Báo cáo tốt nghiệp
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
CHUNG VỀ ODA
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ODA LỜI MỞ ĐẦU
Sự nghiệp công nghiệp hoá(CNH), hiện đại hoá(HĐH) đất nước với mục
tiêu phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp đã đi được một chặng đường khá dài. Nhìn lại chặng đường đã qua
chúng ta có thể thấy rằng chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng tự
hào: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt trên 7%,
đời sống
của nhân dân ngày càng được nâng cao và không những đạt được những
thành tựu về mặt kinh tế mà các mặt của đời sống văn hoá- xã hội, giáo
dục, y tế cũng được nâng cao rõ rệt, tình hình chính trị ổn định, an ninh-
quốc phòng được giữ vững, các mối quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng
được mở rộng. Đạt được những thành công đó bên cạnh sự khai thác hiệu
quả các nguồn lực trong n
ước thì sự hỗ trợ từ bên ngoài cũng đóng một vai
trò quan trọng và trong đó viện trợ phát triển chính thức(ODA) của các
quốc gia và tổ chức quốc tế giữ vai trò chủ đạo. Thực tế tiếp nhận, sử dụng
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ODA
I)
NGUỒN VỐN ODA
1) Nguồn gốc ra đời của ODA
Quá trình lịch sử của ODA có thể được tóm lược như sau:
Sau đại chiến thế giới thứ II các nước công nghiệp phát triển đã thoả thuận
về sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều
kiệm ưu đãi cho các nước đang phát triển. Tổ chức tài chính quốc tế WB(
Ngân hàng thế giới) đã được thành lập tại hội nghị v
ề tài chính- tiền tệ tổ
chức tháng 7 năm 1944 tại Bretton Woods( Mỹ) với mục tiêu là thúc đẩy
phát triển kinh tế và tăng trưởng phúc lợi của các nước với tư cách như là
một tổ chức trung gian về tài chính, một ngân hàng thực sự với hoạt động
chủ yếu là đi vay theo các điều kiện thương mại bằng cách phát hành trái
phiếu để rồi cho vay tài trợ đầu tư tại các nước.
Tiếp đó một sự kiện quan trọng đã diễn ra đó là tháng 12 năm 1960 tại Pari
các nước đã ký thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển(
OECD). Tổ chức này bao gồm 20 thành viên ban đầu đã đóng góp phần
quan trọng nhất trong việc dung cấp ODA song phương cũng như đa
phương. Trong khuôn khổ hợp tác phát triển , các nước OECD đã lập ra các
uỷ ban chuyên môn trong đó có uỷ ban hỗ trợ
phát triển ( DAC) nhằm giúp
các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Kể từ khi ra đời ODA đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:
Trong những năm 1960 tổng khối lượng ODA tăng chậm đến những năm
1970 và 1980 viện trợ từ các nước thuộc OECD vẫn tăng liên tục. Đến giữa
vay vốn tín dụng để mở rộng kinh doanh nhưng nếu chỉ tìm kiếm các
nguồn ODA mà không tìm cách thu hút các nguồn vốn FDI và các nguồn
tín dụng khác thì không có điều kiện tăng trưởng nhanh sản xuất, dịch vụ
và sẽ không có đủ thu nhập để trả nợ vốn vay ODA
.
3) Đặc điểm của ODA
Như đã nêu trong khái niệm ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại,
viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi. Do vậy, ODA có những đặc điểm
chủ yếu sau:
Thứ nhất, Vốn ODA mang tính ưu đãi.
Vốn ODA có thời gian cho vay( hoàn trả vốn dài), có thời gian ân hạn dài.
Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm
và thời gian ân hạn là 10 năm.
Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lạ
i( cho không),
đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại.
Thành tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân
hạn và so sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại. Sự ưu
đãi ở đây là so sánh với tập quán thương mại quốc tế.
Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang
và ch
ậm phát triển, vì mục tiêu phát triển. Có hai điều kiện cơ bản nhất để
các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:
Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội( GDP) bình quân đầu người
thấp. Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất
thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn.
Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù
Kể từ khi ra đời cho tới nay, viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn
tại song song. Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm
nghèo ở các nước đang phát triển. Động cơ nào đã thúc đẩy các nhà tài trợ
đề ra mục tiêu này? Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình
trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đ
ang phát triển để mở mang thị trường
tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư. Viện trợ thường gắn với các điều
kiện kinh tế xét về lâu dài, các nhà tài trợ sẽ có lợi về mặt an ninh, kinh tế,
chính trị khi kinh tế các nước nghèo tăng trưởng. Mục tiêu mang tính cá nhân này được kết hợp với tinh thần nhân đạo, tính cộng đồng. Vì một số
vấn đề mang tính toàn cầu như sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ môi
trường sống, bình đẳng giới, phòng chống dịch bệnh, giải quyết các xung
đột sắc tộc, tôn giáo v.v đòi hỏi sự hợp tác, nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế
không phân biệt nước giàu, nướ
c nghèo. Mục tiêu thứ hai là tăng cường vị
thế chính trị của các nước tài trợ. Các nước phát triển sử dụng ODA như
một công cụ chính trị: xác định vị thế và ảnh hưởng của mình tại các nước
và khu vực tiếp nhận ODA. Ví dụ, Nhật Bản hiện là nhà tài trợ hàng đầu
thế giới và cũng là nhà tài trợ đã sử dụng ODA như một công cụ đa năng về
chính trị và kinh tế. ODA của Nhật không chỉ đưa lại lợi ích cho nước nhận
mà còn mang lại lợi ích cho chính họ. Trong những năm cuối thập kỷ 90,
khi phải đối phó với những suy thoái nặng nề trong khu vực, Nhật Bản đã
quyết định trợ giúp tài chính rất lớn cho các nước Đông nam á là nơi chiếm
tỷ trọng tương đối lớn về mậu dịch và đầu tư của Nh
ật Bản, Nhật đã dành
15 tỷ USD tiền mặt cho các nhu cầu vốn ngắn hạn chủ yếu là lãi suất thấp
và tính bằng đồng Yên và dành 15 tỷ USD cho mậu dịch và đầu tư có nhân
nhượng trong vòng 3 năm. Các khoản cho vay tính bằng đồng Yên và gắn
đại hội Đảng lần thứ VIII với mục tiêu tăng mức thu nhập bình quân đầu
người lên mức 1500 USD vào năm 2020 tức là tăng gấp 7 lần so với mức
năm 1995. Để thực hiện được mục tiêu này mức tăng trưởng GDP bình
quân hàng năm phải là 8%/năm. Về mặt lý thuyết, muốn đạt
được mức tăng
trưởng này vốn đầu tư phải tăng ít nhất là 20%/năm cho đến năm 2015 tức
là mức đầu tư cho năm 2000 phải gấp 2,5 lần năm 1995, cho năm 2005
phải gấp 6,2 lần tức là giai đoạn 2001- 2005 vào khoảng 60 tỷ USD. Trong
đó vốn ODA khoảng 9 tỷ USD. Theo “Danh mục dự án đầu tư ưu tiên vận
động vốn ODA thời kì 2001- 2005”, chính phủ đã đưa ra hàng trăm dự án
trong từng lĩnh vực như sau:
Về năng lượng, có 9 dự án với tổng vốn ODA dự kiến trên 1,2 tỷ USD
trong đó lớn nhất là dự án thuỷ điện Đại Thi ở Tuyên Quang(360 triệu ),
nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả(272 triệu), nhà máy thuỷ điện thượng Kon
tum(100triệu USD).
Trong lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ có 33 dự án với trên 1,8 tỷ
USD. Về cầu có 7 dự án v
ới trên 150 triệu USD, lớn nhất là dự án cải tạo
cầu Long Biên ( 72 triệu USD). Về đường biển có 10 dự án với số vốn 600
triệu USD lớn nhất là xây dựng cảng tổng hợp Thị Vải( 170 triệu USD).
Đường sông có 4 dự án với hơn 450 triệu USD lớn nhất là cải tạo giao
thông thuỷ, kè chỉnh trị Sông Hồng khu vực Hà Nội (255triệu USD).
