Tài liệu Tiểu luận về hệ thống tiền tệ quốc tế và chế độ tỷ giá - Pdf 97

Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh
KHOA TÍN DỤNG
MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ
VÀ CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ
NHÓM 5 – LỚP ĐH23A05
Khổng Thị Mai Linh (NT)
Nguyễn Thị Kim Ngân
Nguyễn Hồng Phúc
Nguyễn Kỳ Thanh
Phùng Thị Cẩm Uyên
GVHD: Nguyễn Xuân Trường
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 11 năm 2009
1
MỤC LỤC
Trang
I/ MỞ ĐẦU
2
II/ CÁC HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ
3
1. Giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ nhất
3
1.1. Hệ thống song bản vị
3
1.2. Hệ thống bản vị vàng cổ điển
5
2. Hệ thống tiền tệ quốc tế giữa hai cuộc đại chiến thế giới
7
3. Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai
8

nhận làm tiền tệ phục vụ nhu cầu trao đổi giữa các quốc gia. Trong lịch sử có
nhiều loại hàng hóa đã được sử dụng làm tiền tệ, nhưng vì một vài tính chất đặc
biệt như sự quý giá, tính bền dẻo, dễ gia công, dễ vận chuyển hay cất trữ, chất
lượng được duy trì lâu bền… nên lúc này kim loại đã được chọn làm vật trung gian
trao đổi hàng hóa, trong đó, vàng và bạc là hai kim loại được ưa chuộng hơn cả.
Đến đầu thế kỷ 19, vàng đã được sử dụng phổ biến để đúc thành tiền ở hầu hết các
nước. Mặt khác, sự phát triển khoa học kỹ thuật đã làm cho nền sản xuất hàng hóa
ngày càng phát triển, việc trao đổi hàng hóa ngày càng qui mô hơn, phức tạp hơn,
nó không còn gói gọn trong một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nữa, mà ngày
càng mở rộng ra phạm vi toàn cầu. Khi đó ắt nổi lên một thách thức hai mặt: làm
sao để vừa tôn trọng chủ quyền tiền tệ của các nhà nước, vừa làm dễ dàng các trao
đổi giữa các quốc gia luôn tranh nhau được lợi. Do vậy, các quốc gia trên thế giới
đã cùng đi tới những thỏa thuận, những quy ước chung về giao dịch thương mại
toàn cầu, từ đó, hệ thống tiền tệ quốc tế ra đời.
Hệ thống tiền tệ quốc tế (The International Monetery System – IMS) là
hệ thống các tập quán, quy tắc, thủ tục và các tổ chức quốc tế điều hành các
quan hệ tài chính giữa các quốc gia.
Hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành trên cơ sở quan hệ thương mại -
tài chính giữa các nước, bao gồm các chế tài điều tiết quan hệ tài chính giữa các
quốc gia, các định chế tài chính quốc tế và chế độ tỉ giá của các quốc gia.
Trong đó, chế độ tỷ giá (exchange rate regime) của một quốc gia là tập
hợp các quy tắc, cơ chế xác định và điều tiết tỷ giá của quốc gia đó. Về mặt thuật
ngữ, chế độ tỉ giá còn có tên gọi khác là cơ chế tỷ giá (exchange rate mechanism)
hay cấu trúc tỷ giá (exchange rate arrangement). Tỷ giá vừa là một phạm trù kinh
tế vừa là một công cụ của chính sách kinh tế của chính phủ. Do vậy, chế độ tỉ giá
chứa đựng yếu tố chủ quan, tức là mỗi quốc gia có thể lựa chọn cho mình một chế
độ tỉ giá nhất định, và chế độ tỉ giá của mỗi quốc gia có thể thay đổi theo thời gian.
3
II/ CÁC HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ
1. Giai đoại trước chiến tranh thế giới thứ nhất (trước năm 1914)

