Tài liệu Luận văn: "Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Công ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn" - Pdf 97


TRƯỜNG
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Hoạch định chiến lược kinh
doanh tại Công ty xi măng và
xây dựng công trình Lạng
Sơn
Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Ở nước ta, từ khi chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế kế hoach hoá tập
trung sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đã rất lúng túng trong công tác
hoạch định chiến lược. Các doanh nghiệp cần thiết phải hoạch định và triển
khai một công cụ kế hoạch hoá mới có đủ tính linh hoạt để ứng phó với
những thay đổi của thị trường. Chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ
sở phân tích và dự đoán các cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh, điểm yếu của doanh
nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có được những thông tin tổng quát về môi
trường kinh doanh bên ngoài cũng như nội lực của doanh nghiệp.
Ở Công ty Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn. Việc xây dựng
kế hoạch của Công ty mới chỉ dừng lại ở công tác kế hoạch hoá mà chưa có
tầm chiến lược. Công ty có nhiều thuận lợi: Tài nguyên dồi dào, thị trường
tiêu thụ rộng lớn, song Công ty đang ngày càng mất dần thị trường do sự cạnh

nghiệp với đội cơ giới đá Hồng Phong lấy tên là “Xí Nghiệp Vôi Đá”, lúc này
ngoài nhiệm vụ sản xuất vôi , xí nghiệp còn sản xuất đá các loại , số lượng
công nhân viên đã tăng lên trên 100 người.
Đầu năm 1978 Tỉnh uỷ, UBND Tỉnh Lạng Sơn có chủ trương mở rộng
mặt bằng xí nghiệp, lập dự án xây dựng một phân xưởng sản xuất xi măng lò
đứng P300. Cuối năm 1978 “Xí Nghiệp Vôi Đá” được đổi tên thành “Xí
Nghiệp Sản Xuất Vật Liệu Xây Dựng”.
Năm 1991 “Xí Nghiệp Sản Xuất Vật Liệu Xây Dựng” được đổi tên thành
“Nhà Máy Xi Măng Lạng Sơn”. Sản lượng sản xuất xi măng ngày một tăng
và trở thành sản phẩm chủ đạo của đơn vị.
Tháng 5 năm 2002, công ty đã đổi tên thành “Công ty xi măng và xây
dựng công trình Lạng Sơn”. Lúc nay nhiệm vụ của công ty là sản xuất sản
phẩm xi măng và các sản phẩm khác đồng thời tham gia xây dựng các công
trình trong toàn tỉnh.
Tên giao dịch: Công ty Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn.
Trụ sở: Thành Phố Lạng Sơn - Tỉnh Lạng Sơn.
Điện thoại: 025.878.425
2. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty :
Công ty có các chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau:
Luận văn tốt nghiệp3

- Thực hiện chế độ hạch toán độc lập tự chủ về tài chính.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các kế hoạch của Công ty.
- Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh đúng chế độ chính sách hiện hành
của Nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn được giao.
- Chấp hành đầy đủ các chế độ, chính sách pháp luật của Nhà nước và
quy định của Tỉnh ủy Lạng Sơn.

phẩm đầu ra của nhà máy.
- Phòng kế toán tài vụ: Quản lý công tác tài chính đảm bảo tiền vốn một
cách kịp thời phục vị sản xuất kinh doanh, hạch toán kế toán chính xác kết
quả kinh doanh của đơn vị.
- Phân xưởng liệu: Có nhiệm vụ sản xuất bột phối liệu.
- Phân xưởng lò: Có nhiệm vụ sản xuất clinke- nửa thành phẩm.
- Phân xưởng khai thác đá: Có nhiệm vụ sản xuất đá hộc, đá dăm , là
nguyên liệu cho sản xuất xi măng.
- Phân xưởng thành phẩm: Có nhiệm vụ sản xuất xi măng rời và xi măng bao.
- Phân xưởng cơ điện: Có nhiệm vụ sửa chữa, kiểm tra, bảo dưỡng thiết
bị sản xuất toàn nhà máy.
- Phân xưởng gạch bê tông: Có nhiệm vụ ssản xuất gạch bê tông, cột
điện. Tình hình tổ chức bộ máy của công ty được thể hiện ở sơ đồ 2.

