Tài liệu Đề tài "Biện pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu vật tư, máy móc, thiết bị giao thông vận tải ở Công ty xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư giao thông vận tải Hà Nội - TRACIMEXCO Hà Nội" - Pdf 97



LUẬN VĂN "Biện pháp hoàn thiện hoạt
động nhập khẩu vật tư, máy
móc, thiết bị giao thông vận tải
ở Công ty xuất nhập khẩu và
hợp tác đầu tư giao thông vận
tải Hà Nội - TRACIMEXCO
Hà Nội"
LỜI NÓI ĐẦU
Đổi mới kinh tế ở Việt Nam đã trở thành một hiện thực sống động, tạo
ra một bước ngoặt quan trọng đời sống kinh tế xã hội nước ta, được bạn bè
quốc tế quan tâm sâu sắc và đánh giá cao. Đường lối chính sách ấy được
khởi nguồn từ Đại hội Đảng toàn quốc Việt Nam lần thứ VI. Đại hội VI
Đảng cộng sản Việt Nam đã phân tích đúng đắn nguyên nhân của tình hình
khủng hoảng kinh tế xã hội, đề ra định hướng lớn để thoát khỏi tình trạng
đó, đồng thời cũng đề ra đường lối đổi mới toàn diện cho nền kinh tế Nhà
nước.Thương mại nước ta, từ đó cũng liên tục vận động cho phù hơp với
thời kỳ đổi mới, trong đó phải kể đến một bộ phận vô cùng quan trọng đó
là thương mại quốc tế mà cụ thể là lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Nhập khẩu từ lâu đã được thừa nhận là một mặt hoạt động cơ bản của
kinh tế đối ngoại là một phương tiện quan trọng để phát triển nền kinh tế.
Nhập khẩu cho phép khai thác các tiềm năng thế mạnh của các nước trên
thế giới, bổ sung các sản phẩm trong nước chưa sản xuất được hoặc sản
xuất không đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Như chúng ta đã biết, Việt Nam cũng như một số nước nghèo chậm
phát triển khác đang tăng cường nhập khẩu máy móc thiết bị tiên tiến. Ta
cũng biết rằng máy móc, thiết bị, vật tư giữ một vị trí không nhỏ trong công

Với thời gian thực tập, nghiên cứu ngẵn, trình độ có hạn, phạm vi nghiên
cứu rộng, đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót nhất điụnh, kính
mong được sự giúp đỡ góp ý, bổ sung của các thầy cô giáo, các cán bộ
nhân viên của Công ty TRACIMEXCO Hà Nội, cùng tất cả các bạn quan
tâm đến đề tài này.
Chương 1
VAI TRÒ, NỘI DUNG VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
I. HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
CỦA ĐẤT NƯỚC.
1. Tính tất yếu khách quan của thương mại Quốc tế.
Mỗi một quốc gia không thể sản xuất ra tất cả những thứ mà quốc gia
đó cần. Nhưng nhu cầu tiêu dùng lại rất đa dạng và phong phú, nếu một
quốc gia không mở cửa, giao lưu buôn bán với các nước khác trên thế giới
thì nó không thể nào đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và cũng
không thể phát triển được nền kinh tế cũng như mọi mặt chính trị, văn hoá,
xã hội…Nhận biết được điều này, ông cha ta từ ngàn xưa đã biết mở cửa,
buôn bán hàng hoá với các nước ở các khu vực khác nhau trên thế giới.
Truyền thống tốt đẹp đó ngày nay đã được Đảng và Nhà nước ta kế thừa và
phát huy, phát triển cho phù hợp với tình hình kinh tế mới của đất nước.
Thương mại quốc tế là mối quan hệ trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa
một quốc gia với các quốc gia khác, là một bộ phận của quan hệ kinh tế
quốc tế của một nước với các nước khác trên thế giới. Sự trao đổi đó là một
hình thức của mỗi quan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh
tế của những hoạt động sản xuất hàng hoá riêng biệt.
Nói đến thương mại quốc tế có nghĩa là nói đến lĩnh vực phân phối
lưu thông hàng hoá và dịch vụ với nước ngoài. Lĩnh vực này thuộc hai
khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng, chắp nối sản xuất và tiêu dùng
của nước ta với sản xuất và tiêu dùng nước ngoài, nếu làm tốt sẽ ảnh hưởng