trị quy đổi theo giá thị trường. Để tạo cho thị trường có sự thống nhất trong việc
lưu thông tiền tệ, nhà nước đã quy định tỉ lệ cố định của đồng tiền vàng và bạc, đó
chính là chế độ bản vị kép.
2. Chế độ bản vị kép: Là chế độ song bản vị mà trong đó nhà nước quy định
cụ thể tỷ giá trao đổi giữa tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc. Tuy nhiên, trên
thực tế, các quốc gia thường đúc những đồng xu bằng vàng và bạc hay với những
4
kim loại khác rẻ tiền hơn. Hiện tượng này được gọi là hiện tượng “Bào mòn giá trị
thực tế của tiền xu – Debasement”. Ví dụ rõ ràng nhất cho hiện tượng này là những
gì diễn ra tại Anh giữa những năm 1540 và 1560: Đồng tiền bị bào mòn giá trị
(đồng tiền được định giá cao trong phương tiện trao đổi) đã loại đồng tiền có giá trị
đầy đủ (đồng tiền bị định giá thấp trong phương tiện trao đổi) ra khỏi lưu thông
theo quy luật Gresham: “Đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt” (Bad money drives out
good money). Điều này dẫn đến việc nữ hoàng Anh phải tuyên bố thu hồi và đúc
lại toàn bộ số tiền xu trong lưu thông.
Một minh chứng nữa cho quy luật Gresham xảy ra tại Mĩ. “Luật đúc tiền”
được quốc hội Mĩ thông qua năm 1792, theo đó, đồng đôla là đơn vị tiền tệ của Mỹ
có giá cố định với vàng và bạc với tỷ lệ trao đổi cố định là “1USD = 24.75 grains
vàng = 371.25 grains bạc”, tức tỉ lệ trao đổi vàng : bạc là 15:1. Nhưng càng về gần
cuối thế kỉ 18, giá bạc trên thị trường thế giới ngày càng giảm do lượng bạc khai
thác ngày càng nhiều. Mặt khác, một số nước trên thế giới cũng ấn định tỉ lệ giữa
vàng và bạc, việc chênh lệch tỉ lệ trao đổi của vàng và bạc giữa các nước đã kích
thích việc trao đổi hàng hóa với phương tiện là vàng hay bạc sao cho có lợi nhất ở
từng quốc gia. Ví dụ như nước Pháp khi đó quy định tỉ lệ trao đổi vàng: bạc là
15.5:1. Do đó, với vai trò là phương tiện lưu thông, vàng bị định giá quá thấp ở Mĩ
nhưng lại được định giá cao ở Pháp, hay bạc bị định giá thấp ở Pháp nhưng được
định giá cao ở Mĩ. Hiện tượng này làm cho quy luật Gresham phát huy tác dụng,
dẫn đến vàng từ từ biến khỏi lưu thông của nước Mĩ. Và đến năm 1834, Quốc hội
Mĩ quyết định tăng giá vàng lên đến mức tỉ lệ trao đổi vàng : bạc là 16:1 trong khi
các quốc gia khác vẫn giữ nguyên tỉ lệ trao đổi đã quy định. Đến lúc này, quy luật

điển.
1.2. Hệ thống bản vị vàng cổ điển
Tại Mỹ, quyết định chuyển đổi từ USD ra vàng mà không chuyển đổi ra
bạc vào năm 1879 là bước ngoặt quan trọng cho sự ra đời của hệ thống bản vị
vàng. Nhưng đến năm 1900, hệ thống này mới được chính thức phê chuẩn thông
qua Đạo luật bản bị vàng. Trong khoảng thời gian 30 năm từ 1880 đến 1914, hệ
thống bản vị vàng đã phát triển và thống trị ở hầu hết các quốc gia, nó đã liên kết
chặt chẽ các quốc gia với nhau cũng như giữa các nước thống trị và các nước thuộc
địa.
Hệ thống bản vị vàng thực chất là chế độ tỉ giá cố định dựa trên tỉ lệ ngang
giá vàng của mỗi đồng tiền quốc gia. Hệ thống này hoạt động dựa trên ba nguyên
tắc:
Thứ nhất, dưới chế độ bản vị vàng, các quốc gia ấn định giá trị đồng tiền
của mình với vàng, hay nói cách khác là chính phủ ấn định giá vàng tính bằng tiền
quốc gia, đồng thời sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã ấn
định. Tỉ giá hối đoái giữa các đồng tiền của các quốc gia được xác định thông qua
vàng.
Thứ hai, dưới chế độ bản vị vàng, xuất và nhập khẩu vàng giữa các quốc
gia được tự do hoạt động. Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia với
nhau nên tỷ giá trao đổi thực tế trên thị trường tự do không biến động đáng kể so
với bản vị vàng.
Thứ ba, dưới chế độ bản vị vàng, Ngân hàng trung ương luôn phải duy trì
một lượng vàng dự trữ trong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành, tức tiền
do NHTW phát hành được “bảo đảm bằng vàng 100%” và tiền được chuyển đổi tự
do không hạn chế ra vàng.
Qua đó, ta có thể thấy trong chế độ bản vị vàng, lượng vàng dự trữ của một
quốc gia quyết định lượng cung tiền của quốc gia đó. Chính phủ điều tiết mức
cung tiền nội địa theo cùng chiều với dòng lưu chuyển vàng: Khi dòng vàng nhập
vào tăng (cán cân thanh toán thặng dư, phần thặng dư được thanh toán bằng vàng)
thì dự trữ vàng tăng dẫn đến lượng cung tiền tăng và ngược lại, khi dòng xuất vàng

