Chương 8
K
Ỹ THUẬT CHĂN NUÔI CÁC LOẠI THỎ
Cùng nhu dê, mỗi loại thỏ cần ñược chăm sóc, nuôi dưỡng và sử dụng theo những kỹ
thuật phù hợp với ñặc ñiểm sinh lý và sản xuất của chúng. Chương này sẽ lần lượt giới thiêu các
kỹ thuật chăn nuôi thỏ sinh sản (ñực và cái giống), thỏ con, thỏ hậu bị và thỏ thịt. Một số biện
pháp kỹ thuật cần thíêt trong việc chăm sóc thỏ cùng ñược giới thiệu ở cuối chương này.
I. CHĂN NUÔI THỎ CÁI SINH SẢN
1.1. Hoạt ñộng sinh dục và sinh sản của thỏ cái
a. ðặc ñiểm cơ quan sinh dục
Cơ quan sinh dục của thỏ cái gồm có các bộ phận chính như ở hình 8-1.
Hình 8-1: Cơ quan sinh dục thỏ cái
b. Chu kỳ ñộng dục
Chu kỳ ñộng dục của thỏ khoảng 13-16 ngày. Thời gian ñộng dục kéo dài 3-5 ngày. Thỏ
cái ñộng dục sớm hay muộn, ñúng kỳ hay không phụ thuộc nhiều vào trạng thái sức khoẻ, chế ñộ
dinh dưỡng và môi trường khí hậu quyết ñịnh. Béo quá, gầy yếu, mùa hè nóng kéo dài, mùa ñông
rét buốt trong kỳ thỏ thay lông, thức ăn thiếu khoáng, thiếu sinh tố ñều là nguyên nhân làm thỏ
không ñộng dục hoặc ít hưng phấn chịu ñực. Khi thấy thỏ lâu ngày không ñộng dục, không phối
giống ñược thì phải kiểm tra xác ñịnh yếu tố nào gây ảnh hưởng ñể có biện pháp khắc phục kịp
thời. Có thể kích thích thỏ cái ñộng dục bằng cách nhốt thỏ cái gần thỏ ñực hoặc có thể dùng kích
dục tố như huyết thanh ngựa chửa tiêm bắp với liều 15 ñơn vị chuột cho 1 kg thể trọng, sau khi
tiêm 1-4 ngày là phối.
Biểu hiện của thỏ ñộng dục: Thỏ ñộng dục thường bỏ ăn hoặc ăn ít, phá chuồng ñòi ra tìm
con ñực, không ra ñược thì gặm chuồng, húc máng ăn, húc nóc chuồng ñể thoát ñược ra ngoài,
nhất là vào ban ñêm. Thỏ không ñộng dục, tư thế nằm bình thường, hai chân trước duỗi thắng
thoải mái về phía trước, hai bàn chân và các ngón chân nằm song song với mặt sàn chuồng, chân
sau và ñuôi tư thế thoải mái, toàn thân dài song song với mặt sàn chuồng. Khi thỏ ñộng dục toàn
thân nằm ở tư thế phục phị, hai chân trước không duỗi thẳng, chỉ nhô ra trước ngực một ít, hai
chân sau thu vào bụng, mông vồng lên, ñuôi nâng lên, sờ hai tai thấy rất nóng (thỏ không ñộng
dục tai chỉ hơi ấm). Bình thường niêm mạc âm hộ của thỏ có màu hồng nhạt, nếu ñộng dục
Thời gian giao phối chỉ kéo dài khoảng 15-20
giây. Khi giao phối kết thúc, con ñực co mình ngã lăn
cạnh con cái hoặc ngã ngã ngồi xuống sàn chuồng phía
sau ñuôi thỏ cái và phát ra một tiếng kêu nho nhỏ, ñólà
âm thanh báo hiệu việc giao phối ñã kết thúc thoải mái
của con ñực. Ngược lại, nếu con cái không chịu ñực thì
cứ chạy trốn rồi nằm áp mông, cụp ñuôi xuống ñáy
lồng chuồng.
