Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp thương mại hoạt động với vai trò là cầu nối giữa sản
xuất với tiêu dùng. Hoạt động đó đã làm cho quá trình lưu thông hàng hoá
diễn ra nhanh chóng hơn, thuận tiện hơn, đáp ứng kịp thời, đúng nhu cầu
của người tiêu dùng. Cùng với việc thực hiện vai trò của mình, doanh
nghiệp thương mại cũng như các doanh nghiệp sản xuất khác đều nhằm đến
mục tiêu là lợi nhuận và hiệu quả kinh tế mang lại cho mình. Hiệu quả kinh
doanh không những là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức, quản
lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp thương mại, hoạt động kinh doanh chính là hoạt
động mua bán hàng hoá. Để đứng vững và phát triển trong điều kiện có sự
cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp phải nắm bắt kịp thời tâm lý và nhu cầu
của người tiêu dùng. Bán hàng là giai đoạn vô cùng quan trọng, nó quyết
định sự thành công hay thất bại trong việc kinh doanh của một doanh
nghiệp. Trong quá trình bán hàng, doanh nghiệp phải bỏ ra các khoản chi
phí liên quan đến công tác bán hàng, kế toán phải thường xuyên theo dõi,
phản ánh, ghi chép, đầy đủ, chính xác, kịp thời các khoản doanh thu, giá
vốn hàng bán và các khoản chi phí có liên quan. Cuối kỳ, kế toán cung cấp
kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu kinh tế tài chính khác giúp ban lãnh đạo
xây dựng và lựa chọn được phương án kinh doanh có hiệu quả nhất.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán bán hàng và xác
định kết quả bán hàng, với những kiến thức đã học ở trường cùng với sự
hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Năng Phúc cũng như sự giúp đỡ
của các cán bộ kế toán trong phòng Kế toán Tài chính - Công ty xuất nhập
khẩu tổng hợp và chuyển giao công nghệ Việt Nam (VINAGIMEX), em đã
mạnh dạn đi sâu nghiên cứu và quyết định chọn đề tài cho chuyên đề tốt
Trang
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
nghiệp của mình: " Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại
ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI
I.1. SỰ CẦN THIẾT TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG
I.1.1. Bán hàng, kết quả bán hàng và yêu cầu quản lý đối với công tác
kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng.
I.1.1.1. Bán hàng
Bán hàng là giai đoạn cuối cùng trong quá trình hoàn vốn kinh doanh
của doanh nghiệp, là quá trình thực hiện mặt giá trị của hàng hoá. Hàng hoá
được coi là đã được bán khi doanh nghiệp chuyển quyền sở hữu cho khách
hàng và được khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán cho số hàng
đó.
Công tác bán hàng phản ánh việc giải quyết đầu ra của hoạt động sản
xuất kinh doanh, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Trong nền
kinh tế thị trường, các mặt hàng ngày càng trở lên đa dạng và phong phú
hơn, người tiêu dùng được quyền lựa chọn và sử dụng nhiều loại hàng hoá
hơn. Trong điều kiện khả năng thanh toán có hạn, nhu cầu của người tiêu
dùng lại cao, họ sẽ chọn những loại sản phẩm hàng hoá đem lại cho họ lợi
ích tiêu dùng lớn nhất. Do vậy, công tác bán hàng rất quan trọng đối với
doanh nghiệp. Một mặt sản phẩm, hàng hoá bán ra phải thoả mãn nhu cầu
của người tiêu dùng, mặt khác nó phải đảm bảo sự duy trì cũng như sự phát
triển của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp thương mại, hoạt động mua vào là tiền đề của
hoạt động bán hàng, và ngược lại hoạt động bán hàng lại có tính chất quyết
định tới hoạt động thu mua hàng hoá. Nếu hàng mua về không bán được
Trang
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
dẫn đến vốn kinh doanh bị ứ đọng, ảnh hưởng đến tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Nếu công tác bán hàng được thực hiện tốt, hàng hoá luân
nguồn vốn kém hiệu quả, như vốn vay, vốn chiếm dụng, đảm bảo thu hồi
vốn nhanh, có điều kiện để thực hiện tái sản xuất mở rộng.
Trang
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
Ngoài ra, trong quan hệ với các doanh nghiệp khác, việc tiêu thụ
hàng nhanh chóng cũng thể hiện nỗ lực của bản thân doanh nghiệp trong
việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng về số lượng, chủng loại, mẫu mã và
thời gian đáp ứng. Mặt khác, đơn vị có khả năng thanh toán cao và nhanh
hơn với các đơn vị bán hàng, điều này góp phần tăng uy tín của doanh
nghiệp.