Báo cáo thực tập Công ty Xi măng v Xây dựng công trình
Lạng Sơn
5

SƠ ĐỒ 1 : CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY XI MĂNG VÀ XDCT LẠNG SƠN
ti vụ
PX
Khai
thác
đá
PX

PX
Liệu
PX

Tông
đúc
s

n

PX
Thnh
Phẩm
PX

điện
Luận văn tốt nghiệp

3.2. Cơ cấu lao động
Nói chung lực lượng lao động của Công ty Xi măng và Xây dựng công
trình Lạng Sơn trong nhiều năm gần đây có xu hướng giảm dần về mặt số
lượng và cơ cấu cũng có những thay đổi theo một chiều hướng nhất định.
Một số bảng cấu lao động của Công ty Xi măng và Xây dựng công


359

340

THCN 35

18

11

Cao đẳng, ĐH và
trên đại học
115

118

121

( Nguồn: Phòng tổ chức - hành chính )
Qua đây ta thấy rằng trình độ lao động chủ yếu trong công ty là CNKT
chiếm số đông, số lượng lao đông trình độ THCN chiếm số lượng ít, và đều
đang ở xu hướng giảm dần qua từng năm với mức ổn định. Bên cạnh đó
lượng lao động ở trình độ Cao đẳng, ĐH và trên ĐH ngày càng tăng điều này
thể hiện mức độ cải tạo cơ cấu trình độ cán bộ công nhân viên chức trong
công ty. Lực lượng này tăng đều tương ứng với tăng lao động gián tiếp. Tuy
vậy mặt bằng chung về trình độ lao động của công ty là tương đối thấp, hầu
Luận văn tốt nghiệp

hết là những CNKT. Điều này thể hiện tính chất công việc không đòi hỏi cao

+37,9

2. Nộp ngân sách Nhà nước
(triệu đồng) 381,32

414,67

606,35

+33,35

+8,75

+191,68

+46,2

3. Thu nhập bình quân
(người/tháng/ngàn đồng) 900

1000

1200

+100

+11,1

+200


2003

2004

So sánh 03/02

So sánh 04/03

Luận văn tốt nghiệp

đồng/người/tháng thì đến năm 2004 đã là 1200 nghìn đồng/người/tháng. Qua
số liệu về lợi nhuận của công ty ta thấy chỉ tiêu này cũng tăng cụ thể năm
2003 tăng 0,11 tỷ đồng so với năm 2002 tương ứng với 8,01%, lợi nhuận năm
2004 tăng 0,7 tỷ đồng so với năm 2003 tương ứng 47,2%. Điều đó chứng tỏ
công ty đang từng bước đi vào phát triển mạnh, đời sống người lao động được
nâng cao.

II. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC
HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CỦA CÔNG TY XI MĂNG VÀ
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LẠNG SƠN
1. Đặc điểm tổ chức sản xuất.
Công ty Xi Măng và XDCT Lạng Sơn là đơn vị sản xuất công nghiệp,
sản phẩm của nhà máy mang hình thái vật chất cụ thể. Trong đó sản phẩm
chính là xi măng, sản phẩm phụ gồm: vôi cục, ngói xi măng, gạch lát, bê tông,
gạch bê tông, gạch 30*30, đá xây dựng.
Trong công ty ngoài bộ máy quản lý còn có các phân xưởng sản xuất
như: phân xưởng liệu, phân xưởng lò, phân xưởng thành phẩm, phân xưởng
cơ điện, phân xưởng khai thác đá, và phân xưởng sản xuất bê tông.
Đối với phân xưởng liệu có nhiệm vụ sản xuất bột phối liệu, số người
trong phân xưởng khoảng 50 người.Trong đó có một quản đốc phân xưởng,

kín sản xuất.