Có một số con cái ñộng dục nhưng do sợ hãi cũng không cho con ñực phối, trường hợp ñó
cần kéo con cái ra giữa lồng và luồn tay xuống dưới bụng nhẹ nhàng nâng mông thỏ cái lên cho
con ñực nhảy.
Trường hợp phối giống mà thỏ cái không chửa thì phải chờ ñến kỳ ñộng dục sau. ðối với
thỏ cái tơ nếu lỡ 3-4 kỳ ñộng dục, thỏ dễ trở thành “nân xổi” nên chuyển sang nuôi thịt.
ở cơ sở giống thương phẩm, nên phối hai lần liền với hai con ñực khác nhau, con ñực
trước già hơn con ñực sau, ñể tinh trùng thỏ trẻ tăng cường hoạt lực cho tinh trùng thỏ già phối
trước. Còn ở cơ sơ nhân giống thuần chủng thì chỉ ñược phối lặp lại, lần sau phải cách lần trước
4-6 giờ ñể tăng tỷ lệ thụ thai và thêm số con sơ sinh.
Nếu ñàn thỏ giống tốt, khoẻ mạnh, nuôi dưỡng hợp lý, ñàn thỏ con không ñể làm giống
thì có thể cho ñẻ liên tục, tức là sau khi ñẻ 36-48 giờ cho phối giống ngay. Cho phối thời kỳ này
tỷ lệ thụ thai rất cao. Thỏ cái sau khi phối giống thụ thai thì sinh lý ổn ñịnh, chịu ăn, nhiều sữa,
chịu khó nuôi con, không sút cân. Trường hợp thỏ con ñể làm giống thì thỏ mẹ sẽ ñược phối
giống sau khi cai sữa (khi thỏ con ñược 30-35 ngày tuổi), tách con khỏi mẹ ñược 2 ngày cho phối
ngay, nếu ñể chậm 5-7 ngày thỏ sẽ không cho phối nữa.
1.3. Thỏ cái mang thai
a. ðặc ñiểm của thỏ mang thai
Thời gian mang thai của thỏ trung bình là 30 ngày, phụ thuộc vào số con/lứa. Nếu số
con/lứa ít thời gian mang thai kéo dài hơn và ngược lại số con/lứa nhiều thời gian mang thai
thường rút ngắn lại (bảng 8-1). Thỏ cái sau khi phối giống thụ tinh, ñến ngày thứ 8 hợp tử mới
bám chặt vào niêm mạc tử cung, từ ngày thứ 9 phát triển thành bào thai. Mười ngày cuối cùng
thai phát triển nhanh, khối lượng tăng gấp 3 lần của cả 20 ngày ñầu.
Căn cứ vào ngày phối giống ñể tính ngày ñẻ và có kế hoạch chăm sóc, nuôi dưỡng cụ thể.
Việc nuôi dưỡng thỏ cái mang thai phải phù hợp với sự phát triển của thai và ñảm bảo sức khoẻ
của thỏ mẹ. Sau khi thỏ phối giống, cần cho thỏ nghỉ ngơi, yên tĩnh, không làm ồn ào. Bữa ăn ñầu
tiên và bữa kế tiếp sau khi phối giống cần giảm thức ăn thô xanh ñể bộ máy tiêu hoá ñược nhẹ
nhàng, thần kinh không căng thẳng, tạo ñiều kiện thuận lợi cho thụ thai.