nước có nhiều loại hàng hoá hơn, có thể sống khá giả hơn, thịnh vượng
hơn.
Thương mại Quốc tế góp phần mở rộng thị trường của mỗi quốc gia.
Mỗi nước có thể sản xuất nhiều sản phẩm hơn, có thể sử dụng công nghệ
tiên tiến có năng suất lao động cao, có thể phát huy tính kinh tế về quy mô
để giảm giá thành của mỗi đơn vị sản phẩm, để hạ giá bán trên thị trường
trong nước và quốc tế, tức là thúc đẩy khả năng phát triển sản xuất trong
nước.
Thông qua Thương mại Quốc tế một nươcơ sở có thể mua hàng hoá từ
nước khác với mức giá thấp hơn so với chi phí sản xuất loại hàng hoá đó ở
trong nước với chất lượng sản phẩm tốt hơn. Nhưng sự cạnh tranh của sản
phẩm, chất lượng cao và giá rẻ nhiều khi là một thách thứcđối với sản xuất
trong nước và có thể gây ra những khó khaưn cho một tầng lớp dân cư đặc
biệt là ngành hàng nhập ngoại có giá rẻ và chất lượng cao hơn. ngoài ra,
thông qua quan hệ Thương mại Quốc tế cũng du nhập vào trong nước
những nền văn hoá phong tục tập quán, truyền thống của các quốc gia khác
nhau. Chính vì vậy chính phủ các nước đều có chính sách đối với quan hệ
kinh tế Quốc tế nói chung và Thương mại Quốc tế nói riêng.
Thương mại Quốc tế trong kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tất yếu
dẫn đến cạnh tranh, theo dõi kiểm soát lẫn nhau rất chặt chẽ giữa các chủ
thể kinh doanh Thương mại Quốc tế. Chính sự cạnh tranh này làm cho chất
lượng nền kinh tế trong nước được nâng cao, việc áp dụng khoa học kỹ
thuật mới được thường xuyên và có ý thức, đồng thời đòi hỏi đội ngũ cán
bộ phải được đào tạo nghiêm túc. Thương mại Quốc tế đưa đến việc xoá bỏ
nhanh chóng các chủ thể kinh doanh hàng hoá lạc hậu. Nó góp phần làm
thiện cơ chế quản lý xuất nhập khẩu của Nhà nước và mỗi địa phương
thông qua đòi hỏi hợp lý của các chủ thể tham gia kinh doanh thương mại
Quốc tế trong quá trình thực hiện. Ngoài ra Thương mại Quốc tế dẫn đến
sự liên kết chặt chẽ giữa các nhà sản xuất với các nhà khoa học một cách
thiết thực và có hiệu quả từ phía các nhà sản xuất, nó khai thông nguồn

vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công
nghiệp hoá đất nước.
- Nhập khẩu bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế
đảm bảo phát triển nền kinh tế cân đối và ổn định.
- Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.
Nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng,
vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao
động.
- Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy sản xuất, thể hiện ở chỗ nhập
khẩu tạo đầu vào cho hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho việc
xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài.
Nhập khẩu tăng khả năng tiêu dùng, đa dạng hoá mặt hàng, chủng
loại, qui cách, cho phép thoả mãn tốt hơn nhu cầu trong nước. Nhập khẩu
tăng cường sự chuyển giao công nghệ, tạo ra sự phát triển vượt bậc của sản
xuất xã hội, tiết kiệm được chi phí và thời gian. Đồng thời nhập khẩu cũng
tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại tức là tạo ra động lực
buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên, thúc đẩy sản
xuất trong nước.
* Ngày nay, nhập khẩu có những chức năng sau:
- Tạo vốn và kỹ thuật từ bên ngoài cho quá trình tái sản xuất trong
nước.
- Thay đổi cơ cấu vật chất của sản phẩm có lợi cho quá trình sản xuất
- Tăng hiệu quả của nền kinh tế thông qua lợi thế so sánh và tiếp thu
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới.
* Tính hiệu quả kinh tế của hoạt động nhập khẩu được thể hiện ở chỗ:
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, nâng cao thu nhập bình quân.
- Sử dụng tốt mọi khả năng, tiềm năng sản xuất.
- Ổn định giá cả chống lạm phát.
Nhà nước ta khuyến khích nhập khẩu các mặt hàng trong nước không
sản xuất được. Trong tình hình đó, các doanh nghiệp tronn nước muốn tồn