Nguyên liệu chính: Đá vôi, đất sét
Nhiên liệu : Than
Phụ gia : Quặng sắt, quặng barit, thạch cao, xỉ ,đá đen
Luận văn tốt nghiệp

Sơ đồ 2: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất xi măng
ở công ty xi măng và XDCT Lạng Sơn


Barít

Sấy
Đập
Quặng sắt

Than

Đất sét
Si lô
than
Si lô
đ

t
sét
Qu

ng
ba rít
Ph

i li

u b

ng cân
đ
i

Hệ thống sản xuất xi măng đen bao gồm những máy móc thiết bị chính sau:
- 4 Lò nung quay: Hệ thống lò nung quay do Rumani sản xuất và
cung cấp thiết bị phụ tùng kem theo dây chuyền lò nung.
- Máy nghiền nguyên liệu gồm : 5 cái. Công nghệ ướt do Rumani sản
xuất
- 3 Máy bừa bùn năng suất thiết kế là 60 m3 / giờ máy
- 5 Giếng điều chế mỗi cái dung tích chứa 1.500 m3
- 3 Máy nghiền than ( hệ thống nghiền bi)
- 5 Máy sấy than năng suất 14 tấn / giờ máy
- 3 Bơm Pulles năng suất 35 tấn / giờ máy
- 6 Máy nghiền xi măng (Clinker) trong đó : 4 cái năng suât thiết kế
14,5 tấn / giờ máy và 2 cái năng suất thiết kế 16 tấn / giờ máy.
- 3 Máy nghiền đóng bao năng suất 34 tấn / giờ máy.
- Phương tiện vận tải :
- 3 Máy cán đá trong đó : 2 cái với công suất 40 tấn / giờ cái và 1 cái
80 tấn giờ cái
- 2 Máy xúc
- Cầu trục 10 tấn x 9 cái
-
Cần trục 10 tấn x 2 cái

Nhìn chung, hệ thống máy móc thiết bị trong Công ty đa dạng về chủng
loại, đầy đủ về số lượng đảm bảo cho vận hành dây chuyền sản xuất 85.000
tấn xi măng một năm.

4. Đặc điểm về nguyên vật liệu
Đối với Công ty Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn , sản xuất
theo công qui trình công nghệ khép kín do đó yêu cầu thời gian sản xuất liên
tục suốt ngày đêm, chỉ khi nào thiết bị trong dây chuyền công nghệ bị sự cố
hoặc dừng sửa chữa theo định kỳ thì mới ngừng hoạt động.


Tổng số vốn kinh doanh.

17.040.094.776 15.933.858.065

15.248.228.893

( Nguồn: Báo cáo tài chính các năm-Phòng tài vụ)
Qua bảng trên ta thấy tỉ lệ vốn cố định chiếm hơn 14% tổng số vốn kinh
doanh, còn vốn lưu động chiếm khoảng trên 85%. Tuy nhiên ta thấy số vốn lưu
động của công ty đang có xu hướng tăng qua các năm từ 2003 đến 2004. Điều
đó chứng tỏ quy mô sản xuất kinh doanh của công ty đang được mở rộng dần.
6. Đặc điểm về thị trường và khách hàng.
Sản phẩm xi măng Công ty đã có hơn 45 năm nay trên thị trường, nên
có thể dễ dàng thấy rằng thị trường chính của công ty là những thị trường
truyền thống mà công ty có sự uy tín, trách nhiệm cao.

Bảng 5: Bảng phân phối sản phẩm ra thị trường theo địa lý như sau

Các sản phẩm chủ yếu
Thị trường tiêu thụ
1. Xi măng đen
Lạng Sơn, Thái bình và 6 tỉnh phía bắc (Vĩnh
phúc, Phú thọ, Yên bái, Lào cai, Hà Giang và
Luận văn tốt nghiệp

Tiên quang.)
3. Clinker Lạng Sơn, Thái bình, Hà nội, …
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
Có thể nói thị trường tiêu thụ xi măng Lạng Sơn là trung bình, chủ yếu

2002

2003 2004
CL Tl (%)

CL Tl (%)

Doanh thu 15,253

17,587
24,254 +2,334
+15,3
+6,667 +37,9
Lợi nhuận 1,372

1,482
2,182 +0,110
+8,01
+0,700 +47,2
Tỷ suất Lợi nhuận/Doanh thu

0,089

0,084
0,091 -0,005 -5,6 +0,007
+8,3

Theo bảng trên ta thấy năm 2004 là năm có tỷ suất lợi nhuận theo
doanh thu cao nhất và năm 2003 là thấp nhất. Cụ thể năm 2002 công ty giữ
Luận văn tốt nghiệp