Trong 9 ngày ñầu mới phối giống khẩu phần phải ñảm bảo ñầy ñủ cả về số lượng và chất
lượng. Thỏ ñói ăn trong những ngày này, ñặc biệt thiếu các chất dinh dưỡng thì thai có thể không
hình thành mà teo ñi. Nên cho thỏ cái ăn các loại lá cây họ ñậu (lá sắn dây, lá keo dậu, lá lạc, cỏ
stylo, cỏ medicago ), bổ sung thêm 40-60g thức ăn tinh như bột ñậu tương, cơm cháy khô,
khoai sắn khô, thóc hạt. Từ ngày thứ 26-30 khối lượng bào thai tăng rất nhanh, cần cho thỏ ăn
tăng lượng thức ăn, ñặc biệt tỷ lệ ñạm tăng lên 1/5 so với lúc không chửa ñể ñảm bảo khối lượng
bào thai và phát triển tốt, không bị ñẻ non do thiếu dinh dưỡng.
Thỏ rất nhạy cảm, dễ phản ứng với những thay ñổi ñột ngột về ăn uống, chăm sóc, lồng
chuồng Vì vậy, nên cho thỏ ăn theo giờ nhất ñịnh, tạo thói quen phản xạ tiết dịch tiêu hoá.
Không nên thay ñổi lồng chuồng và người chăm sóc trong thời gian thỏ mang thai.
Khẩu phần ăn trong ngày có thể chia ra cho ăn theo giờ như sau:
Hình 8-4 : Thao tác khám thai thỏ
+ Bữa ăn sáng: bắt ñầu từ 9-10 giờ sáng (thỏ có ñặc tính ngủ ngày, ăn ñêm), lúc này thỏ
ăn ít vì ngái ngủ, nên chỉ cho ăn khoảng 40-60g thức ăn hạt (ngô, thóc, cơm nguội khoảng 1 thìa
canh ñầy) sau ñócho ăn tiếp 150-200g rau cỏ, lá cây (khoảng 1 nắm chặt).
+ Bữa ăn chiều: bắt ñầu từ 13-15 giờ chiều, thời ñiểm này nên cho ăn các loại thức ăn củ
quả (khoai lang, cà rốt, dưa chuột ), các loại rau (rau muống, rau lang, cải bắp ), các loại cây
cỏ (cỏ voi, cây ngô, cây mía ). Bữa ăn chiều cho nhiều gấp 2 lần bữa ăn sáng.
+ Bữa ăn tối: ñây là bữa ăn chính của thỏ vì thỏ ăn suốt ñêm. Bữa tối bắt ñầu từ lúc 20-21
giờ. Khối lượng thức ăn thô xanh (rau, cỏ, lá cây ) từ 1,5-2,0kg. Với khẩu phần ăn ñêm như vậy
thỏ không bị ñói. Nếu thỏ bị ñói ăn nhiều ngày liên tục sẽ gầy, thai phát triển chậm.
1.4. Thỏ ñẻ
a. Hiện tượng thỏ ñẻ
Thỏ cái chửa gần ñến ngày ñẻ có hiện tượng tha rác làm ổ. Trước khi ñẻ gần 1 ngày, thỏ
vào ổ nhổ lông bụng ñể trộn với ñồ lót tạo thành tổ ấm mềm ñể ñẻ con vào ñó. Thỏ cái sẽ vào ổ
nhọ nồi, lá vông, cỏ sữa và một ít thức ăn tinh như cơm nguội, sắn khô, thóc lép Hai ngày sau
khi ñẻ giảm 10% khẩu phần ăn hàng ngày. Khi làm vệ sinh ổ ñẻ không ñể thỏ mẹ trông thấy, nhất
là việc xáo trộn ổ ñẻ, thay ñồ lót ổ, nếu thỏ mẹ thấy nó sẽ bỏ con không cho bú, ñàn con sẽ bị
chết. Nếu làm vệ sinh ổ ñẻ không sạch, còn sót ñồ lót ổ bẩn ẩm ướt hoặc thỏ con chết không nhặt
ra hết, kiến, ruồi nhặng bâu vào, ñàn con dễ bị bệnh và chết.
Sau khi ñẻ thỏ mẹ ñẻ sẽ tiết sữa, phải cho uống nhiều nước, thường xuyên có nước sạch,
mát trong lồng ñể thoả mãn nhu cầu nước, tránh ñược hiện tượng mẹ ăn con và thiếu sữa. Thời
gian này nên cho con mẹ uống thêm nước ñường hoặc ăn mía ñể phục hồi sức khoẻ nhanh, tiết
nhiều sữa, ñàn con phát triển tốt.