Từ những phân tích trên, ta thấy rằng thực hiện tốt công tác tiêu thụ
hàng hoá có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Do đó, cần phải
quản lý tốt công tác bán hàng. Tuy nhiên, để quản lý tốt công tác bán hàng
ta cần phải thoả mãn các yêu cầu sau:
Trang
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
- Nắm bắt theo dõi hàng hoá bán ra.
+ Về khối lượng hàng hoá tiêu thụ: Phải nắm chính xác số lượng
từng loại hàng hoá tồn kho đầu kỳ, hàng nhập trong kỳ, hàng xuất tiêu thụ
trong kỳ, từ đó xây dựng kế hoạch dự trữ cần thiết và thường xuyên đối
chiếu kiểm tra giữa kế toán hàng hoá, thủ kho và bộ phận thu mua - bán
hàng hoá, thường xuyên đối chiếu kiểm tra cho từng loại hàng, nhóm hàng.
+ Về giá vốn hàng xuất bán: Đây là bộ phận cấu thành giá trị của
thành phẩm, hàng hoá. Đối với doanh nghiệp thương mại, giá vốn hàng hoá
xuất bán bao gồm giá mua thực tế và chi phí thu mua của số hàng đó. Tuỳ
từng doanh nghiệp tính giá vật tư, hàng hoá theo phương thức khác nhau
thì gía vốn của hàng xuất bán cũng khác nhau. Doanh nghiệp có thể lựa
chọn sử dụng một trong các phương pháp: Nhập trước xuất trước; Nhập sau
phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Đây là phần thu nhập lớn nhất
đối với bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh thương mại nào. Nếu công tác bán
hàng được quản lý chặt chẽ, hợp lý tất yếu sẽ dẫn đến kết quả bán hàng sẽ
cao. Tuy nhiên ta cũng không thể tránh khỏi những sai sót có thể xảy ra.
Do vậy cần có một công cụ đắc lực, hợp lý để tổng hợp quá trình trên: Bán
hàng - xác định kết quả bán hàng - đó là hạch toán kế toán. Nó đảm bảo
cung cấp thông tin một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời, cho phép doanh
nghiệp đạt được ba mục tiêu chiến lược: Lợi nhuận - vị trí và an toàn.
Thoả mãn được các yêu cầu đó góp phần tăng hiệu quả sử dụng vốn
trong doanh nghiệp, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và góp phần làm tăng
nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
I.1.2. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán
hàng.
I.1.2.1.Vai trò của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng.
Đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp thương
mại nói riêng, tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán
hàng có vai trò quan trọng.
Trang
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
Thông qua các số liệu của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán
hàng cung cấp, ban lãnh đạo công ty có thể thấy được những thiếu sót giữa
khâu mua, khâu dự trữ và khâu bán, phát hiện những hàng hoá chậm luân
chuyển, hàng hoá luân chuyển nhanh, từ đó tìm ra biện pháp thúc đẩy quá
trình lưu thông hàng hoá, tăng nhanh vòng quay của vốn lưu động.
Từ số liệu trên báo cáo tài chính mà kế toán bán hàng và xác định kết
quả bán hàng cung cấp, nhà nước nắm được tình hình kinh doanh và tình
hình tài chính của doanh nghịp. Qua đó nhà nước kiểm tra việc chấp hành
các chế độ tài chính kế toán, đồng thời thực hiện được các chức năng quản
lý vĩ mô nền kinh tế.
cán bộ kế toán phải nắm vững nội dung của việc tổ chức công tác kế toán
bán hàng và xác định kết quả bán hàng.
I.2.LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÀN BÁN
HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG.
I.2.1.Các phương thức bán hàng.
Phương thức bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng các
tài khoản kế toán để phản ánh tình hình xuất kho thàn phẩm, hàng hoá.
đồng thời có tính chất quyết định đối với việc xác định thời điểm bán hàng,
hình thành doanh thu bán hàng và tiết kiệm chi phí bán hàng để tăng lợi
nhuận.
Hiện nay các doanh nghiệp thường vận dụng các phương thức bán
hàng sau đây:
I.2.1.1.Bán hàng theo phương thức giao hàng trực tiếp.