- Mở rộng thị trường và quy mô phân phối sản phẩm ra toàn quốc, đặc biệt
chú trọng vào thị trường Miền Bắc.
 Mục tiêu ngắn hạn
Luận văn tốt nghiệp

- Tăng cường chất lượng cho sản phẩm của Công ty, đảm bảo đúng tiêu chuẩn
quy cách của Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng VIệt Nam.
- Tăng thu nhập cho người lao động trong Công ty, đảm bảo mức thu nhập
phù hợp với tốc độ trượt giá bình quân của thị trường.
- Mở rộng thị trường tiêu thụ và thiết lập các kênh phân phối sản phẩm ra toàn
MIền trung chuẩn bị cho việc thực hiện mục tiêu trung hạn và dài hạn của
Công ty.
- Doanh thu của Công ty đạt 30 tỷ vào năm 2008, 45 tỷ vào năm 2010, 50 tỷ
vào năm 2015.
- Lợi nhuận đạt 5 tỷ vào năm 2008, 7 tỷ vào năm 2010, 15 tỷ vào năm 2015

- Bảng 7: Mục tiêu sản xuất kinh doanh của Công ty
Năm
Chỉ tiêu ĐVT
2005

2010

2015

1. Tổng doanh thu :
13

45



3

5

+ Các chất phụ da Ngàn
Tấn 0,7

75

180

- Dịch vụ:

+ Xây dựng Triệu
VND 1.900

2.000

3.000

+ Vật liệu xây dựng Triệu
VND 1.000

2.500

3.500

3,0

5,0

5. Vốn đầu tư:
2.900

5.800

5.800

- Máy móc thiết bị
Triệu
VND
1.000

3.000s

3.000

Luận văn tốt nghiệp

- Xây dựng cơ bản
- Đầu tư KHKT

1.000

900

2.000

R
và 45 USD
B

Indonesia 40 USD
R
và 55,55 USD
B

Nhật Bản 66,9 (giá ở Tokyo)
Hàn Quốc 50-55 USD
R

Malaysia 48,95 USD
R
và 48,95 USD
B

Philippin 39,34 USD
R
và 40,29 USD
B

Singapre 37,00 USD
R

Đài Loan 47,33 USD
R
và 54,50 USD
B

khoảng 1,5 -6% trong tổng sản lượng xi măng. Đây là một tỷ lệ thấp. Do đó
nhu cầu về đá bazan, quặng sắt làm phụ gia xi măng còn khá cao.

2.1.2. Môi trường quốc dân
* Các nhân tố kinh tế
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta tương
đối ổn định, trung bình gần 9%. Song song với sự tăng trưởng của nền kinh tế
thì tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng. Từ năm 1998 - 2002, tỷ lệ đô thị hoá của
Việt Nam tăng từ 19% lên 24%. Tốc độ đô thị hoá tăng nhanh tạo sức ép về
nhu cầu nhà ở đô thị ngày càng tăng. Hàng loạt các khu chung cư ỏ các thành
phố lớn đã và đang được xây dựng: Khu chung cư Linh Đàm, Định Công (
Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh ),
Mặt khác, trong xu hướng hội nhập, Việt Nam đã kí hiệp định thương mại
Việt - Mỹ; là thành viên của ASEAN và từ ngày 1/1/2003 chính thức tham gia
lộ trình AFTA. Vì vậy, Nhà nước phải xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài. Hàng loạt các
công trình xây dựng, đường xá đã được xây dựng: đường mòn Hồ Chí Minh,
đường quốc lộ 1A mới
Luận văn tốt nghiệp