phát triển, luồng vốn lưu chuyển tự do giữa các quốc gia để tìm kiếm lợi nhuận
cao nhất.
- Cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán vận hành trơn tru. Với cơ chế dòng
vàng - giá cả như đã nêu ở trên, những bất cân đối trong cán cân thanh toán của
các quốc gia sẽ tự động được điều chỉnh về trạng thái cân bằng. Trong trường
7
hợp các quốc gia tuân thủ những quy tắc của hệ thống, cơ chế dòng vàng – giá
cả trên sẽ vận hành một cách trơn tru và hiệu quả.
- Mâu thuẫn quyền lợi giữa các quốc gia ít khi xảy ra. Vì có sự tác động của
cơ chế dòng vàng – giá cả nên những thâm hụt hay thặng dư trong cán cân thanh
toán của một quốc gia được điều chỉnh một cách tự động theo quan hệ cung cầu
phổ biến, do đó, trong thời kì này ít khi xảy ra những mâu thuẫn về quyền lợi
giữa các quốc gia.
Tuy nhiên, chế độ bản vị vàng cũng tồn tại một số hạn chế như:
- Nền kinh thế thường xuyên phải trải qua sự bất ổn định vì cơ chế điều chỉnh
cán cân thanh toán quốc tế thông qua sự thay đổi mức giá cả, lãi suất, thu nhập
và thất nghiệp.
- Quốc gia có thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế phải trải qua thời kì kinh
tế đình đốn, tỷ lệ thất nghiệp cao; trong khi đó quốc gia có thặng dư cán cân
thanh toán thì phải trải qua thời kì lạm phát.
- Những mỏ vàng có thể phát hiện bất cứ lúc nào, do đó làm tăng lượng cung
ứng tiền và có thể dẫn đến tình trạng lạm phát. Ngược lại, ở những quốc gia
khan hiếm vàng thì sẽ bị hạn chế lượng cung ứng tiền, và trở thành nguyên nhân
gây kìm hãm nền kinh tế.
- Mặt khác, trong chế độ bản vị vàng không có những cơ chế ràng buộc các
quốc gia phải tuân thủ các quy tắc của hệ thống nên trên thực tế, quy tắc về đảm
bảo số tiền phát hành trên cơ sở lượng vàng dự trữ thường bị bỏ qua.
- Với cơ chế điều chỉnh thông qua dòng vàng lưu chuyển tự do giữa các quốc
gia và việc phát hành tiền dựa trên lượng vàng dự trữ khiến cho việc điều hành
của Ngân hàng trung ương kém linh động, vai trò của Ngân hàng trung ương

3. Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai (từ năm 1946 đến nay)
3.1. Hệ thống Bretton Woods:
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Châu Âu bị tàn phá nặng nề, nền
kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, vào thời điểm này,
tiềm lực kinh tế của nước Mỹ lại trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, trong vòng hai
thập kỉ đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai Mỹ là trung tâm kinh tế, tài chính duy
nhất của thế giới. Đặc biệt, Mỹ nắm đến gần 75% trữ lượng vàng thế giới. Nhằm
khôi phục nền kinh tế thế giới, cải tổ hệ thống tiền tệ quốc tế tránh được những sai
lầm trước đây, cũng như tạo ra một trật tự tiền tệ quốc tế mới để tránh sự tan rã các
mối quan hệ tiền tệ trên phạm vi quốc tế vào những năm 1930s, một hội nghị đã
được tổ chức tại Bretton Woods, New Hampshire, Mỹ với sự tham gia của 730 đại
biểu tới từ 44 quốc gia trên thế giới trong đó có Mỹ, Anh, Pháp, Đức,… Tại hội
nghị này, hệ thống Bretton Woods đã được phê chuẩn cùng với sự ra đời của hai tổ
chức tài chính quốc tế:
- Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund – IMF) có nhiệm vụ
theo dõi giám sát hoạt động của hệ thống tiền tệ quốc tế.
- Ngân hàng thế giới (World Bank – WB) có nhiệm vụ hỗ trợ cho các nước
Châu Âu phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh và huy động vốn từ những nước
phát triển để cho vay lại với lãi suất thấp ở những nước nghèo, kém phát triển
nhằm giúp họ phát triển nền kinh tế.
Tại hội nghị Bretton Woods, các quốc gia đã thống nhất những quy định
của hệ thống tiền tệ quốc tế:
9
Thứ nhất là hệ thống tỉ giá cố định nhưng có thể điều chỉnh. Hệ thống
Bretton Woods quy định các quốc gia ấn định tỉ giá trung tâm của đồng nội tệ với
USD và tỉ giá này chỉ được phép dao động trong khoảng +-1%. Bên cạnh đó, các
quốc gia phải đồng ý chuyển đổi không hạn chế đồng nội tệ ra USD và ngược lại
tại mức tỉ giá đã ấn định cho các giao dịch trên tài khoản vãng lai. Trong khi đó,
Mĩ đảm bảo giữ giá trị đồng USD với vàng theo tỉ lệ $35/ounce vàng và Mĩ cam
kết chuyển đổi không hạn chế USD ra vàng tại mức giá này.