Theo phương thức này, bên khách hàng uỷ quyền cho cán bộ nghiệp
vụ đến nhận hàng tại kho của doanh ngiệp hoặc giao hàng tay ba tại địa
điểm của người bán. Người nhận sau khi ký vào chứng từ bán hàng của
doanh nghiệp bán thì hàng hoá được xác nhận là đã bán. Khi đó doanh
Trang
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
nghiệp nhận được tiền hoặc được quyền thu tiền. thời điểm xác nhận doanh
thu chính ngay tại thời điểm bán.
Phương thức bán hàng này còn bao gồm các phương thức bán hàng
cụ thể sau, như: Bán buôn, bán lẻ, bán hàng đổi hàng.
Đối với bán buôn có hai phương thức : Phương thức bán hàng qua
kho và phương thức bán hàng không qua kho.
*Phương thức bán hàng qua kho.
Theo phương thức này hàng hoá mua về được nhập kho , rồi từ kho
xuất bán ra. người mua có thể nhận hàng ngay tại kho của đơn vị bán hay
tại địa điểm do hai bên thỏa thuận, chi phí vận chuyển có thể do bên bán
-Hai bên thoả thuận thanh toán theo kế hoạch.
Trong phương thức này, bán hàng qua đại lý là chủ yếu, doanh thu
được xác định khi đại lý thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán tiền hàng.
I.2.2Doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng.
I.2.2.1.Doanh thu bán hàng, nguyên tắc xác định doanh thu bán hàng.
Sau khi giao hàng cho khách hàng, doanh nghiệp được khách hàng
trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán một khoản tiền tương ứng với giá trị
hàng hoá theo thoả thuận. Khoản tiền này được gọi là doanh thu bán hàng.
*Doanh thu bán hàng: Là tổng giá trị thực hiện cho hoạt động tiêu
thụ sản phẩm, hàng hoá,cung cấp lao vụ, dịch vụ cho khách hàng.
Doanh thu bán hàng thường được phân biệt cho từng loại hoạt động
bán hàng, như: Doanh thu bán hàng hoá, doanh thu bán sản phẩm, doanh
thu cung cấp dịch vụ. Cụ thể hơn, doanh thu bán hàng cũng có thể được
tính cho chi tiết từng loại hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ tiêu thụ. Ngoài ra,
ta cũng có thể phân biệt
doanh thu bán hàng theo phạm vi tiêu thụ, bao gồm: Doanh thu bán ra
ngoài và doanh thu bán hàng nội bộ.
Việc xác định doanh thu bán hàng tại các doanh nghiệp áp dụng tính
thuế Giá trị gia tăng theo các phương pháp khác nhau thì khác nhau:
Trang
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
+Đối với doanh nghiệp nộp thuế Giá trị gia tăng theo phương pháp
khấu trừ thì doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán hàng chưa có thuế
Giá trị gia tăng, gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
+Đối với doanh nghiệp nộp thuế Giá trị gia tăng theo phương pháp
trực tiếp thì doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền hàng gồm cả phụ thu và
phí thu thêm ngoài giá bán( nếu có).
* Nguyên tắc xác định doanh thu bán hàng.
Việc tổ chức công tác kế toán phải tuân theo những nguyên tắc nhất
dùng, điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao và góp phần đảm
bảo nguồn thu cho nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
*Thuế xuất khẩu:
Là sắc thuế thuộc loại thuế tiêu dùng đánh vào các loại hàng hoá xuất
khẩu nhằm kiểm soát hoạt động trong và ngoài nước, định hướng đúng
đắn trong việc sản xuất kinh doanh, và đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà
nước.
Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu được xác định căn cứ vào số
lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ, giá tính thuế và thuế suất của
từng mặt hàng do nhà nước quy định trong từng thời kỳ.
*Giảm giá hàng bán.
Giảm giá hàng bán là số tiền người bán giảm giá cho người mua trên
giá bán đã thoả thuận vì lý do hàng bán kém phẩm chất, không đúng quy
cách, thời hạn đã quy định trong hợp đồng hoặc do khách mua với số
lượng lớn. Giảm giá hàng bán có ba loại sau:
- Giảm giá.
- Bớt giá:Là khoản giảm trừ trên giá bán thông thường vì lý do mua
hàng với khối lượng lớn, khoản này được tính theo tỷ lệ trên giá bán,
người bán thực hiện bớt giá cho người mua ngay sau lần mua hàng.