Nuôi dưỡng thỏ cái nuôi con cần ñảm bảo ñầy ñủ khẩu phần ăn ñể thỏ mẹ tiết sữa nuôi
con vì trong thời gian 18 ngày ñầu thỏ con sống phụ thuộc hoàn toàn vào lượng sữa mẹ tiết ra.
Khẩu phần ăn hàng ngày yêu cầu cần ñảm bảo 600-800 gam cỏ lá các loại, 200-300 gam củ quả
và 200-300gam thức ăn tinh hỗn hợp ñảm bảo 16% protêin.
Yếu tố quan trọng nhất trong chăm sóc thỏ giống là phải ñảm bảo môi trường không khí,
lồng chuồng, thức ăn, nước uống sạch sẽ và yên tĩnh vì các mầm bệnh truyền nhiễm thường xâm
nhập vào cơ thể qua ñường sinh dục (khi giao phối, khi ñẻ) qua tuyến sữa (khi con bú mẹ) hoặc
khi ñẻ (mẹ ăn nhau thai). Từ cơ thể mẹ rất dễ dàng lây truyền bệnh sang ñàn con.
1.6. Một số hiện tượng bất thường trong sinh sản của thỏ
a. Chửa giả
Khi thỏ cái ñộng dục, nếu có những tác nhân kích thích làm thần kinh hưng phấn như: thỏ
cái nhảy lẫn nhau, thỏ ñực non nhảy mà không xuất tinh, ñều gây kích thích làm trứng chín rụng
và hình thành phản xạ tiết hooc-môn ở cơ quan sinh dục cái, cản trở kỳ ñộng dục tiếp theo. Như
vậy thỏ cái cũng không ñộng hớn, không chịu ñực, cũng nhổ lông, cào ổ, làm tổ ñẻ như thỏ chửa
thật. ðể ñề phòng hiện tượng chửa giả, cần nhốt riêng từng con thỏ hậu bị lúc 3-4 tháng tuổi trở
lên, thỏ ñực giống phải thành thục về tính dục, có khả năng thụ tinh thì mới cho phối giống.
b. Vô sinh
Vô sinh ở thỏ thường biểu hiện ở hai dạng: lâu ngày không ñộng dục và phối ñược nhưng
không chửa liên tục. ðối với dạng thứ hai, ngoài nguyên nhân do con ñực kém, còn có một số
nguyên nhân khác do con cái như:
- Do cơ quan sinh dục như buồng trứng, tử cung bị mắc bệnh.
ðối với thỏ ñực giống, ngoài yếu tố giống, thì yếu tố nuôi dưỡng, cho ăn và chăm sóc
có ảnh hưởng trực tiếp ñến kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai và số thỏ con ñẻ ra trong một lứa.
Nuôi dưỡng thỏ ñực giống không ñược ñể thỏ quá gầy hoặc quá béo vì cả hai trường hợp
này ñều dẫn ñến quá trình sản sinh tinh trùng không tốt. Lượng tinh dịch một lần phóng tinh của
thỏ trung bình ñạt 0,5-2ml, nồng ñộ tinh trùng dao ñộng từ 0,5-2,7 triệu/ml, hoạt lực ñạt trung
bình 78,2%. Số lượng tinh trùng dưới một triệu thì tỷ lệ thụ thai rất thấp, nếu nồng ñộ tinh trùng
chỉ ñạt 5000/ml thì không thể thụ tinh.
Thức ăn cho thỏ ñực giống phải ñầy ñủ các chất dinh dưỡng cần thiết như protein, các
vitamin A, D, E Không nên cho thỏ ñực ăn quá nhiều các loại thức ăn giàu tinh bột vì dễ dẫn
ñến thỏ ñực quá béo, hiệu quả phối giống kém. Trong những ngày phối giống trong khẩu phần ăn
cần tăng thêm thức ăn giàu protein, vitamin E như giá ñỗ, ngô hạt ủ mầm nhằm làm tăng hoạt
ñộng của ñực giống và tăng sức sống của tinh trùng.