Marshall. Sau đó, tổ chức này chuyển thành “Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh
tế châu Âu (OECD)”. Và để hạn chế tối đa sự tham gia của USD, năm 1950, “Hiệp
10
hội thanh toán Châu Âu - EPU” chính thức hoạt động giúp các nước thành viên có
thể thanh toán bù trừ lẫn nhau. Tuy nhiên, những nguy cơ đe dọa xảy ra chiến
tranh lạnh bắt đầu từ cuộc chiến tranh Triều Tiên cùng với quá trình tái vũ trang
dẫn đến kế hoạch Marshall phải kết thúc vào năm 1951 dù viện trợ Mĩ dưới nhiều
hình thức khác nhau vẫn tiếp tục sau đó. Mặc dù vậy, kế hoạch Marshall vẫn đóng
vai trò quan trọng trong quá trình khôi phục nền kinh tế các nước Châu Âu. Trong
những năm từ 1948 đến 1951, tổng số viện trợ nằm trong kế hoạch này lên đến
hơn 12,7 triệu USD, giai đoạn này nền kinh tế các nước Châu Âu cũng phát triển
chưa từng có, sản lượng công nghiệp tăng 35%, sản xuất nông nghiệp vượt mức
trước chiến tranh.
Vào những năm 1950s, nền sản xuất các nước Châu Âu và Nhật phát triển
mạnh mẽ, cán cân thanh toán thặng dư, nguồn dự trữ USD trở nên dồi dào trong
khi cán cân cơ bản của Mỹ lại trở nên thâm hụt. Những thâm hụt trong cán cân cơ
bản của Mĩ chưa trở thành vấn đề nghiệm trọng nếu tổng lượng vàng dự trữ của Mĩ
vẫn lớn hơn tổng tài sản nợ bằng USD của Mĩ. Tuy nhiên, khi gói trợ cấp Marshall
kết thúc, nền kinh tế các nước Châu Âu phục hồi mạnh mẽ và tích đủ dự trữ ngoại
hối phục vụ nhu cầu chuyển đổi, nhiều nước tiến hành chuyển dự trữ USD của
mình ra vàng, hàng rào thương mại cũng được dỡ bỏ thì “Hiệp hội thanh toán
Châu Âu – EPU” cũng được giải thể. Lúc này, vấn đề cán cân cơ sở bị thâm hụt
của Mĩ trở nên nghiêm trọng.
Trong giai đoạn này, đồng USD cũng phải đối mặt với sự tấn công mạnh
mẽ của những nhà đầu cơ tiền tệ trên thế giới, đứng trước sức ép phá giá so với
vàng. Tuy nhiên, vì những thỏa ước của hệ thống Bretton Woods với chế độ tỉ giá
cố định, đồng USD không thể phá giá so với vàng. Trong khi đó, các nước có cán
cân vãng lai thặng dư cũng không muốn tăng giá đồng tiền của mình hay thực hiện
chính sách tiền tệ thu hẹp. Điều này khiến cho tình trạng dư thừa USD càng sâu
sắc hơn, hệ thống Bretton Woods đứng trước nguy cơ khủng hoảng. Nhằm tránh

các nước trên thế giới dự trữ ngoại hối bằng USD, và việc này chỉ xảy ra khi đồng
USD còn được tự do chuyển đổi ra vàng tại mức giá $35/ 1 ounce. Khi thương mại
quốc tế phát triển, dự trữ ngoại hối của các quốc gia khác tăng, cán cân thanh toán
thặng dư, đồng nghĩa với cán cân thanh toán của Mĩ phải luôn luôn thậm hụt mới
đáp ứng được nhu cầu thanh khoản của hệ thống. Tuy nhiên, nếu cán cân thanh
toán của Mĩ cứ thâm hụt trong dài hạn thì sẽ làm xói mòn lòng tin của các nước
vào đồng USD, làm giảm tính hiệu lực của hệ thống Bretton Woods. Mặt khác,
nếu Mĩ áp dụng các biện pháp nhằm cải thiện cán cân thanh toán thì sẽ dẫn đến
thiếu hụt thanh khoản của hệ thống, tạo áp lực thiểu phát nền kinh tế thế giới. Hiện
tượng trên được gọi là “nghịch lí Triffin”, là một trong những nguyên nhân cơ bản
về sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods.
Theo Jurg Niehans và Paul De Grawe, dựa vào quy luật Gresham: “Đồng
tiền xấu đuổi đồng tiền tốt ra khỏi lưu thông – Bad money drives out good
money”. Trong trường hợp hệ thống Bretton Woods, hai hàng hóa có liên quan là
vàng và USD. Mĩ đồng ý chuyển đổi không hạn chế USD ra vàng tại mức giá
$35/1 ounce trong khi chỉ số giá cả tại Mĩ tăng đến 40% trong khoảng thời gian từ
năm 1959 đến năm 1969, tức là nếu các nhân tố khác không đổi, giá vàng trên thị
trường tự do cũng tăng 40%. Sự chênh lệch giữa giá chính thức và giá trên thị
trường tự do đã dẫn đến vàng bị định giá quá thấp trong khi đồng USD được định
giá cao trong lưu thông, điều này khiến cho vàng dần biến mất khỏi lưu thông, tạo
áp lực phá giá đồng USD buộc tổng thống Nixon tuyên bố ngừng chuyển đổi USD
ra vàng, hệ thống Bretton Woods sụp đổ.
12
Do sự thiếu vắng một cơ chế điều chỉnh. Trong chế độ Bretton Woods, Mỹ
luôn phải chịu sự thâm hụt cán cân thanh toán để đảm bảo thanh khoản cho toàn hệ
thống. Chính phủ Mĩ cũng không thể phá giá đồng USD với vàng vì như vậy sẽ
làm xói mòn lòng tin vào hệ thống Bretton Woods. Mĩ cũng không thể cải thiện
cán cân thanh toán nếu các nước nhập khẩu duy trì tỉ giá cố định với đồng USD.
Điều này khiến Mĩ phải áp dụng chính sách thiểu phát nền kinh tế. Trên thực tế,
Mĩ cực kì miễn cưỡng khi phải áp dụng chính sách này. Bên cạnh đó, những quốc