Đường sắt có 5 dự án với khoảng 1,4 tỷ USD trong đó riêng riêng xây
dượng 2 tuyến đường sắt trên cao Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội với tổng số
vốn 1,13 tỷ USD. Cấp nước và vệ sinh đô thị có 50 dự án với trên 1 tỷ
USD.
Về nông nghiệp có 33 dự án cần triển khai từ nay đến 2005 với tổng vốn
ODA khoảng 700 triệu USD, trong đó có những dự án lớn như: Chương
trình di dân và kinh tế mới( 300 triệu USD), Phát triển dâu tằm tơ (120
triệu USD). Thuỷ lợi có 41 dự án v
tiêu chính trong chiến lược này là thu hút ODA cho phát triển kinh tế. Vai
trò của ODA được thể hiện ở
một số điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, ODA là nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.
Sự nghiệp CNH, HĐH mà Việt Nam đang thực hiện đòi hỏi một khối
lượng vốn đầu tư rất lớn mà nếu chỉ huy động trong nước thì không thể đáp
ứng được. Do đó, ODA trở thành nguồn vốn từ bên ngoài quan trọng để
đáp ứ
ng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển. Trải qua hai cuộc chiến tranh
những cơ sở hạ tầng kỹ thuật của chúng ta vốn đã lạc hậu lại bị chiến tranh
tàn phá nặng nề hầu như không còn gì, nhưng cho đến nay hệ thống kết cấu
hạ tầng đã được phát triển tương đối hiện đại với mạng lưới điện, bưu
chính vi
ễn thông được phủ khắp tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước,
nhiều tuyến đường giao thông được làm mới, nâng cấp, nhiều cảng biển,
cụm cảng hàng không cũng được xây mới, mở rộng và đặc biệt là sự ra đời
của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đã tạo ra một
môi trường hết sức thuận lợi cho sự hoạt động của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Bên cạnh đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh
tế kỹ thuật một lượng lớn vốn ODA đã được sử dụng để đầu tư cho việc
phát triển ngành giáo dục, y tế, hỗ trợ phát triển ngành nông nghiệp …
Thứ hai, ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ
hiện đại và phát triển nguồn nhân lực.
Một trong nhữ
ng yếu tố quan trọng góp phần đẩy nhanh quá trình CNH,
HĐH đất nước đó là yếu tố khoa học công nghệ và khả năng tiếp thu những
thành tựu khoa học tiên tiến của đội ngũ lao động. Thông qua các dự án
ODA các nhà tài trợ có những hoạt động nhằm giúp Việt Nam nâng cao
phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng các tiện nghi hạ tầng sẽ lên cao.
Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do làm cho các nhà đầu tư e ngại, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự thiếu thốn
các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tư gia tăng dẫn
tới hiệu quả đầu tư giảm sút.
Như vậy, đầu tư của chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây mới các
cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết s
ức cần thiết nhằm làm
cho môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn. Nhưng vốn đầu tư cho việc xây
dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn và nếu chỉ dựa vào vốn đầu tư trong nước thì
không thể tiến hành được do đó ODA sẽ là nguồn vốn bổ sung hết sức quan
trọng cho ngân sách nhà nước. Một khi môi trường đầu tư được cải thiệ
n sẽ
làm tăng sức hút dòng vốn FDI. Mặt khác, việc sử dụng vốn ODA để đầu
tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập
trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại
lợi nhuận.
Rõ ràng là ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan
trọng cho phát triển, nó còn có tác dụng nâng cao trình độ khoa học, công
nghệ, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và làm tăng khả năng thu hút vốn từ nguồn
FDI góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước.
3) Những xu hướng mới của ODA trên thế giới.
Trong thời đại ngày nay, dòng vốn ODA đang vận động với nhiều sắc thái
mới. Đây cũng chính là một trong những nhân tố tác động tới việc thu hút
nguồn vốn ODA. Do đó, nắm bắt được xu hướng vận động mới này là rất
ệ môi trường…
Thứ năm, nguồn vốn ODA tăng chậm và cạnh tranh giữa các nước đang
phát triển trong việc thu hút vốn ODA đang tăng lên.
Vì vậy, Chúng ta cần nắm bắt được những xu thế vận động của dòng vốn
ODA để có những biện pháp hữu hiệu thu hút ODA của các nhà tài trợ.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG VÀ QUẢN
LÝ VỐN ODA.
