PHẦN MỞ ĐẦU
Sau khi hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt là sau khi ra nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới đồng thời
cũng đang phải đối mặt với những thách thức mới.Trên con đường hội nhập, mỗi
hoạt động, mỗi ngành, lĩnh vực đều đang gắng hết sức mình, nỗ lực đóng góp vào sự
thành công chung của đất nước.Trong đó thì lĩnh vực xây dựng cơ bản mà cụ thể là
hoạt động xây lắp cũng không phải là ngoại lệ.Hoạt động xây lắp, xây dựng cơ bản là
hoạt động đóng một vai trò quan trọng và chiếm một tỉ trọng lớn trong cơ cấu nền
kinh tế, đồng thời đây cũng là hoạt động hoạt động nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho
nền kinh tế quốc dân. Hoạt động này có những nét đặc thù riêng và có những sự khác
biệt đáng kể so với các ngành sản xuất khác. Do vậy xét trên phương diện kế toán tài
chính thì chính điều đó đã chi phối trực tiếp đến nội dung và phương pháp kế toán
của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp nói riêng và hoạt động xây
dựng cơ bản nói chung. Mặt khác do hoạt động xây lắp có tính đặc thù riêng như vậy
nên việc hạch toán và ghi nhận kêt quả sẽ có những nét riêng biệt cần chú ý. Do vậy,
việc nghiên cứu đề tài: “ Vận dụng chuẩn mực kế toán số 14, 15 vào kế toán doanh
thu tiêu thụ sản phẩm trong mô hình doanh nghiệp kinh doanh xây lắp” nhằm làm
rõ hơn cách xác định chính xác doanh thu, chi phí phát sinh của hoạt động xây lắp
theo hợp đồng xây dựng đã được ký kết giữa nhà thầu xây lắp và chủ đầu tư( khách
hàng ) tuân theo chuẩn mực kế toán số 15 và việc ghi nhận doanh thu tiêu thụ các sản
phẩm xây lắp khác tuân theo chuẩn mực kế toán số 14. Chuẩn mực kế toán số 14 “
Doanh thu và thu nhập khác” được vận dụng vào hạch toán doanh thu tiêu thụ các sản
phẩm xây lắp khác của doanh nghiệp kinh doanh xây lắp được ghi nhận và hạch toán
giống như trong các doanh nghiệp sản xuất khác. Chuẩn mực kế toán số 15 “ Hợp
đồng xây dựng” được vận dụng vào việc hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp
kế toán doanh thu – chi phí có liên quan đến công tác xây lắp thông qua hợp đồng
xây dựng, việc ghi nhận đúng và chính xác các khoản doanh thu và chi phí này sẽ làm
căn cứ chính xác để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
Với nội dung như vậy đề tài gồm có những phần chính sau đây:
1
Phần 1: Vận dụng chuẩn mực kế toán Việt nam số 14, 15 vào kế toán doanh
công tác kế toán, công tác quản lý, hạch toán tài sản, vật tư, thiết bị trở nên rất phức
tạp do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như thời tiết làm cho công trình dễ hư hỏng xuống
cấp, công tác quản lý về mặt con người, vật tư, tài sản trở nên khó khăn hơn.
Sản phẩm xây lắp từ khi khi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao
đưa vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp về kỹ thuật
của từng công trình( nhà, cầu, đường…). Quá trình thi công được chia thành nhiều
giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau theo từng hạng
mục công trình, các công việc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của yếu
tố môi trường như nắng, mưa, lũ lụt…ảnh hưởng đến tiến độ thi công và chất lượng
công trình. Đặc điẻm này cũng đòi hỏi việc tổ chức quản lý và giám sát chặt chẽ sao
cho đảm bảo công trinh đúng như thiết kế, dự toán và đảm bảo thời gian hoàn thành
đúng theo tiến độ để có thể đưa vào sử dụng sau khi hoàn thành. Trong điều kiện như
vậy các nhà thầu phải có trách nhiệm bảo hành công trình( chủ đầu tư giữ lại một tỷ
lệ nhất định trên giá trị công trình, khi hết thời hạn bảo hành mới trả alị cho đơn vị
xây lắp. Thời hạn bảo hành công trình tối thiểu 24 tháng, mức 3% giá trị xây lắp đối
với công trình quan trộng của nhà nước và công trình nhóm A, 12 tháng đối với công
trình khác với mức 5% giá trị xây lắp. Tiền bảo hành công trình được tính lãi suất
như tiền gửi ngân hàng.
