõi tránh nhầm lẫn.
Chỉ được đối trừ nợ phải thu với nợ phải trả của cùng một đối tượng khách hàng.
Thứ hai: Các khoản phải thu cần được theo dõi chặt chẽ, phê duyệt đầy đủ đối
với các nghiệp vụ bán chịu, các khoản giảm trừ, giảm giá phải được xem xét cẩn thận
bởi người có thẩm quyền. Thường xuyên đánh giá lại các khoản nợ phải thu đặc biệt
là những khoản ít biến động để trích lập dự phòng, định kỳ đối chiếu công nợ với
khách hàng … hạn chế gian lận, phát hiện sai sót nếu có để điều chỉnh.
Hai là thủ tục phân tích: Quy trình phân tích bao gồm cả việc so sánh các thông
tin tài chính và mối quan hệ giữa chúng. Thực hiện thủ tục phân tích trong giai đoạn
21
thực hiện kiểm toán nhằm mục đích kiểm tra chính xác hợp lý các khoản mục. Các
thủ tục phân tích thường áp dụng đối với khoản phải thu là:
Một là tập hợp danh sách đối tượng có số dư khoản phải thu đối chiếu với sổ
chi tiết, sổ tổng hợp và BCTC, và báo cáo kiểm toán năm trước. So sánh khoản phải
thu kỳ này với kỳ trước để đánh giá tình hình và khả năng thu hồi nợ.
Hai là phân tích tuổi nợ và trích lập dự phòng phải thu khó đòi. KTV phân
tích tỷ trọng của các khoản phải thu, tuổi nợ và ước tính dự phòng phải thu khó đòi
để đánh giá khả năng thu hồi tính đúng đắn của việc trích lập dự phòng và ghi nhận
khoản phải thu của doanh nghiệp.
Ba là tính ra và so sánh số ngày thu hồi nợ bình quân kỳ này với kỳ trước, so
sánh số liệu chung của ngành, các doanh nghiệp khác có cùng quy mô.
Trong quá trình phân tích KTV cần lưu ý kết hợp kiểm toán khoản phải thu
với khoản mục có liên quan như doanh thu, thuế….
Ba là thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết: Đó là việc áp dụng các biện pháp kỹ
bày
- Đối chiếu các khoản phải thu trên bảng kê với sổ sách,
chứng từ về nội dung kinh tế
- Gửi thư xác nhận, kiểm tra chi tiết đối với những nghiệp vụ
bất thường
Đúng kỳ - Kiểm tra các hoá đơn trước và sau ngày khoá sổ đối chiếu
ngày tháng với sổ sách
Tính chính xác cơ
học
- Tính toán lại một số khoản thu có nghi ngờ và đối chiếu với
sổ sách chứng từ có liên quan
- Đối chiếu cộng dồn trên sổ nhật ký với số dư trên sổ cái
- Đối chiếu các bút toán trên sổ cái sổ chi tiết khoản phải thu
và hoá đơn, hợp đồng..
( Nguồn: Tài liệu công ty UHY LTD)
1.3.3.3 Hoàn thành và công bố báo cáo kiểm toán
Đây là giai đoạn KTV phải phát hành báo cáo kiểm toán trong đó đưa ra ý kiến
về tính trung thực và hợp lý của BCTC. Ngoài ra KTV còn có thể cung cấp thêm thư
quản lý, xây dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán và HTKSNB.
23
Thứ nhất: KTV xem xét các khoản công nợ ngoài dự kiến. Đây là những khoản
công nợ có thể thuộc quyền và nghĩa vụ của khách hàng nhưng tính tới thời điểm lập
BCTC vẫn chưa có kết luận cuối cùng là có sảy ra hay không. Thủ tục kiểm toán áp
dụng là: trao đổi với nhà quản lý, xem xét biên bản họp hội đồng quản trị hoặc hỏi ý
kiến chuyên gia.
Nếu KTV cho rằng đây là những khoản công nợ có ảnh hưởng trọng yếu tới
BCTC phải được thuyết mình trên bảng khải tài chính.
Thứ hai: Xem xét các sự kiện sảy ra sau ngày kết thúc kiểm toán.
Có hai sự kiện sảy ra sau ngày kết thúc kiểm toán nhưng trước thời điểm công
Thứ ba: Ý kiến không chấp nhận được đưa ra trong trường hợp có những vấn đề
không thống nhất với giám đốc là quan trọng hoặc liên quan tới một số lượng lớn các
khoản mục đến mức độ mà KTV cho rằng ý kiến chấp nhận từng phần là chưa đủ để
thể hiện tính chất và mức độ sai sót trọng yếu của BCTC. [1, 177 ]
Thứ tư: Ý kiến từ chối được đưa ra trong trường hợp hậu quả của việc giới hạn
phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc thiếu thông tin liên quan tới một số lượng lớn
các khoản mục mà KTV không thể thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán làm cơ
sở cho việc đưa ra ý kiến của mình. [1, 176 ]
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC PHẢI THU
KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BCTC DO CÔNG TY TNHH
DỊCH VỤ KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN UHY THỰC HIỆN
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH dịch vụ kiểm toán và Tư vẫn UHY
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty dịch vụ kiểm toán và tư vấn
UHY
25