Mỗi ngày nên cho thỏ ñực giống ăn 500-600 gam cỏ lá các loại, 200-300 gam củ quả và
100-150 gam thức ăn tinh hỗn hợp có 15% protein.
2.2. Chăm sóc thỏ ñực giống
ðối với thỏ ñực lồng chuồng rất quan trọng vì lồng chuồng không những là nơi nhốt thỏ
ñực mà còn là nơi phối giống cho thỏ cái. Vì vậy, nếu làm sai kiểu dáng, kích thước thì kết quả
phối giống sẽ kém. Lồng chuồng nuôi thỏ ñực nên cách xa chuồng nuôi thỏ cái ñể tránh những
kích thích phản xạ có hại cho con ñực. Bốn chân chuồng và khung chuồng phải chắc, khoẻ, ñáy
lồng chuồng phải bằng phẳng ñể khi thỏ ñực phối giống không bị rung, không ảnh hưởng ñến kết
quả giao phối. Kiểu lồng chuồng có thể là hình vuông hoặc hình tròn. Nếu làm hình vuông thì
mỗi cạnh dài 60cm, chiều cao từ ñáy ñến nóc chuồng 50cm, chân chuồng cao 50cm. Nếu chuồng
hình tròn thì ñường kính ñáy lồngvà nắp trên ñều là 60cm, chiều cao từ ñáy ñến nắp trên 50cm,
chân chuồng cũng cao 50cm. Mỗi thỏ ñực ñược nuôi ở một lồng riêng có nắp ñậy ở phía trên ñể
thỏ ñực không ñẩy phá nhảy ra ngoài.
Cần thường xuyên theo dõi ñể phát hiện sớm những ñực giống có ñực tính kém, khi phối
giống không hăng, không khoẻ, kết quả thụ thai thấp ñể tìm nguyên nhân và có biện pháp khắc
phục hoặc loại thải kịp thời, tránh ảnh hưởng ñến kết quả sinh sản của ñàn thỏ cái.
2.3. Sử dụng thỏ ñực giống
Thỏ ñực hậu bị từ 3 tháng tuổi phải nuôi cách ly thỏ cái và thỏ ñực trưởng thành, phải che
Khi thỏ con ra khỏi cơ thể mẹ, các chất nhớt trên cơ thể ñược thỏ mẹ liếm sạch. Thỏ con
sơ sinh sau 15 giờ mới bắt ñầu bú mẹ. Thỏ con bú ngửa, hai chân trước giữ vú mẹ, hai chân sau
bám sang sườn bên giữ mẹ, ngửa mặt và bụng cho mẹ liếm. Thỏ con bú no rời vú mẹ là lăn ra
ngủ rất say cả ngày.Trong giai ñoạn sơ sinh, thỏ cần phải ñược phủ kín bằng lớp lông của mẹ,
không ñể hở, không ñể gió lùa vào lồng chuồng. Mùa ñông nên phủ dày lông hơn ñể giữ ấm cho
thỏ. Nếu lông thỏ ít không phủ kín con thì bớt ở ổ khác nhiều lông sang. Mùa hè cần chống nóng
cho cả thỏ mẹ và thỏ con. Nếu ñược bú no và ñủ ấm, thỏ con nằm yên tĩnh trong ổ ấm, chỉ thấy
lớp lông phủ trên ñàn con ñộng ñậy ñều. Nếu thỏ con ñói sữa thì da nhăn nheo, bụng lép và ñàn
con ñộng ñậy liên tục.
3.2. Nuôi thỏ con bú sữa
Trong giai ñoạn này thỏ con chủ yếu sống bằng sữa mẹ, vì vậy năng suất sữa của thỏ mẹ
là nhân tố quyết ñịnh tốc ñộ sinh trưởng của thỏ con.