Bên cạnh việc tiêu thụ sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng theo hợp
đồng đã ký kết thì doanh nghiệp kinh doanh xây lắp còn tổ chức tiêu thụ các sản
phẩm được sản xuất để phục vụ nhu cầu của người mua như: xi măng, gạch, bê tông,
kết cấu, vữa xây dựng, nhà ở, dịch vụ cho thuê nhà ở, các sản phẩm và dịch vụ
khác… Đối với các sản phẩm và dịch vụ này thì không có những đặc điểm mang tính
đặc thù, tuy nhiên đối với mỗi sản phẩm và dịch vụ khác nhau thì cần có những công
tác tổ chức và quản lý khác nhau, những chính sách tiêu thụ riêng đảm bảo cho quá
trình tiêu thụ diễn ra thuận lợi và thời gian thu hồi vốn nhanh. Quá trình tiêu thụ các
sản phẩm và dịch vụ này diễn ra giống như đối với các doanh nghiệp sản xuất khác.
2. Đặc điểm kế toán trong đơn vị kinh doanh xây lắp.
3
Đặc điểm của sản xuất xây lắp ảnh hưởng đến công tác tổ chức kế toán trong
đặc điểm của sản phẩm xây lắp nên khi tiêu thụ sản phẩm(đối với bàn giao công trình
xây lắp) doanh nghiệp kinh doanh xây lắp phải chịu trách nhiệm bảo hànhỉan phẩm
đã được bàn giao, khoản tiền và thời gian bảo hành sản phẩm đươcj ghi trong hợp
đồng giao nhận thầu. Khoản tiền bảo hành được bên A ( bên chủ đầu tư – khách
hàng) giữ lại để thanh toán sau hoặc yêu cầu doanh nghiệp xây lắp nộp vào ngân
hàng khi bàn dao công trình. Kế toán bàn giao công trình phải theo dõi và kiểm tra
chặt chẽ tình hình doanh thu và chi phí phát sinh khi thực hiện quá trình bàn giao
công trình để từ đó xác định đúng đắn kết quả kinh doanh trong kỳ.
Đối với các sản phẩm xây lắp khác được xác định là tiêu thụ trong doanh
nghiệp kinh doanh xây lắp thì cũng như trong các doanh nghiệp sản xuất khác thì tiêu
thụ là giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất để thực hiện giá trị sản phẩm hàng
hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, được khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận
thanh toán. Các nghiệp vụ cần được hạch toán ở giai đoạn này là xuất sản phẩm để
bán và thanh toán với người mua, tính các khoản doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ, các khoản chiết khấu thương mại, gảim giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và
thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng theo các phương pháp tính
thuế để xác định doanh thu thuần và cuối năm xác định lẵi lỗ về tiêu thụ sản phẩm.
2. Kế toán tiêu thụ sản phẩm xây lắp trong trường hợp sản phẩm xây lắp
là các công trình hoàn thành bàn giao – Tuân theo chuẩn mực kế toán số 15 “
Hợp đồng xây dựng”
Phần công việc đã hoàn thành của hợp đồng xây dựng làm cơ sở xác định doanh
thu có thể xác định bằng nhiều cách khác nhau, doanh nghiệp cần sử dụng phương
pháp thích hợp để xác định phần công việc hoàn thành tuỳ thuộc vào bản chất của
hợp đồng xây dựng.