- Hồi khấu: Là khoản giảm trừ tính trên tổng số các nghiệp vụ đã
thực hiện với một khách hàng trong một thời gian nhất định.
*Hàng bán bị trả lại.
Trang
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
Trị giá hàng bán bị trả lại là số tiền doanh nghiệp phải trả cho khách
hàng trong trường hợp hàng xác định là đã bán nhưng do hàng kém phẩm
chất, sai quy cách , chủng loại, mẫu mã... khách hàng trả lại số hàng đó.
I.2.3.Giá vốn hàng bán
Trị giá vốn hàng xuất bán là trị giá vốn thành phẩm, hàng hoá, dịch
trong kỳ
gia quyền Số lượng hàng
tồn đầu kỳ
+ Số lượng hàng
nhập trong kỳ
Từ đó ta xác định được giá vốn hàng xuất kho:
Giá thực tế Số lượng Đơn giá thực tế
hàng hoá = hàng hoá X bình quân
xuất kho xuất kho gia quyền
Phương pháp này có ưu điểm tính toán đơn giản, dễ làm nhưng đến
cuối kỳ mới tính được giá vốn của hàng xuất bán. Do vậy phương pháp
này thường được sử dụng ở những doanh nghiệp mà số chủng loại hàng
hoá không lớn, hạch toán đơn giản.
-Phương pháp bình quân liên hoàn
Về cơ bản, phương pháp này giống phương pháp trên, nhưng đơn giá
bình quân được xác định trên cơ sở giá thực tế của hàng tồn đầu kỳ và đơn
giá của hàng nhập trong kỳ. Cứ sau mỗi lần nhập kho hàng hoá thì lại tính
lại giá thực tê bình quân sau lần nhập đó.
Giá thực tế Số lượng Đơn giá thực tế
của hàng = hàng X bình quân
xuất kho xuất kho trước khi xuất
Theo phương pháp này, ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán cũng
có thể xác định được giá thực tế của hàng xuất kho. Song khối lượng công
việc tính toán lại nhiều, nên phương pháp này thường được áp dụng ở
doanh nghiệp có ít chủng loại hàng hoá, số lần nhập ít.
*Phươngpháp thực tế đích danh:
Trang
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
Theo phương pháp này hàng hoá nhập kho theo giá nào thì xuất kho
trước cung cấp giá trị phù hợp của hàng xuất kho trong nhiều trường hợp
linh động khác nhau nhưng lại gây khó khăn trong việc hạch toán chi tiết
hàng hoá tồn kho cũng như việc tổ chức kho. Do đó các phương pháp này
chỉ áp dụng trong các doanh nghiệp mà việc nhập, xuất kho theo lô lớn và
không thường xuyên.
*Phương pháp giá hạch toán.
Giá hạch toán là giá do doanh nghiệp đặt ra, có thể là giá kế hoạch
hoặc giá cuối kỳ trước và được sử dụng thống nhất tong một kỳ hạch toán.
Giá thực tế Giá hạch toán Hệ số
Của hàng hoá = hàng hoá X giá của
Xuất kho trong kỳ xuất kho hàng hoá
Trong đó:
Giá thực tế + Giá thực tế
Hệ số hàng tồn đầu kỳ hàng nhập trong kỳ
giá của =
hàng hoá Giá hạch toán + Giá hạch toán
Trang
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
hàng tồn đầu kỳ hàng nhập trong kỳ
Giá hạch toán thường được sử dụng để đánh giá thành phẩm, hàng
hoá trong các doanh nghiệp có quy mô lớn, khối lượng hàng hoá nhiều,
tình hình nhập , xuất diễn ra thường xuyên, việc xác định giá thực tế khó
khăn.
Mỗi phương pháp tính giá đều có nội dung, ưu, nhược điểm khác
nhau. Doanh nghiệp khi lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho
phải đảm bảo nguyên tắc nhất quán trong các liên độ kế toán để đảm bảo
tính so sánh được của các báo cáo tài chính.
I.2.4.Chi phí bán hàng.
Trong quá trình bán hàng, doanh nghiệp phải bỏ ra các khoản chi phí
doanh. Trường hợp doanh nghiệp có dự trữ hàng hoá, chi phí bán hàng phát
sinh trong kỳ có sự biến động lớn cần phân bổ một phần chi phí cho hàng
còn lại cuối kỳ.