Thỏ mẹ có 8-10 vú, nhưng có khi ñẻ trên 10 con, chỉ nên ñể nuôi 7-8 con là tốt nhất. Có
thể san bớt một số con của ñàn ñông con sang ñàn ít con cùng lứa tuổi ñể nuôi “mồ côi”. Nếu ñẻ
quá ít thì nhận thêm về cho mẹ nuôi, công viêc này chỉ thực hiện ñược trong 1-2 ngày sau khi ñẻ.
Khi san con nên kèm theo ít ñồ lót của ổ ñẻ mới lót tay ñón thỏ con ñến, thỏ mẹ mới không nhận
ra mùi lạ sẽ không cắn con Khi nhập ñàn phải trộn lẫn ñàn với nhau và sau một tiếng mới ñưa
ñến cho bú thì mẹ không phát hiện ñược con mồ côi.
Thỏ mẹ chỉ cần cho con bú một lần trong ngày ñêm là ñủ no. Nhiều khi mẹ vào ổ bới ñàn
con, nằm trong ổ ỉa ñái, ăn cả ñồ lót ổ, hoặc có khi sợ hãi nhảy vào ổ ñẻ dẫm ñạp cả ñàn con làm
chúng không yên tĩnh. Do ñó sau khi ñẻ 1 ngày nên ñưa ổ ñẻ có nắp ñậy kín ra khỏi chuồng thỏ
mẹ. Hàng ngày sau khi vệ sinh chuồng, làm vệ sinh thùng ñẻ, bỏ hết ñồ lót ướt bẩn hoặc có thỏ
con chết ra ngoài, thay thêm ñồ lót mới, sau ñó ñưa ổ ñẻ vào chuồng thỏ mẹ, mở nắp ra ñể mẹ
nhảy vào cho con bú. Hộp phải ñể ñúng vị trí cũ từ ñầu ñã lựa chọn. Như vậy ñàn con rất chóng
no, thỏ mẹ thoải mái trong lồng, cả mẹ và con ñều yên tĩnh, không gây ảnh hưởng lẫn nhau, ổ ñẻ
không bẩn do phân, nước tiểu của con mẹ, ñàn con ít bị nhiễm bệnh.
Hàng ngày phải kiểm tra ổ ñẻ và sức khoẻ ñàn con, bỏ ra khỏi ổ phần lót bị bẩn, ướt và
những con bị chết. Mùa ñông cần bổ sung ñồ lót, ñảm bảo ñàn con luôn có tổ ấm. Khi ñược 18-
21 ngày tuổi thì bỏ ổ ñẻ, ñể ñàn con ở trong lồng với mẹ, lúc này con ñã cứng cáp, ñã biết tập ăn
thức ăn của mẹ và lượng sữa của mẹ bắt ñầu giảm dần. Lúc 23-25 ngày tuổi, thỏ con có thể ñáp
năng dưỡng thai, cho nên mẹ ñang nuôi con, cũng có thể phối giống ñược và chửa ñẻ bình
thường. Nếu ñẻ bán liên tục (phối sau khi ñẻ 10 ngày) thì nên cạn sữa sau 5 tuần. Nếu ñẻ thưa
(phối giống sau cai sữa) thì nên ñể sau 6 tuần mới cạn sữa.
Muốn cai sữa cho thỏ con, cần phải tập cho ăn sớm thức ăn thô xanh từ lúc thỏ con biết
nhảy ra khỏi ổ ñẻ. Nếu không tập cho thỏ con ăn các loại rau cỏ lá cây từ lúc còn bú mẹ thì khi
cai sữa thỏ con chưa quen ăn sẽ ăn ít hoặc bỏ ăn. ðây là nguyên nhân thỏ con sau cai sữa tuần
ñầu còi cọc, tăng trọng chậm, chết nhiều hoặc chết hết.