cũng tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ, sự phá sản và sự cố gắng vươn lên của
các doanh nghiệp đủ các thành phần kinh tế, giúp nền kinh tế nước ta lúc
đầu còn bỡ ngỡ đã dần tạo thế chủ động bước vào thị trường thế giới. Thực
tế thời gian qua đã chứng minh sự ưu việt của nền kinh tế thị trường cũng
như khẳng định lại vai trò của nhập khẩu trong cơ chế mới.
Xuất nhập khẩu hàng hoá là một vấn đề hết sức quan trọng trong
Thương mại Quốc tế, đó là sự phát triển tất yếu của sản xuất và lưu thông
hàng hoá để tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất, cùng với xuất khẩu, nhập
khẩu có một vai trò không nhỏ trong quá trình phát triển nền kinh tế đất
nước. Thương mại Quốc tế chỉ ra và xác định rõ cho một nước biết đâu là
lợi thế của mình, chỉ ra hướng đi đúng đắn nên đầu tư vào đâu và lĩnh vực
nào là có lợi nhất. Nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại sẽ là nhân tố giúp
chúng ta giải quyết những vướng mắc mà các nước nghèo thường gặp phải.
Phương châm đó là vay mượn công nghệ nước ngoài trong thời kỳ đầu
công nghiệp hoá. Từng bước một chúng ta sẽ học tập và tìm cách cải tiến
những máy móc thiết bị kỹ thuật đã có vào sản xuất với hiêụ quả cao hơn.
Thực hiện nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ sẽ tạo cơ sở để tận
dụng nguồn lao động dư thừa trong nước, nâng cao trình độ kỹ năng của
người lao động. Mặt khác hàng hoá sản xuất ra từ máy móc thiết bị nhập
khẩu có chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn. Đó là một kích thích lớn đối
với sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nước, đòi hỏi họ
phải phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, phân công lao động có hiệu
quả, tạo ra động lực cho sự phát triển của nền kinh tế trong nước. Như vậy
nhập khẩu là cầu nối tiêu dùng và sản xuất của ta với thế giới. Bên cạnh đó
việc nhập khẩumáy móc thiết bị công nghệ cần thiết cho nền kinh tế có thể
đem đến cho chúng ta cơ hội phát triển những ngành tiềm năng, là động lực
ban đầu để nâng cao xuất khẩu hàng hoá với chất lượng cao, mẫu mã phong
phú, dần dần hội nhập vào thị trường quốc tế.
3. Các chính sách nhập khẩu ở nước ta hiện nay.
Nhận thức được vai trò quan trọng của nhập khẩu, Đảng và Nhà nước

đúng hơn là những quy tắc thực hiện trong hoạt động nhập khẩu sao cho
phù hợp với lợi ích của xã hội cũng như của các doanh nghiệp.
* Chính sách nhập khẩu của Việt Nam trong những năm tới:
Căn cứ vào mục tiêu của chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã
hội của nước ta đến năm 2000 và những nguyên tác cơ bản của chính sách
nhập khẩu. Chính sách nhập khẩu của nước ta trong những năm tới là:
- Nhập khẩu chủ yếu là vật tư phục vụ cho sản xuất (xăng dầu, phân
bón, sắt thép, bông, dụng cụ phụ tùng), hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong
nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu. Hạn
chế nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ.
- Nhập khẩu thiết bị toàn bộ, dây chuyền sản xuất máy móc tiên tiến,
hiện đại, đổi mới công nghệ. Ưu tiên nhập khẩu kỹ thuật, công nghệ để chế
biến hàng xuất khẩu.
4. Tổng quát về tình hình nhập khẩu của nước ta trong những
năm qua.
Mở rộng thương mại quốc tế và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại
khác là vận dụng một trong những bài học kinh nghiệm quí báu rút ra từ
thực tiễn nước ta trong những năm qua. Tại đại hội VI Ban chấp hành
Trung ươngĐảng đã nhấn mạnh "Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế
trong chặng đường đầu tiên cũng như sự phát triển khoa học kỹ thuật và
công nghiệp hoá XHCN của nước ta tiến hành nhanh hay chậm, đều đó phụ
thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế
đối ngoại".
Nền sản xuất xã hội nước ta hướng ra ngoài và được các nước bầu bạn
quốc tế hướng vào nước ta vừa làm kinh tế, vừa hỗ trợ giúp đỡ thì ta sẽ có
điều kiện cân đối được xuất nhập khẩu, tiến lên có "xuất siêu" và như vậy
là có được tích luỹ cho sản xuất mở rộng. Kinh tế quốc dân vững mạnh thì
uy tín chính trị cao và có điều kiện góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân
loaị. Trong điều kiện của thế giới hiện đại khi quá trình quốc tế hoá đời
sống kinh tế thế giới trở nên sâu rộng hơn bao giờ hết và khi cuộc cách