I
) TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG ODA
1) Các nhà tài trợ và lĩnh vực ưu tiên tài trợ cho Việt Nam.
Trên thế giới hiện nay có 4 nguồn cung cấp ODA chủ yếu là: Các nước
thành viên của DAC; Liên Xô cũ và các nước Đông Âu; Một số nước arập
và một số nước đang phát triển. Trong các nguồn này ODA từ các nước
thành viên DAC là lớn nhất. Bên cạnh ODA từ các quốc gia thì ODA từ
các tổ chức viện trợ đa phương cũng chiếm một khối lượng lớn trong đó
bao gồm: Các tổ chức thuộc hệ
thống Liên hợp quốc, Liên minh châu
âu(EU), các tổ chức phi chính phủ(NGO), các tổ chức tài chính quốc tế(
WB, ADB, IMF)…
Đối với Việt Nam trước năm 1993 nguồn viện trợ chủ yếu từ Liên Xô và
các nước Đông Âu nhưng kể từ khi nối lại quan hệ với cộng đồng các nhà
tài trợ quốc tế năm 1993 thì cho đến nay tại Việt Nam có trên 45 tổ chức tài
trợ chính thức đang hoạt động với khoảng 1500 d
ự án ODA và trên 350 tổ
Phát triển đô thị; GTVT; giáo
dục; khai thác mỏ
Cơ sở hạ tầng; phát triển khu
vực tư nhân; MT
Nhiều lĩnh vự
c
Thúc đẩy phát triển kinh tế &
tăng phúc lợi.
Cân bằng về mậu dịch quốc tế;
ổn định tỷ giá hối đoái.
Hạ tầng kinh tế & dịch vụ
Hỗ trợ cải cách kinh tế; phát
triển hệ thống GT
Cứu trợ nạn nhân chiến tranh &
trẻ em mồ côi
Phát triển nhân lực; GTVT;
thông tin liên lạc
Hỗ trợ kinh tế & TC; hỗ trợ thiết
ch
ế & quản lý
Xoá đói giảm nghèo; GTVT
Xoá đói giảm nghèo; GTVT. Hỗ trợ cán cân thanh toán& điều
chỉnh cơ cấu.
2) Chiến lược huy động ODA của Việt Nam.
nước ngoài góp phần thực hiện hiệu quả các
chương trình, dự án sử dụng ODA tạo niềm tin cho các nhà tài trợ và điều
đó sẽ tạo thuận lợi cho việc huy động tài trợ của các nhà tài trợ. Bên cạnh
đó, để tăng khối lượng nhận viện trợ Việt Nam cũng đã chủ động tìm kiếm
các nguồn cung cấp ODA, tăng cường, mở rộng các mối quan hệ với các
quốc gia, tổ chức quốc tế, chủ động đưa ra những khó khăn, những lĩnh vực
cần được hỗ trợ với các nhà tài trợ và đưa ra những cam kết trong việc quản
lý và sử dụng vốn của các nhà tài trợ
.
3) Tình hình huy động ODA trong thời gian qua.
Kể từ khi cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế chính thức nối lại cung
cấp ODA cho Việt Nam thì hàng năm diễn ra hội nghị nhóm tư vấn các nhà
tài trợ quốc tế nhằm thoả thuận số vốn ODA dành cho Việt Nam và cho
đến nay đã có 10 lần hội nghị đã được tổ chức. Qua 10 lần hội nghị số vốn
cam kết dành cho Việt Nam ngày một tăng và năm 2002 tại hội nghị
lần
thứ 10 số vốn mà các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam là 2,5 tỷ USD
mức cao nhất từ trước đến nay. Song điều có ý nghĩa hơn là số vốn được
hợp thức hoá bằng các hiệp định ký kết giữa chính phủ Việt Nam với các
nhà tài trợ. Chẳng hạn, năm 2002 số vốn này đạt hơn 1571 triệu USD giảm
26% so với kết quả năm 2001. Như vậy, kể từ
năm 1993 đến nay tổng số
vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam lên đến 22,43 tỷ
USD chưa kể phần tài trợ riêng để thực hiện cải cách kinh tế. Trong đó,
tính đến hết năm 2002, tổng số vốn được hợp thức hoá bằng các hiệp định
đạt khoảng 16,5 tỷ USD. Số vốn huy động được hàng năm cụ thể như sau:
Năm Vốn cam kết Tốc độ tăng Ghi chú
4.17%
* Chưa kể 0,5 tỷ USD hỗ trợ cải
cách kinh tế.