Khi cai sữa áp dụng biện pháp cai sữa từ từ bằng cách giảm dần lượng sữa mẹ và tăng
dần lượng thức ăn. Lúc này, thỏ mẹ chuyển sang lồng khác còn thỏ con vẫn ở lại lồng cũ ñể
không gây ảnh hưởng ñến ñàn con. Sau 10-20 ngày cai sữa mới xuất bán hay chuyển sang nuôi ở
lồng khác. Thời gian này thỏ cứng cáp thêm, thích nghi với thức ăn mới hoàn toàn khác với sữa.
Thỏ con rất nhạy cảm bởi những thay ñổi ñột ngột của thức ăn, của môi trường sống, nếu không
thích nghi nhanh chóng sẽ bị chết hàng loạt, do rối loạn tiêu hoá, do bệnh tật phát sinh, do suy
dinh dưỡng sau cai sữa. Vì vậy, cai sữa cho thỏ phải quan tâm ñến thức ăn, nước uống, môi
trường nuôi dưỡng Thức ăn phải ñầy ñủ các chất dinh dưỡng, dễ tiêu, sạch và không mang
mầm bệnh trứng giun sán, sao cho thỏ ăn ñược nhiều và không bị rối loạn tiêu hoá. Trong chuồng
thỏ luôn luôn có nước sạch, hàng ngày phải thay nước nhiều lần ñể nước không bị nhiễm bẩn.
3.4. Nuôi thỏ con sau cai sữa
Tuần ñầu sau cai sữa là giai ñoạn thay ñổi ñiều kiện sống của thỏ. Trước ñây một phần
nhu cầu dinh dưỡng ñươc sữa mẹ cung cấp thì nay chuyển sang hoàn toàn bằng thức ăn ngoài. Do
ñó thỏ sinh trưởng chậm, ñồng thời chúng lại thay lông lần ñầu (5-8 tuần tuổi). Vì vậy, ñây là
giai ñoạn thỏ yếu và dễ mắc bệnh nên cần chú ý các khâu chăm sóc nuôi dưỡng.
Nên sử dụng các loại lá cây có thân cao cách xa mặt ñất ñể hạn chế trứng giun như lá
chuối, cúc tần, sắn dây, ñỗ ván, keo dậu, bã chè tươi (bã chè mạn sau khi phơi khô sử dụng rất
tốt) Các loại rau muống, rau lấp, cỏ mọc gần mặt nước, có nhiều trứng giun thì không nên cho
ăn nhiều, khi cho ăn cần phải rửa sạch, ñể cho ráo nước mới cho ăn. Các loại rau củ, quả chứa
nhiều nước thỏ con ăn nhiều dễ bị rối loạn tiêu hoá. Hàng ngày cho ăn thêm các loại hạt ñỗ, lạc.
ngô, cơm cháy phơi khô, khoảng 5-10g/con. Thức ăn hạt cho ăn lúc 9-10 giờ. Thức ăn thô xanh
nhiều nước cho ăn 1/3 lúc 14 giờ, còn 2/3 cho ăn lúc 20-21 giờ. Cần duy trì cho thỏ ăn ñúng giờ.
Lưới ñựng rau cỏ lá ñể phía ngoài cách mặt sàn ñáy 10-15cm ñể cho thỏ rút thức ăn qua
nhau và giao phối tự do. Lồng thỏ ñực phải ñể cách xa lồng thỏ cái, không ñể gần, dù là ngăn
riêng sẽ có hại cho sinh trưởng vì luôn luôn bị kích thích, nhất là từ tháng thứ 3 sau cai sữa. Thỏ
90-100 ngày tuổi ñã có thể phối giống. Tuy nhiên phải nuôi ñủ ñến 6 tháng tuổi mới cho phối
giống ñưa vào sản xuất.