Á - Thái Bình Dương. Cho đến nay tuy vẫn là nước "nhập siêu" nhưng
chênh lệch xuất nhập khẩu ngày càng được thu hẹp.
5. Các hình thức nhập khẩu ở nước ta hiện nay:
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu chỉ được tiến hành ở các doanh
nghiệp xuất khẩu trực tiếp nhưng trong thực tế, do tác động của điều kiện
kinh doanh và sự năng động sáng tạo của người kinh doanh mà đã tạo ra
nhiều hình thức nhập khẩu đa dạng khác nhau. Có thể kể ra ở đây một vài
hình thức nhập khẩu thông dụng đang được áp dụng tại các doanh nghiệp
nước ta hiện nay.
a. Nhập khẩu tư doanh:
Hoạt động nhập khẩu tư doanh là hoạt động nhập khẩu độc lập của
một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp, doanh nghiệp phải nghiên cứu
thị trường trong và ngoài nước, tính toán chi phí đảm bảo kinh doanh nhập
khẩu có lãi, đúng phương hướng, chính sách, luật pháp quốc gia cũng như
quốc tế.
b. Nhập khẩu đổi hàng:
- Nhập khẩu đổi hàng: Nhập khẩu đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là
hai loại nghiệp vụ chủi yếu của buôn bán đối lưu. nó là một hình thức nhập
khẩu gắn liền với xuất khẩu, thanh toán không dùng tiền mà là hàng hoá, ở
đây, mục đích của nhập hàng không phải chỉ để thu lãi từ hoạt động nhập
mà còn nhằm để xuất được hàng, thu lãi từ hoạt động xuất.
c. Nhập uỷ thác:
- Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một
doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu
một số loại hàng hoá nhưng không có quyền tham gia quan hệ xuất nhập
khẩu trực tiếp đã uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch
ngoại thương tiến hành nhập hàng theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác
phải tiến hành đàm phán với nước ngoài để làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá
theo yêu cầu của been uỷ thác và được hưởng một phần thù lao gọi là phí
uỷ thác.

tiến hành giao dịch đàm phán, ký két hợp đồng và tổ chức thực hiện hợp
đồng. Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ phải được nghiên cứu thực hiện đầy đủ, kỹ
lưỡng và đặt trong mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt được những lợi
thế đảm bảo cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu đạt hiệu quả cao nhất.
Như vậy cho dù nhập khẩu hình thức nào đi nữa thì các bước tiến hành
nhập khẩu ở các doanh nghiệp xuất khẩu đều bao gồm các trình tự sau:
1. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu, lựa chọn bạn hàng giao dịch.
Nghiên cứu thị trường bao gồm những bước sau:
a. Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu:
Mục đích của nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu để tiến hành nhập đúng
chủng loại mà thị trường trong nước cần, kinh doanh có hiệu quả, đạt được
mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc nhận biết các mặt hàng nhập
khẩu trước hết căn cứ vào nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước về số
lượng, chất lượng, tính thời vụ, thị hiếu cũng như tập quán tiêu dùng của
từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó tiến hành xem xét các khía cạnh
của hàng hoá cần nhập khẩu như: công cụ, đặc tính quy cách, phẩm chất
mẫu mã, giá cả, điều kiện mua bán, khả năng sản xuất, các dịch vụ kèm
theo v.v…
Để lựa chọn được mặt hàng kinh doanh, một nhân tố nữa phải được
tính đến, đó là tỷ suất ngoại tệ của các mặt hàng. trong nhập khẩu, tỷ suất
ngoại tệ là tổng số tiền bản tệ có thể thu được khi chỉ ra một đơn vị ngoại tệ
để nhập khẩu. Nếu tỷ suất ngoại tệ mặt hàng đó (VND/USD) lớn hơn tỷ giá
hối đoái trên thị trường thì việc chọn mặt hàng nhập khẩu là hiệu quả.
Ngoài ra, việc lựa chọn hàng hoá nhập khẩu còn phải dựa vào kinh ngiệm
của người nghiên cứu thị trường để dự đoán xu hướng biến động của giá cả
thị trường trong nước cũng như ngoài nước, khả năng thương lượng để đạt
tới điều kiện mua bán ưu thế hơn.
b. Nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng:
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên
một phạm vi thị trường nhất định, trong một thời gian nhất định (thường là