II.1. Khái niệm hợp đồng xây dựng
Theo Chuẩn mực kế toán số 15 thì có thể hiểu “ Hợp đồng xây dựng là văn bản
về việc xây dựng một tài sản hoặc tổ hợp các tài sản có liên quan chặt chẽ hay phụ
thuộc lẫn nhau vầ mặt thiết kế, công nghệ, chức năng hoặc các mục đích sử dụng cơ
bản của chúng”. Hợp đồng xây dựng có thể được thoả thuận để xây dựng một tài sản
5
sinh và những yếu tố không chắc chắn được giải quyết. Vì vậy doanh thu cảu hợp
đồng xây dựng có thể tăng hay giảm ở từng thời kỳ.Ví dụ:
• Nhà thầu và khách hàng có thể đồng ý với nhau về các thay đổi và các yêu
cầu làm tăng hoặc giảm doanh thu của hợp đồng trong kỳ tiếp theo so với
hợp đồng được chấp thuận ban đầu.
• Doanh thu đã được thoả thuận trong hợp đồng với giá cố định có thể tăng vì
lí do giá tăng lên.
• Doanh thu theo hợp đồng có thể bị giảm do nhà thầu không thực hiện đúng
tiến độ hoặc không đảm bảo chất lượng xây dựng theo thoả thuận trong hợp
đồng.
• Khi hợp đồng với giá cố định quy định mức giá cố định cho 1 đơn vị sản
phẩm hoàn thành thì doanh thu theo hợp đồng sẽ tăng hoặc giảm khi khối
lượng sản phẩm tăng hoặc giảm.
Sự thay đổi theo yêu cầu của khách hàng về phạm vi công việc được thực hiện
theo hợp đồng. Ví dụ: Sự thay đổi yêu cầu kỹ thuật hay thiết kế của tài sản và những
thay đổi khác trong quá trình thực hiện hợp đồng.Sự thay đổ này chỉ được tính vào
doanh thu của hợp đồng khi.
• Có khả năng chắc chắn khách hàng sẽ chấp nhận các thay đổi và doanh thu
phát sinh từ các thay đổi đó; và
• Doanh thu có thể xác định đựơc một cách đáng tin cậy.
Khoản tiền thưởng là các khoản phụ thêm trả cho nhà thầu nếu họ thực hiện hợp
đồng đạt hay vượt mức yêu cầu( ví dụ như hoàn thành sớm hợp đồng...). Khoản tiền
thưởng được tính vào doanh thu của hợp đồng khi:
• Chắc chắn đạt hoặc vượt mức một số tiêu chuẩn cụ thể đã ghi trong hợp
đồng.
• Khoản tiền thưởng đó có thể được xác định một cách đáng tin cậy.
7
Một khoản thanh toán khác mà nhà thầu thu được từ khách hàng hay một bên
khác để bù đắp cho các chi phí không bao gồm trong giá hợp đồng, ví dụ: Sự chậm
chễ do khách hàng gây nên,sai sót trong các chỉ tiêu kỹ thuật hoặc thiết kế và các
đã được chuyển tới địa điểm xây dựng hoặc được dành ra cho việc trong hợp đồng
nhưng chưa được lắp đặt, chưa sử dụng trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nếu
doanh nghiệp áp dụng phương pháp này thì sẽ dao cho bộ phận kế toán phối hợp với
các bộ phận khác thực hiện. Kế toán căn cứ vào chứng từ xác định doanh thu trên cơ
sở phần công việc hoàn thành trong kỳ( không phải hoá đơn) làm căn cứ ghi nhận
doanh thu trong kỳ kế toán. Đồng thời nhà thầu phải căn cứ vào hợp đồng xây dựng
để lập hóa đơn thanh toán theo tiến độ kế hoạch gửi cho khách hàng để đòi tiền, kế
toán căn cứ vào hoá đơn để ghi sổ kế toán số tiền khách hàng phải thnah toán theo
tiến độ kế hoạch.