Đấy là những điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp xây dựng phát
triển. Theo số liệu thống kê, từ năm 1999 đến nay, giá trị sản xuất công
nghiệp vật liệu xây dựng tăng trưởng hàng năm từ 21% đến 23% ( giá trị sản
xuất công nghiệp vật liệu xây dựng năm 2001 là 27.212 tỷ đồng và dự kiến
năm 2002 là 33.076 tỷ đồng). Trong đó, xi măng tăng từ 11,8 triệu tấn (1999)
lên 16,18 triệu tấn (2001) và 17,61 triệu tấn (2002).
Dựa trên chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010, Nhà
nước đã xây dựng các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội như sau:
- Đưa GDP năm 2005 lên gấp đôi năm 1995 và GDP năm 2010 tăn gấp đôi
năm 2000, trong đó giá trị tăng thêm của công nghiệp và xây dựng tăng bình

măng nhưng bây giờ thì không cần. Đây là một thuận lợi cho các doanh
nghiệp ra nhập ngành sau và giảm bớt rào cản ra nhập ngành.
* Các nhân tố văn hoá - xã hội
Để có thể thành đạt trong kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ
hướng nỗ lực của mình vào các thị trường mục tiêu mà còn phải biết khai thác
tất cả các yếu tố của môi trường kinh doanh, trong đó có yếu tố môi trường
văn hoá.
Văn hoá là môi trường tổng hợp, bao gồm: kiến thức, lòng tin, nghệ
thuật, pháp luật, đạo đức, phong tục và bất cứ khả năng, thói quen nào được
con người chấp nhận. Vì vậy, văn hoá ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi mỗi
cá nhân, hành vi của người tiêu dùng.
Về sắc thái văn hoá, nó vừa chịu ảnh hưởng của truyền thống lại vừa
chịu ảnh hưởng của môi trường, lãnh thổ và khu vực. Sắc thái văn hoá in đậm
lên dấu ấn ứng xử của người tiêu dùng trong đó có vấn đề quan niệm và thái
độ đối với hàng hoá, dịch vụ mà họ cần mua. Chẳng hạn, yếu tố đạo Khổng
đã ảnh hưởng sâu sắc đến tầng lớp người già ở nhiều dân tộc Á Đông. Ngay
trên lãnh thổ Việt Nam, miền Bắc chịu ảnh hưởng của nho giáo nhiều hơn.
Trong khi khẳng khái, cương trực, khí tiết là những phẩm chất cao đẹp của
những nhà nho yêu nước chân chính thì những nét gàn dở, khách sáo và bệnh
sỹ chi phối rất lớn lối nghĩ, cách thức tiêu dùng hàng hoá của không ít kẻ sỹ
nữa mùa. Chẳng hạn, một số người ở niềm Bắc cứ giàu lên một chút là đua
nhau mua sắm đủ thứ, thích nhà cao tầng - đã có thời là biểu tượng của sự
Luận văn tốt nghiệp

giàu có, đi trước thiên hạ Ngày nay, truyền thống Đại gia đình không còn
nhiều, hầu hết con cái sau khi lập gia đình đều không muốn ở chung với bố
mẹ. Do đó, nhu cầu về nhà ở tăng lên. Như vậy, sự thay đổi truyền thống này
sẽ kích cầu tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
Cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ dân trí của Việt Nam ngày
một được nâng cao hơn. Điều này sẽ tạo điều kiện cho Công ty có nguồn lao