tới dung lượng thị trường.
- Các chính sách của Nhà nước và tập đoàn lũng đoạn (Tập đoàn sản
xuất lớn) .
- Thị hiếu tập quán của người tiêu dùng, khả năng sản xuất hàng thay
thế.
* Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đến dung lượng thị trường: bao
gồm các hiện tượng đầu cơ gây ra những đột biến về cung và cầu, các yếu
tố tự nhiên như thiên tai, động đất, bão lũ, hạn hán… Các yếu tố về chính
trị xã hội như đình công v.v…
Trên đây là những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của dung
lượng thị trường. Khi nghiên cứu phải thấy rõ nhân tố nào có ý nghĩa quyết
định đến xu hướng vận động của thị trường trong giai đoạn hiện nay và
tương lai. Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong kinh doanh xuất nhập khẩu
hàng hoá, giúp cho nhà kinh doanh xuất nhậpddeef ra các quyết định kịp
thời, nhanh chóng đạt hiệu quả cao nhất.
c. Lựa chọn đối tượng giao dịch
trong Thương mại Quốc tế, bạn hàng hay khách hàng là những người
hoặc những tổ chức có quan hệ giao dịch với ta nhằm thực hiện các quan hệ
hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ, các hoạt động hợp tác kinh tế hay
khoa học kỹ thuật liên quan đến việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ, các hoạt
động hợp tác kinh tế hay khoa học kỹ thuật liên quan đến việc cung cấp
hàng hoá. Lựa chọn đối tượng giao dịch bao gồm vẫn đề lựa chọn nước để
giao dịch và lựa chọn thương giao dịch.
- Khi chọn nước để nhập khẩu hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu trong
nước chúng ta cần phải nghiên cứu tình hình sản xuất của nước đó, khả
năng và chất lượng hàng xuất khẩu, chính sách và tập quán thương mại của
nước đó.
- Chọn thương nhân để giao, trong điều kiện cho phép, hiệu quả nhất
là nên chọn những người xuất nhập khẩu trực tiếp. Nội dung cần thiết để
nghiên cứu lựa chọn thương nhân bao gồm: quan điểm kinh doanh của

Qua trên khi định giá nhập khẩu cho một loại hàng hoá, chúng ta cần
phải tham khảo giá xuất khẩu mặt hàng đó đi các thị trường khác, cước phí
vận tải… và với mức giá đó cộng với các chi phí có liên quan liệu có phù
hợp với thị trường trong nước hay không.
Tóm lại qua nghiên cứu những nhân tố trên đây cho phép chúng ta
biết rõ về thị trường và quy luật vận động của nó. Điều cần lưu ý trong quá
trình nghiên cứu thị trường và phân tích thông tin thị trường chúng ta nên
lựa chọn cho mình thị trường trọng điểm và lựa chọn kinh doanh mặt hàng
có hiệu quả nhất. Đồng thời chúng ta sắp xếp thứ tự ưu tiên cho từng thị
trường đối với từng mặt hàng cụ thể để sau này chúng ta có lựa chọn đối
tác giao dịch phù hợp với mình và lựa chọn mặt hàng kinh doanh đảm bảo
thực hiện được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
2. Đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hoá
a. Đặt hàng và hỏi hàng trong thương mại quốc tế:
- Đặt hàng là lời đề nghị của nhà nhập khẩu gửi cho nhà xuất khẩu
biểu thị muốn mua hàng hoá hoặc dịch vụ nhất định theo những điều kiện
nhất định về giá cả, thời gian giao hàng, phương thức thanh toán.
- Chào hàng là lời đề nghị của nhà xuất khẩu gửi cho nhà nhập khẩu
thể hiện ý định muốn bán theo những điều kiện nhất định về giá cả, thời
gian giao hàng và phương thức thanh toán. Đây là các lời đề nghị ký kết
hợp đồng, hai bên chưa có gì ràng buộc với nhau.
b. Đàm phán và ký kết hợp đồng
Sau khi nhận được thủ tục chào hàng hay đặt hàng và có sự trả lời từ
phía bên kia, hai bên tổ chức đàm phán, thương lượng để đi đến một thoả
thuận chung về điều mua bán và tiến hành ký kết hợp đồng.
b1. Đàm phán: là việc bàn bạc trao đổi với nhau các điều kiện mua
bán giữa các nhà kinh doanh để đi đến thống nhất ký hợp đồng. Trong
Thương mại Quốc tế thường có 3 hình thức đàm phán sau:
- Đàm phán qua thư tín
- Đàm phán qua điện thoại.