vào mức độ thâm hụt cán cân thanh toán của Mĩ. Điều này làm dấy lên mối lo ngại
13
tăng trưởng kinh tế quốc tế có thể bị kìm hãm. Nhận thấy nguy cơ này, các nước
thành viên IMF đã thống nhất đưa ra “Sửa đổi lần thứ nhất các điều khoản của
IMF năm 1967”, theo đó trao cho IMF quyền mở các tài khoản rút vốn đặc biệt để
bổ sung vào hạn mức tín dụng của mình. Đến năm 1969, Quyền rút vốn đặc biệt
(Special Drawing Rights – SDR) chính thức ra đời.
SDR là một tài sản dự trữ quốc tế, giá trị của nó được hình thành trên cơ sở
sự chấp nhận là phương tiện thanh toán của các ngân hàng trung ương các nước
thành viên với IMF. SDR trên thực tế là một đồng tiền ghi sổ, IMF sẽ phân bổ cho
mỗi quốc gia một lượng SDR tỉ lệ thuận với hạn mức tín dụng của nó tại IMF. Khi
gặp những thiếu hụt về thanh khoản hay thâm hụt cán cân thanh toán, các quốc gia
có thể rút SDR từ tài khoản của mình tại IMF mà không cần tham khảo ý kiến
IMF, không cần có bất cứ điều kiện nào kèm theo và không là đối tượng hoàn trả.
Quốc gia rút SDR có thể đổi lấy đồng tiền quốc gia khác để tăng dự trữ ngoại hối
và phải trả lãi cho quốc gia đó. Các mức lãi suất của SDR cung cấp trên cơ sở tính
toán lãi suất cho từng thành viên. Lãi suất SDR được điều chỉnh hàng tuần theo
thay đổi của lãi suất ngắn hạn trên các thị trường tiền tệ chủ yếu.
Ban đầu, giá trị của 1SDR được quy định bằng 1/35 ounce vàng tương
đương với $1. Từ năm 1976, giá trị SDR được chuyển sang xác định bằng giá trị
của một rổ tiền tệ gồm 16 đồng tiền. Bắt đầu từ năm 1981, giá trị của SDR được
điều chỉnh 5 năm một lần và được xác định dựa vào giá trị của 5 đồng tiền mạnh
trên thế giới và tầm quan trọng tương đối của nó đối với thương mại và tài chính
toàn cầu.
 Từ năm 1981–1985: USD 42%, DEM 19%, JPY 13%, GBP 13%, FRF 13%
 Từ năm 1986–1990: USD 42%, DEM 19%, JPY 15%, GBP 12%, FRF 12%
 Từ năm 1991–1995: USD 40%, DEM 21%, JPY 17%, GBP 11%, FRF 11%
 Từ năm 1996–2000: USD 39%, DEM 21%, JPY 18%, GBP 11%, FRF 11%
 Từ năm 2001–2005: USD 45%, EUR 29%, JPY 15%, GBP 11%
 Từ năm 2006–2010: USD 44%, EUR 34%, JPY 11%, GBP 11%