- Đánh giá phần công việc đã hoàn thành hoặc tỉ lệ % giữa khối lượng xây lắp
đã hoàn thành so với tổng khối lượng xây lắp phải hoàn thành của hợp đồng thì sẽ
dao cho bộ phận kỹ thuật thi công phối hợp với các bộ phận khác thực hiện.
2.2.2.2. Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán
theo giá trị khối lượng thực hiện, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được xác
định một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận thì doanh thu và chi phí liên
quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng vơi phần công việc đã hoàn thành được
khách hàng xác nhận trong kỳ được phản ánh trên hoá đơn đã lập. Kế toán phải lập
hóa đơn gửi cho khách đòi tiền và phản náh doanh thu và nợ phải thu trong kỳ tương
ứng với phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận. Doanh nghiệp xây
lắp có thể lập các ước tính về doanh thu một cách đáng tin cậy khi đã thoả thuận
trong hợp đồng các điều kiện sau:
- Trách nhiệm pháp lý của mỗi bên đối với tài sản được xây dựng
- Các điều kiện để thay đổi giá trị hợp đồng
9
- Phương thức và thời hạn thanh toán
Doanh nghiệp phải thường xuyên xem xét để khi cần thiết phải điều chỉnh lại
các dự toán và chi phí của hợp đồng xây dựng trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Mặt khác trong chuẩn mực cũng quy định đối với từng loại hợp đồng xây dựng
mà kết quả hợp đồng được ước tính một cách đáng tin cậy khi thoả mãn các điều kiện
sau:
thầu tự lập, không phải chờ khách hàng xác nhận.
- Căn cứ để ghi vào bên có TK 337 là hoá đơn được lập trên cơ sở tiến độ
thanh toán theo kế hoạch đã được quy định trong hợp đồng. Số tiền ghi trên
hoá đơn là căn cứ để ghi nhận số tiền nhà thầu phải thu của khách hàng,
không phải là căn cứ để ghi nhận doanh thu trong kỳ kế toán.
• Kết cấu và nội dung phản ánh
- Bên nợ: Phản ánh số tiền phải thu theo doanh thu đã ghi nhận tương ứng
với phần công việc đã hoàn thành của hợp đồng xây dựng dở dang
- Bên có: Phản ánh số tiền khách hàng phải trả theo tiến độ kế hoạch của hợp
đồng xây dựng dở dang
- Số dư bên nợ: Phản ánh số tiền chênh lệch giữ doanh thu đã ghi nhận của
hợp đồng lớn hơn số tiền khách hàng phải trả theo tiến độ kế hoạch của hợp
đồng xây dựng dở dang
- Số dư bên có: Phản ánh số tiền chệnh lệch giữa doanh thu đã ghi nhận của
hợp đồng nhỏ hơn số tiền khách hàng phải trả theo tiến độ kế hoạch của hợp
đồng xây dựng dở dang
II.3.1.2. TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của
doanh nghiệp kinh doanh xây lắp thực hiện trong một kỳ kế toán của hoạt động sản
xuất kinh doanh.
11
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá trị sản phẩm hàng hoá, dịch
vu, lao vụ mà doanh nghiệp xây lắp đã bán, đã cung cấp cho khách hàng(đã
thực hiện) bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán nếu
có. Giá trị của hàng bán được được thoả thuận ghi trong hợp đồng kinh tế về
mua bán và cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, lao vụ đã được ghi trên
hoá đơn bán hàng hoặc ghi trên các chứng từ khác có liên quan.
- Doanh thu bán hàng có thể thu được tiền hoặc chưa thu tiền ngay( do các
thoả thuận về thanh toán hàng bán) sau khi doanh nghiệp kinh doanh xây lắp
đã cung cấp cho khách hàng