Do đặc điểm sản phẩm không phải là hàng hoá tiêu dùng mà là nguyên
liệu cho sản xuất xi măng nên số lượng khách hàng không nhiều, giá cả sản
phẩm không phụ thuộc vào sở thích cá nhân tiêu dùng mà phụ thuộc vào đặc
điểm nguồn nguyên liệu chính của mỗi nhà máy sản xuất xi măng. Khách
hàng của Công ty chủ yếu là các Công ty xây dựng công trình công cộng, cơ
sở hạ tầng,
2.2.2. Nhà cung ứng.
Nhà cung ứng của Công ty chủ yếu là cung ứng các chất phụ gia. Vì
các nhà máy xi măng chủ yếu đều gần các nguồn nguyên liệu chủ yếu là đá
vôi. Hiện tại, các doanh nghiệp xi măng có khả năng tạo sức ép cho các nhà
cung cấp phụ gia xi măng. Bởi vì số lượng doanh nghiệp cung cấp phụ gia xi
măng đang tăng lên đáng kể, lại tập trung hầu hết ở miền Bắc nên có cùng đặc
điểm của mỏ khai thác. Do đó các nhà máy xi măng có thể thay đổi, lựa chọn
nhà cung cấp với chi phí thay đổi nhà cung cấp tương đối thấp. Cũng cần thấy
rằng, số lượng đối thủ của ngành đang có xu hướng tăng lên đáng kể và hầu
như chưa sản xuất được xi măng mác cao nên nhu cầu quặng sắt, đá bazan
làm phụ gia xi măng còn khá cao. Số lượng doanh nghiệp xi măng tăng lên sẽ
tạo điều kiện cho Công ty mở rộng thị trường và giảm bớt sức ép từ phía nhà
cung ứng.
2.2.3. Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.
Hiện nay, trước nhu cầu về xi măng xây dựng trong nước tăng cao,
mức độ tăng trưởng rất nóng, nguồn cung ứng xi măng theo các chủng loại
khác nhau dang khan hiếm. Do vậy đây là một thị trường rất thu hút, tỷ suất
lợi nhuận cao. Do vậy, nhiều doanh nghiệp đang muốn gia nhập thị trường
này. Các doanh nghiệp muốn gia nhập thị trường này chủ yếu là những doanh
nghiệp trong lĩnh vực xây dựng muốn thực hiện chiến lược hội nhập dọc một
chiều để chủ động xi măng cho quá trình sản xuất. Các đối thủ này phải có
Luận văn tốt nghiệp

các lợi thế là ở gần các nguồn nguyên liệu đá, vôi Các đối thủ tiềm ẩn có thể

không sử dụng được các chuyên gia trong hoạt động quản trị; đường ra quyết
định quản trị dài có thể làm mất thời cơ, cơ hội, mất tính linh hoạt; thông tin
chậm và có thể không chính xác. Đặc biệt, đặc điểm sản xuất kinh doanh của
Luận văn tốt nghiệp

Công ty là có sự phân tán theo không gian ( do đặc điểm khai thác tài nguyên)
nên việc quản trị trực tuyến sẽ gây nhiều khó khăn ( thông tin giữa các cấp
quản trị chậm và có thể không chính xác làm mất đi các cơ hội, thời cơ kinh
doanh hay không lường trước được cũng như phản ứng kịp thời trước những
thay đổi của môi trường kinh doanh ).
2.3.2. Nhân sự
Công ty có một lực lượng lao động lớn, nhân công rẻ. Song, Công ty lại
thiếu một đội ngũ cán bộ quản lý có tri thức, năng lực tiếp thu kiến thức quản
lý mới; thiếu đội ngũ lao động chuyên môn, đặc biệt là cán bộ phụ trách hoạt
động marketing, phụ trách hoạt động xây dựng kế hoạch; thiếu đội ngũ công
nhân có tay nghề bậc thợ cao. Vì vậy, năng suất lao động không cao. Mặc dù
vậy, lực lượng lao động này lại không được thường xuyên đào tạo để nâng
cao tay nghề, trình độ. Đây là một khó khăn nan giải cho Công ty khi muốn
thay đổi công nghệ sản xuất để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng.
2.3.3. Hoạt động marketing
Marketing có thể mô tả như một quá trình xác định, dự báo, thiết lập và
thoã mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng đối với sản phẩm hay dịch vụ.
Hiện nay, Công ty không có bộ phận marketing. Các hoạt động
marketing đều do phòng kế hoạch - kỹ thuật đảm nhận. Song các hoạt động
này hiện nay còn rất yếu. Các hoạt động nghiên cứu thị trường (tìm hiểu các
chính sách, chiến lược của đối thủ cạnh tranh; nhu cầu khách hàng ), xúc tiến
bán hàng hầu như là không có. Việc chăm sóc khách hàng không thường
xuyên. Công ty đã để mất dần uy tín đối với khách hàng truyền thống và để
cho đối thủ cạnh tranh xâm nhập vào. Việc tìm kiếm khách hàng mới, mở
rộng thị trường cũng không được xem xét nhiều. Nhìn chung, hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status