dứt của hệ thống Bretton Woods. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, các quốc gia vẫn
nắm giữ dự trữ bằng vàng, USD, hoặc bằng SDR, ngoài ra, một số đồng tiền như
EUR, JPY, GBP trở thành những ngoại tệ mạnh trên thế giới. Do mỗi quốc gia có
quyền chọn một chế độ tỉ giá phù hợp trong khi mỗi chế độ tỉ giá đều có ưu và
nhược điểm khác nhau, bên cạnh đó, các quốc gia thì luôn luôn theo đuổi lợi ích
cho riêng mình nên trong giai đoạn này tỉ giá biến động mạnh và đôi khi các quốc
gia lâm vào tình trạng bất cân đối cán cân thanh toán nghiêm trọng.
Trong giai đoạn từ năm 1980 – 1985, Mĩ áp dụng chính sách thắt chặt tiền
tệ đồng thời mở rộng tài khóa nhằm kiềm chế lạm phát, dẫn đến đồng USD tăng
giá, thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai. Chính sách kiềm chế lạm
phát khiến cho lãi suất ở Mĩ tăng, lãi suất bình quân tăng từ 11.2% năm 1979 lên
20% năm 1981, lãi suất cơ bản cao hơn đến 21.5%, lãi suất công trái tăng vọt lên
17.3%, dòng vốn đầu tư ồ ạt chảy vào Mĩ. Tuy nhiên, việc USD tăng giá tác động
làm thu hẹp xuất khẩu của Mỹ, cán cân vãng lai của Mỹ ngày càng xấu đi nhanh
chóng, đến năm 1985, thâm hụt cán cân vãng lai của Mĩ đã chiếm đến 3.5% GDP.
Những mối quan tâm ngày càng tăng về nền kinh tế Mĩ và sự kiện lên giá của USD
15
đã trở thành một trong những lí do căn bản để đi đến Hiệp định Plaza (Plaza
Accord).
3.2.3. Hiệp định Plaza, thỏa ước Louvre:
Ngày 22/09/1985, hiệp định Plaza (Plaza Accord) được bộ trưởng tài chính
5 nước Mĩ, Anh, Nhật, Đức, Pháp kí tại khách sạn Plaza, New York, Mĩ. Mục đích
của hiệp định là làm cho đồng USD mất giá một cách có kiểm soát so với các tiền
tệ chủ yếu khác. Theo hiệp định này, các nước đã cam kết “hợp tác với nhau chặt
chẽ hơn nữa để khiến cho đồng USD tiếp tục giảm giá”. Để thực hiện cam kết này,
các nước đã tiến hành mua vào DEM và JPY, bán ra USD. Chỉ trong vòng mấy
tháng sau khi “Hiệp định Plaza” được kí kết, tỉ giá JPY/USD từ 250 JPY/USD đã
lên đến 149 JPY/USD.
Tuy nhiên, việc đồng USD giảm giá quá nhanh dẫn đến những lo ngại về
nguy cơ sụp đổ của đồng USD. Điều này dẫn đến ngày 22/2/1987, hiệp định

một đồng tiền pháp định chung.
Theo phân loại của IMF vào tháng 4/2008, hiện trên thế giới có 10 nước áp
dụng chế độ tỉ giá này như: Ecuador, El Sanvador, Marshall Island, Liên bang
Micronesia, Panama, Timor – Lester (dùng đồng USD), Montenegro, San Marino
(dùng đồng Euro), Kiribati (dùng đồng AUD).
Chế độ tỉ giá không có đồng tiền pháp định riêng có lợi thế là giúp cho nền
kinh tế các nước nhỏ tránh khỏi những biến động về tỉ giá khi họ sử dụng một
đồng tiền mạnh của một quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, việc không
có đồng tiền pháp định riêng mà phải dùng một đồng tiền của nước khác như đồng
tiền pháp định của mình khiến nền kinh tế các nước này bị phụ thuộc vào nền kinh
tế của quốc gia phát hành đồng tiền đó.
 Chế độ bản vị tiền tệ
Theo chế độ này, chính phủ phải cam kết chính thức về việc chuyển đổi nội
tệ sang ngoại tệ là đồng tiền bản vị tại một mức tỷ giá cố định. Đặt ra những hạn
chế nghiêm ngặt để đảm bảo việc thực thi cam kết.
Chính phủ neo đồng tiền của mình (chính thức hay ngầm) với một đồng tiền
chính hay một rổ các đồng tiền tại một mức giá cố định, tỷ giá dao động trong một
biên độ hẹp là ±1% quanh tỷ giá trung tâm.
Theo phân loại của IMF (tháng 4/2008), hiện trên thế giới có 13 quốc gia áp
dụng chế độ tỉ giá này, trong đó có 8 quốc gia chọn bản vị USD (như Hong Kong
SAR, Dominica…), 4 quốc gia chọn bản vị đồng EUR (như Estonia, Lithuania…)
và Brunei Darussalam chọn bản vị đồng dollar Singapore.
Tương tự như chế độ tỉ bản vị vàng, trong chế độ bản vị tiền tệ, chính phủ
cam kết chuyển đổi nội tệ sang đồng bản vị tại một mức giá cố định và mức giá
này chỉ được dao động trong biên độ ± 1%, điều này buộc NHTW phải nắm giữ
lượng ngoại tệ trong mối tương quan với lượng tiền phát hành. Chế độ này chỉ vận
hành tốt khi đồng tiền bản vị có giá trị ổn định và dự trữ ngoại hối của NHTW đủ
để đảm bảo thanh khoản trong nước. Tuy nhiên, khi lượng dự trữ ngoại hối không
đủ, NHTW buộc phải đi vay ngoại tệ để phát hành tiền và bù đắp thâm hụt cán cân
thanh toán và thâm hụt ngân sách, điều này có thể dẫn đến khủng hoảng nợ chính