** Chưa kể 0,7 tỷ USD hỗ trợ
cải cách kinh tế. Nguồn: Bộ kế hoạch & đầu tư.
II) THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ODA
1) Cơ sở pháp lý của việc quản lý và sử dụng ODA
Kể từ khi nối lại quan hệ với các tổ chức tài trợ quốc tế từ năm 1993
đến nay Việt Nam đã và đang nhận được sự hỗ trợ ODA từ các nước và các
tổ chức quốc tế, trong quá trình tiếp nhận và sử dụng vốn ODA chúng ta đã
ban hành những qui định, nghị định liên quan đến quản lý và sử dụng
nguồn vốn này làm cơ sở cho việc thực hiệ
n hiệu quả các chương trình, dự
án ODA. Cụ thể: Năm 1993 nhà nước ban hành nghị định số 58/CP ngày
30/8/1993 về quản lý và trả nợ nước ngoài, nghị định số 20/CP ngày
20/4/1994 về quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và đây là hai
văn bản pháp lý cao nhất của chính phủ trong lĩnh vực quản lý nợ nước
ngoài nói chung và quản lý vốn ODA nói riêng trong thời gian này. Trên cơ
sở tổng kết thực tiễn và yêu c
ầu đổi mới trong quản lý từ năm 1997-1999
hiện
0.41 0.72 0.74 0.90 1.00 1.24 1.35 1.65 1.5 1.53
Trong tổng số vốn ODA các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thì ba nhà tài
trợ lớn nhất là Nhật Bản, WB và ADB chiếm trên 50% tổng số. Cụ thể:
Nhật Bản 21,25%; WB 18,63%; ADB 10,56% còn lại là của các quốc gia
và tổ chức tài trợ khác.
Nguồn vốn ODA đã được tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực kinh tế, xã hội
ưu tiên của chính phủ, đó là: Năng lượng 24%, giao thông vận tải 27,5 %,
phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả thuỷ s
ản, lâm nghiệp, thuỷ
lợi 12,74% ngành cấp thoát nước 7,8%, các ngành y tế- xã hội, giáo dục và
đào tạo, khoa học- công nghệ- môi trường 11,78%. Ngoài ra, nguồn ODA
cũng hỗ trợ đáng kể cho ngân sách của chính phủ để thực hiện điều chỉnh
cơ cấu kinh tế và thực hiện chính sách cải cách kinh tế ( các khoản tín dụng
điều chỉnh cơ cáu kinh tế, điều chỉnh cơ cáu kinh tế mở rộng, qu
ỹ
Miyazawa, PRGF,PRSC).
Trong những năm qua, nhiều dự án đầu tư bằng vốn ODA đã hoàn thành và
đưa vào sử dụng góp phần tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo như:
nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, nhà máy thuỷ điện Sông Hinh, một số dự án
giao thông quan trọng như Quốc lộ 5, quốc lộ 1A, cầu Mỹ Thuận…, nhiều
trường học đã được xây dựng mới, cải tạo hầ
u hết ở các tỉnh, một số bệnh
viện lớn ở các thành phố, thị xã như Bệnh viện Bạch Mai( Hà Nội), bệnh vện Chợ Rẫy( Thành phố Hồ Chí Minh), nhiều trạm y tế xã đã được cải tạo
hoặc xây mới, các hệ thống cấp nước sinh hoạt ở nhiều tỉnh, thành phố
cũng như ở nông thôn, vùng núi. Các chương trình dân số phát triển, chăm
sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, tiêm chủng mở rộng được thực hiện một
1997
1998
1999
2000
2001
2002
Vốn cam kết
1.81
1.94
2.26
2.43
2.40
2.20
2.10
2.40
2.40
2.50
Vốn giải ngân
0.41
0.72
0.74
0.90
1.00
1.24
1.35
1.65
1.50
1.53
Tỷ lệ giải ngân
- ODA đã thực sự trở thành một nguồn vốn quan trọng đáp ứ
ng những
nhu cầu cấp bách về cân đối ngân sách, cán cân xuất nhập khẩu, đầu
tư phát triển.
- Nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng đã và đang được hình thành
bằng nguồn vốn ODA.
- ODA tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của
các địa phương và các vùng lãnh thổ. Nguồn vốn ODA cũng giúp cải
thiện điều kiện về vệ
sinh, y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ môi
trường, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển nông nghiệp,
xoá đói giảm nghèo v.v.
Tuy nhiên, trong quá trình vận động, tiếp nhận và sử dụng vốn ODA vẫn
còn tồn tại một số hạn chế. Cụ thể là:
Những tồn tại Nguyên nhân
1. Trong vận động tài trợ:
- thiếu chủ động trong vận động.
- khả năng lập kế hoạch yếu. 2. Khi tiếp nhận:
- Sử dụng vốn đầu tư dàn trải.
- Phân bổ vốn thiếu công bằng.
- Triển khai dự án chậm.
- Thiếu công khai, minh bạch.
- Khả năng điều hành của địa
phương và ban quản lý dự án còn
kém
- chưa hiểu rõ các qui định của nhà
tài trợ.
-
Vốn đối ứng không đủ, công tác giải
phóng mặt bằng chậm.
III) MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THÀNH CÔNG,
HẠN CHẾ TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ODA VÀ BÀI HỌC
RÚT RA.
1) Nguyên nhân thành công.
- Chính phủ luôn coi trọng việc hoàn thiện môi trường pháp lý để quản
lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA.
- Việc chỉ đạo thực hiện ODA của chính phủ kịp thời và cụ thể như
đảm bảo vốn đối ứng, vấn đề VAT đối với các chương trình, dự án ODA,
nhờ vậy nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án
đã đượ
c tháo gỡ. - Công tác theo dõi và đánh giá dự án ODA đã đạt được nhiều bước
tiến bộ. Nghị định 17/2001/NĐ-CP đã tạo khuôn khổ pháp lý tổ chức hệ
thống theo dõi và đánh giá chương trình, dự án ODA từ các Bộ, Ngành
trung ương tới các địa phương và các ban quản lý dự án.
những không có ý nghĩa như mong muốn mà còn gây trở ngại cho việc thúc
đẩy thực hiện các dự án. Trên thực tế, phần lớn vốn đối ứng này đang trở
thành gánh nặng cho ngân sách. Hơn nữa các vấn đề kỹ thuật để xác định
tài sản làm vốn đối ứng, thủ tục chấp nhận vốn đối ứng thường rất phức
tạp. Bốn là, Một phần lớn vốn ODA được chính phủ cấp cho các doanh nghiệp
nhà nước thuộc khu vực sản xuất thay thế nhập khẩu dưới hình thức cho
vay lại nhưng các dự án này lại thường được thẩm định một cách sơ sài,
thời gian kéo dài nên hiệu suất thấp.
Năm là, Phần lớn các dự án dành cho các dân tộc thiểu số thường không
tính đến các khía cạnh xã hội và văn hoá của họ
. Các dự án này thường
không thất bại vì lý do kinh tế mà do khía cạnh xã hội và văn hoá. Vì vậy
họ tham gia các dự án một cách thụ động và coi các khoản viện trợ như một
thứ quà biếu không có giá trị phát triển.
Sáu là,Sự thiếu minh bạch về luật pháp, sự thiếu công khai về thông tin
trong hệ thống kế toán của Việt Nam và quốc tế, những thủ tục phức tạp về
giải ngân của các nhà tài trợ và tình tr
ạng tham nhũng, quan liêu đang ngày
càng gia tăng ở Việt Nam cũng là những trở ngại lớn đối với việc giải ngân
các nguồn tài trợ quốc tế tại Việt Nam.
3) Một số bài học rút ra.