* Đặc điểm của hợp đồng kinh tế ngoại thương:
+ Chủ thể của hợp đồng mua bán ngoại thương là các pháp nhân có
quốc tịch khác nhau.
+ Hàng được chuyển từ nước này sang nước khác
+ Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ hay có nguồn gốc
ngoại lệ đối với một trong hai bên ký kết hợp đồng.
* Trong buôn bán quốc tế có thể có nhiều phương thức ký kết hợp
đồng khác nhau:
+ Hai bên cũng ký kết vào một hợp đồng mua bán (một văn bản)
+ Người mua xác nhận (bằng văn bản) là người mua đã đồng ý với các
điều kiện và điều khoản của một chủ chào hàng tự do nếu người mua viết
dùng thủ tục cần thiết và trong thời hạn hiệu lực của thư chào hàng.
+ Người bán xác nhận (bằng văn bản) đơn đặt hàng của người mua
trong thời hạn hiệu lực của đơn đặt hàng.
+ Trao đổi bằng thư xác nhận đạt được những điều thoả thuận trong
đơn đặt hàng trước đây của hai bên (nêu rõ những điều kiện đã được thoả
thuận).
Hợp đồng chỉ có thể coi như đã ký kết chỉ trong trường hợp các bên đã
ký vào hợp đồng. Các bên tham gia ký kết hợp đồng phải có đủ năng lực
hành vi và năng lực pháp luật và có đủ thẩm quyền.
* Nội dung của hợp đồng mua bán ngoại thương bao gồm những diều
khoản chính sau:
+ Tên hàng
+ Số lượng và cách xác định. Đặc biệt lưu ý tới từng loại hàng, để xác
định số lượng cho chuẩn xác (thành phần, mức hao hụt tự nhiên…)
+ Qui cách, phẩm chất và cách xác định.
+ Đóng gói, bao bì mã ký hiệu phải phù hợp với hàng hoá.
+ Thời hạn, phương tiện và địa điểm giao hàng.
+ Giá cả, giá trị, điều kiện giao hàng.
+ Phương thức thanh toán và chứng từ thanh toán.

Trong trường hợp nhập khẩu FOB chúng ta phải tiến hành thuê tàu
dựa vào các căn cứ sau đây:
+ Những điều khoản của hợp đồng
+ Đặc điểm của hàng hoá mua bán
+ Điều kiện vận tải.
Tuỳ vào khối lượng và đặc điểm hàng hoá cần chuyên chở mà lựa
chọn thuê tàu cho phù hợp, đảm bảo thuận lợi và nhanh chóng. Chẳng hạn
đối với hàng hoá có khối lượng nhỏ thường thuê tàu chợ, hàng có khối
lượng lớn, phức tạp phải thuê tầu chuyến. Hiện nay do điều kiện về tàu của
chúng ta rất hạn chế và việc thuê tàu nước ngoài đối với doanh nghiệp Việt
Nam không dễ lắm nên chúng ta thường nhập khẩu theo điều kiện CIF.
c4. Mua bảo hiểm:
Chuyên chở hàng hoá bằng đường biển thường gặp rủi ro và tổn thất.
Bởi vậy, trong kinh doanh Thương mại Quốc tế, bảo hiểm đường biển là
loại hình bảo hiểm phổ biến nhất. Các đơn vị kinh doanh khi mua bảo hiểm
phải làm một hợp đồng bảo hiểm với Công ty bảo hiểm. Tuỳ thuộc vào đặc
điểm và tính chất của hàng hoá, điều kiện vận chuyển mà mua bảo hiểm
chuyến hay bảo hiểm bao(một khoảng thời gian nhất định).
c5. Làm thủ tục hải quan
Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để nhập khẩu hay xuất
khẩu đều phải làm thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là một công cụ quản
lý hành vi mua - bán theo pháp luật của Nhà nước để ngăn chặn buôn lậu:
Việc làm thủ tục hải quan bao gồm 3 bước chủ yếu sau:
+ Khai báo hải quan: chủ hàng phải kê khai chi tiết về hàng hoá lên tờ
khai hải quan để cơ quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ (giấy phép
xuất nhập khẩu, hợp đồng mua bán…)
+ Xuất trình hàng hoá: Hàng hoá phải được xếp trật tự, thuận tiện cho
việc kiểm soát. Hải quan đối chiếu hàng hoá trong tờ khai với thực tế để
quyết định có cho hàng qua biên giới hay không.
+ Thực hiện các qui định của hải quan: Sau khi kiểm tra giấy tờ, hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status