Chế độ tỉ giá cố định với biên độ dao động rộng tuy có giảm bớt tính cứng
nhắc của tỉ giá nhưng nó vẫn không tránh khỏi những nhược điểm của chế độ tỉ giá
cố định nói chung như không phản ánh đúng tương quan cung cầu ngoại tệ trên thị
trường, việc duy trì tỉ giá cố định sẽ tác động trực tiếp đến dự trữ ngoại hối của
NHTW, tuy nhiên trong dài hạn thì tỉ giá vẫn có xu hướng trở về mức giá thị
trường.
 Chế độ tỉ giá cố định trượt
Đây là chế độ tỷ giá cố định, nhưng định kỳ, tỷ giá trung tâm sẽ được điều
chỉnh theo một tỷ lệ nhất định được thông báo trước, hoặc để phản ánh thay đổi
trong một chỉ tiêu nhất định đã được lựa chọn (lạm phát, cán cân thương mại).
18
Theo thống kê của IMF (tháng 4/2008), hiện trên thế giới có 8 quốc gia áp
dụng chế độ tỉ giá này như: Trung Quốc, Bolivia, Iraq…
 Chế độ tỉ giá cố định trượt có biên độ
Đây là chế độ tỉ giá cố định với các nội dung:
- Tỷ giá được dao động trong một biên độ nhất định xung quanh tỷ giá trung
tâm.
- Tỷ giá trung tâm được điều chỉnh định kỳ theo tỷ lệ nhất định được thông
báo trước hoặc để phản ánh những thay đổi trong một chỉ tiêu nhất định đã được
lựa chọn.
Theo thống kê của IMF (tháng 4/2008), hiện trên thế giới chỉ có hai quốc
gia áp dụng chế độ tỉ giá này là Costa Rica và Azerbaijan.
Chế độ tỉ giá cố định trượt và chế độ tỉ giá cố định trượt có biên độ về bản
chất vẫn là chế độ tỉ giá cố định nhưng nó khắc phục phần nào những nhược điểm
của chế độ tỉ giá cố định, tỉ giá trung tâm được điều chỉnh định kì sẽ phản ánh
đúng hơn tương quan cung cầu trên thị trường ngoại hối, giảm gánh nặng duy trì tỉ
giá trên vai NHTW trong điều kiện nền kinh tế có biến động, các NHTW thường
chọn những mục tiêu như mục tiêu về lượng cung tiền, mục tiêu về kiểm soát lạm
phát hay mục tiêu về cán cân thanh toán để làm căn cứ đưa ra tỉ giá trung tâm
trong từng thời kì.

phát từ những lo ngại cho tiến trình phát triển thương mại trong điều kiện tỉ giá
không ổn định, các nước thành viên Cộng đồng Kinh tế Châu Âu đã thống nhất
hình thành cơ chế tỉ giá Châu Âu (Exchange Rate Mechanism – ERM) vào năm
1971. Cơ chế tỉ giá này còn được biết đến với tên gọi chế độ “Con rắn trong hang”,
một tên gọi đầy hình tượng của chế độ thỏa thuận tỉ giá giữa các quốc gia Châu
Âu. Đến tháng 3 năm 1979, Hệ thống tiền tệ Châu Âu (European Monetary System
– EMS) chính thức ra đời.
Trong hệ thống này, đơn vị tiền tệ chung của Châu Âu là đồng ECU – một
đồng tiền ghi sổ, các quốc gia xác định tỉ giá trung tâm theo ECU. Giá trị của đồng
ECU được neo vào một giỏ các đồng tiền Châu Âu với số lượng được xác định từ
trước và 5 năm tái định. Mỗi thành viên của EMS buộc phải đóng góp 20% lượng
vàng và USD đang nắm giữ vào Quỹ hợp tác tiền tệ Châu Âu và họ được quyền
nhận lại khối lượng tương đương bằng đồng ECU. EMS cũng quy định tỉ giá hối
đoái giữa mỗi cặp tiền của các nước tham gia được xác định theo tỉ giá chéo trung
tâm và không được biến động vượt ra ngoài giới hạn quy định chung là ±2.25%.
Nếu tỉ giá vượt ra ngoài vùng thỏa thuận, hai chính phủ sẽ phải can thiệp để tỉ giá
về lại mức quy định. EMS yêu cầu sự can thiệp phải có tính đối xứng, ví dụ khi
đồng FRF giảm giá nhiều hơn giới hạn cho phép so với đồng DEM, ngân hàng
trung ương của Pháp buộc phải bán đồng DEM và mua vào FRF, điều này làm
giảm dự trữ bằng đồng DEM của ngân hàng trung ương Pháp. Mặt khác, ngân
hàng trung ương Đức cũng phải bán đồng DEM và mua vào đồng FRF qua đó
buộc phải tăng dự trữ bằng đồng FRF của mình.
Với chế độ tỉ giá cố định như trên, EMS lại mắc phải sai lầm như trong chế
độ Bretton Woods, khi các nhà đầu cơ tấn công vào một đồng tiền, nó sẽ làm cho tỉ
20
giá biến động mạnh và ảnh hưởng đến cả hệ thống. Điều này đã được minh chứng
trong cuộc khủng hoảng hối đoái tháng 9/1992. Sau sự kiện Bức tường Berlin sụp
đổ vào tháng 10/1989, nước Đức hoàn toàn thống nhất. Để xây dựng nền kinh tế
và thống nhất hệ thống tiền tệ, chính phủ Đức đã hào phóng cho đổi 1 đồng Mark
Đông Đức lấy 1 đồng Mark Tây Đức dẫn đến tỉ lệ lạm phát tăng từ 3% năm 1990