Chi phí bán hàng Chi phí bán hàng
cần phân bổ + phát sinh trong kỳ
Chi phí bán hàng còn lại đầu kỳ Trị giá hàng
phân bổ cho hàng = x còn lại
còn lại cuối kỳ Trị giá hàng xuất + Trị giá hàng còn cuối kỳ
trong kỳ lại cuối kỳ
Từ đó xác định chi phí bán hàng cho hàng phân bổ đã bán trong kỳ:
Chi phí bán hàng CPBH CPBH CPBH phân bổ
phân bổ cho hàng = phân bổ cho hàng + hàng phát sinh - cho hàng còn
đã bán trong kỳ còn lại đầu kỳ trong kỳ lại cuối kỳ
I.2.5- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp là những chi phí cho việc quản lý kinh
doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác có liên quan đến hoạt
Trang
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
động của cả doanh nghiệp. Theo quy định hiện hành, chi phí quản lý doanh
nghiệp bao gồm các loại sau:
- Chi phí nhân viên quản lý: bao gồm chi phí về lương, phụ cấp, các
khoản trích theo lương của nhân viên quản lý, như: bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, kinh phí công đoàn...
- Chi phí vật liệu quản lý: giá trị nhiên, nguyên vật liệu xuất dùng
cho công tác quản lý.
- Chi phí đồ dùng văn phòng: giá trị công cụ đồ dùng văn phòng
dùng cho quản lý.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: chi phí khấu hao những tài sản cố
định dùng chung cho doanh nghiệp như: văn phòng, kho tàng, phương tiện
Thuế giá trị gia tăng là loại thuế tiêu thụ đánh vào các loại hàng hoá,
dịch vụ tiêu dùng. Nó được tính căn cứ vào giá tính thuế và thuế suất áp
dụng cho loại hàng đó. Thuế gia trị gia tăng đầu ra chính là phần thuế
người tiêu dùng phải chịu nhưng người bán nộp thay.Tuỳ từng loại hình
doanh nghiệp mà các doanh nghiệp có thể nộp thuế theo phương pháp khấu
trừ hay phương pháp trực tiếp. ở các doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng
theo phương pháp khấu trừ thì số thuế giá trị gia tăng phải nộp sẽ là số thuế
giá trị gia tăng đầu ra trừ đi số thuế giá trị gia tăng đầu vào. ở các doanh
nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp, thuế giá trị gia
tăng sẽ được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp , phần thuế, lệ phí, để
trừ vào kết quả hoạt động kinh doanh.
I.3- TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ
BÁN HÀNG.
I.3.1- Chứng từ kế toán sử dụng.
Trang
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Phạm Trung Hiếu
Chứng từ kế toán là một phương thức kiểm tra và giám đốc các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh của doanh nghiệp. Khi phát sinh các nghiệp vụ
bán hàng, kế toán phải lập, thu thập đầy các chứng từ phù hợp theo đúng
nội dung, quy định của nhà nước, nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý để ghi sổ kế
toán.
Các chứng từ kế toán chủ yếu dùng trong kế toán bán hàng:
- Hoá đơn bán hàng(thường là hoá đơn GTGT)
- Phiếu xuất kho(mẫu 02-VT)
- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho(mẫu 02-BH)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ(mẫu 03-VT)
- Phiếu thu
- Giấy báo có của ngân hàng....
Trường hợp doanh nghiệp là doanh nghiệp xuất nhập khẩu còn sử
- TK 157 “Hàng gửi đi bán”: Tài khoản phản ánh số hiện có và tình
hình biến động của trị giá vốn hàng hoá gửi đi bán.
-TK511 “Doanh thu bán hàng”: TK dùng để phản ánh doanh thu bán
hàng thực tế phát sinh tại doanh nghiệp.
TK 511 không có số dư cuối kỳ và có 4 tài khoản cấp hai:
+TK 5111: Doanh thu bán hàng hoá.
+TK 5112: Doanh thu bán thành phẩm.
+TK 5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ.
+TK 5114: Doanh thu trợ cấp, trợ giá.
-TK512 “Doanh thu bán hàng nội bộ”: Dùng để phản ánh tình hình
bán hàng trong nội bộ một doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập.
TK 512 không có số dư cuối kỳ và có ba TK cấp hai:
+TK 5121: Doanh thu bán hàng hoá.
+TK 5122: Doanh thu bán sản phẩm.
+ TK5123: Doanh thu cung cấp dịch vụ.
Trang
25