Qua thực tế quản lý các dự án ODA chúng ta thấy rằng cần phải chú ý một
số điểm sau:
Một điều kiện tiên quyết để triển khai thành công dự án và giải ngân nhanh
là phải tranh thủ được sự ủng hộ của người hưởng lợi và phương pháp tốt
nhất để tranh thủ được sự ủng hộ của họ là tạo điều kiện và đưa họ tham gia
Tình hình huy động, quản lý và sử dụng ODA ở nước ta trong thời gian qua
cho thấy chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực góp phần quan trọng
thúc đẩy công cuộc CNH, HĐH đất nước. Song, chúng ta cũng thấy rằng
còn có nhiều hạn chế trong trong quá trình huy động, quản lý và sử dụng
vốn ODA mà chúng ta cần khắc phục để sử dụng có hiệu quả hơn nữa
nguồn ngoại lực quí báu này. Sau đây là m
ột số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA:
I) MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHUNG.
1) Về cơ chế chính sách
Thứ nhất, phải tiến hành xây dựng chính sách tổng thể về quản lý, giám sát
vay và trả nợ nước ngoài được hoạch định trong mối tương quan chặt chẽ
với các chính sách và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô và vi
mô, việc quản lý vay và trả nợ nước ngoài phải tính đến các chỉ tiêu cơ bản
về nợ nước ngoài như: khả năng hấp thụ vốn vay nước ngoài( tổ
ng số nợ
nước ngoài/ GDP), chỉ tiêu khả năng vay thêm từng năm, chỉ tiêu khả năng
hoàn trả nợ( tổng nghĩa vụ trả nợ/thu nhập xuất khẩu).
Thứ hai, phải nhanh chóng hoàn chỉnh các chính sách, chế độ về vay và
quản lý vay nợ nước ngoài nói chung và nguồn vốn ODA nói riêng.
Thứ ba, Rà soát lại các định mức, xoá bỏ các định mức lạc hậu, xây dựng
các định mức đảm bảo tiên tiến, khoa h
ọc phù hợp với thực tiễn và xem xét
lại qui trình đấu thầu, xét thầu, giao thầu để giảm sự khác biệt giữa trong và
ngoài nước, tuy nhiên phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Hai là, Mở rộng các quan hệ phi nhà nước. Viện trợ phát triển chính thức
bao gồm ba phương thức: viện trợ không hoàn lại( song phương), cho vay
với điều kiện ưu đãi( song phương) và các hi
ệp định đa phương. Nếu như
phần cho vay với điều kiện ưu đãi thường dành cho các dự án nhà nước về
xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường … thì phần viện trợ không
hoàn lại thường dành cho mục tiêu phát triển con người như y tế, cung cấp
nước sạch, cải thiện điều kiện giáo dục ở nhà trường, bảo tồn khai thác các
di s
ản văn hoá dân tộc… Trong những lĩnh vực này không chỉ có vai trò
của các tổ chức nhà nước mà còn có vai trò của các tổ chức xã hội, đoàn thể, các địa phương, các tổ chức từ thiện và các tổ chức phi chính phủ. Vì
thế, việc mở rộng quan hệ phi nhà nước là một điều kiện quan trọng để tìm
kiếm được nhiều hơn các nguồn ODA cũng như các nguồn viện trợ khác.
Ba là, Hướng dẫn lập dự án và triển khai dự án ODA. Để nhận được tài trợ
ODA của các nhà tài trợ thì các địa phương phải xây d
ựng được các dự án
có tính thuyết phục và có khả năng thực hiện được dự án một cách hiệu quả
nhưng thường các dự án hỗ trợ loại này thì đối tượng nhận hỗ trợ thường
không đủ khả năng để làm những việc như trên. Do đó, sự hướng dẫn, giúp
đỡ của các cơ quan chuyên trách là hết sức cần thiết và quyết định đến hiệu
quả
của chương trình, dự án.
2) Về tổ chức thực hiện dự án.
Thứ nhất, Xác định rõ hơn nữa trách nhiệm của từng cơ quan quản lý và
của người vay vốn ODA trong việc huy động vốn vay và sử sụng, quản lý
nguồn vốn ODA cho vay lại phải được đồng bộ, thống nhất qua đầu mối là
Bộ tài chính thực hiện cho vay lại hoặc uỷ quyền cho ngân hàng thương