Có thể nói, kể từ khi ra đời đến nay, Liên minh Châu Âu đang ngày càng
lớn mạnh về nhiều mặt, đặc biệt hội tụ đông đảo các nền kinh tế phát triển (chiếm
khoảng 1/3 GDP toàn cầu). Việc hình thành một khối thị trường chung dần phát
triển thành một thị trường duy nhất đưa Liên minh Châu Âu trở thành khu vực trao
đổi thương mại rộng lớn nhất thế giới. Cùng với sự phát triển của thị trường chung
21
Châu Âu, vị thế của đồng EURO ngày càng được cải thiện và trở thành đối thủ
cạnh tranh nặng kí với đồng USD trong vai trò là tiền tệ quốc tế.
Tuy nhiên, để duy trì được sự ổn định của hệ thống, Liên minh Châu Âu
cần chú trọng đến việc dung hòa giữa lợi ích của mỗi quốc gia với lợi ích của toàn
hệ thống, sự phối hợp chính sách chặt chẽ giữa các quốc gia thành viên, và việc
nâng cao vai trò độc lập của Ngân hàng trung ương Châu Âu – ECB trong điều
hành chính sách tiền tệ chung cho cả khối.
III/ KẾT LUẬN
Kể từ sau những năm 1970, trải qua nhiều khủng hoảng, hệ thống Bretton
Woods chính thức bị sụp đổ vào năm 1973. Lúc này, các nước được tự do theo
đuổi chế độ tỉ giá phù hợp với chính sách về kinh tế, thương mại của mình. Mặc dù
vậy, vai trò của USD trong hệ thống tiền tệ quốc tế cho đến ngày nay vẫn là không
thể phủ nhận, nó chiếm trên 60% tổng dự trữ ngoại hối của các quốc gia trên thế
giới, là đồng tiền giao dịch chủ yếu trên thị trường ngoại hối và trong các giao dịch
xuất nhập khẩu.
Tuy nhiên, sau một loạt sự kiện có ảnh hưởng đến hệ thống tiền tệ thế giới,
đồng USD đang đứng trước những thách thức to lớn trong việc giữ địa vị là đồng
tiền dự trữ quốc tế như hiện nay. Trong đó, đặc biệt là sự kiện Liên minh Châu Âu
với đồng EURO ra đời và đang từng bước chứng minh tầm ảnh hưởng của nó đối
với thương mại quốc tế. Thêm vào đó, sự kiện ngày 11/09/2001 làm rung chuyển
cả thế giới, tòa tháp đôi, biểu tượng của nền tài chính Mỹ đã bị đánh sập; Tiếp đó
là việc Chính phủ Mĩ sa lầy vào cuộc chiến tranh Irap khiến giá dầu thế giới tăng
đồng nghĩa với đồng USD giảm giá; Sự kiện khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997 –
1998 một lần nữa cho thấy những bất ổn của hệ thống tiền tệ quốc tế. Và đến năm

- Tạp chí Cộng sản, Tương lai của hệ thống tiền tệ quốc tế
/>&cn_id=364905
- IMF, De facto Classification of Exchange Rate Regimes and Monetary
Policy Frameworks
/>- Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, Hệ thống tiền tệ quốc tế (IMS)
và các cơ chế tỉ giá hối đoái thay thế
o/forum/images/uploads/2/4/0/6/6/5938.attach
- Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh, Thông tin kinh tế
quốc tế
/>- Hệ thống tiền tệ quốc tế

Và một số trang web, bài báo khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status