IV. CHĂN NUÔI THỎ THỊT
4.1. ðặc ñiểm sinh trưởng của thỏ
ðể có căn cứ khoa học cho việc ñưa ra ñược qui trình nuôi thỏ thịt hợp lý hiệu quả nhất cần
nắm vững ñược qui luật sinh trưởng phát triển của thỏ. Trên cơ sở ñó lựa chọn thời ñiểm giết thịt
phù hợp nhất. Cũng như các gia súc khác sinh trưởng của thỏ cũng tuân theo qui luật giai ñoạn,
cũng phụ thuộc vào phẩm giống, thức ăn, mùa vụ, qui trình chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý.
Bảng 8.1 - Thay ñổi khối luợng của một số giống thỏ qua các tháng tuổi (kg/con)
Thế hệ Tháng tuổi
1 2 3 4 5 6 9 12 18 24 Tối ña
1 (Bố mẹ)
California 0,6 2,0 2,7 3,2 4,0 4,3 4,5 4,8 4,9 5,0 5,4
NZL-G* 0,7 1,9 2,7 3,4 4,0 4,2 4,5 4,9 5,0 5,1 5,6
NZL*-Pannon 0,8 2,2 3,0 3,5 4,1 4,5 5,1 5,3 5,4 5,6 6,2
2 (Con cháu)
Califocnia 0,6 2,0 2,7 3,1 3,8 4,2 4,4 4,9 5,0 5,1 5,5
NZL-G* 0,7 2,0 2,8 3,3 4,0 4,2 4,6 4,8 5,1 5,2 5,6
NZL-Pannon 0,8 2,2 3.0 3,5 4,2 4,5 5,0 5,2 5,3 5,5 6,4
Thỏ nội ðen 0,4 1,1 1,5 1,9 2,2 2,5 2,8 3,3 3,5 3,5 3,6
Ghi chú :* Newzealand dòng G viết tắt là NZL-G hay dòng Panon NZL- Panun
2
3
4
5
6
1 2 3 4 5 6 9 12 18 24
C alif o rnia NZ L- G N ZL- Pannon Tho no i Den
4.2. Kỹ thuật nuôi thỏ thịt
a. Nuôi thỏ sinh trưởng
Khác với chăn nuôi các gia súc khác, trong chăn nuôi thỏ sau khi chọn thỏ hậu bị giống lúc
35-40 ngày tuổi số thỏ con còn lại người ta nuôi ñể giết thịt, vì vậy chăn nuôi thỏ thịt bắt ñầu
ngay từ thời gian này. Thông thường thỏ con sẽ theo mẹ trong vòng 30-40 ngày tuổi. Tuỳ vào
trạng thái sức khoẻ của ñàn thỏ mà thời gian theo mẹ có thể sẽ khác nhau.
Sau khi cai sữa ñàn thỏ con sẽ phải ñược chăm sóc tốt vì lúc này sức ñề kháng của thỏ còn
rất kém, hơn nữa chúng bị thay ñổi ñiều kiện sống vì ít nhiều khi theo mẹ vẫn ñược hưởng một
lượng sữa nhất ñịnh (khoảng 20-30% nhu cầu dinh dưỡng) và ăn thêm thức ăn như rau, cỏ và
thức ăn tinh. Vì vậy, sau khi tách sữa mẹ thỏ con ở giai ñoạn này rất dễ bị nhiễm bệnh ñặc biệt là
bệnh cầu trùng, nếu như chuồng trại, thức ăn, nước uống mất vệ sinh và dinh dưỡng kém thì ñàn
thỏ sẽ bị nhiễm bệnh tương ñối cao, tỷ lệ nuôi sống ñến giết thịt sẽ rất thấp .
Do ñó ñối với thỏ con ở giai ñoạn này chú ý cho ăn tăng dần lượng thức ăn và thức ăn phải
ñược chế biến sạch sẽ, loại bỏ những lá già úa, rửa sạch nếu bị nhiễm bẩn ñất cát và phơi cho ráo
nước mới cho thỏ ăn. Ưu tiên bổ sung những loại rau cỏ lá mềm có hàm lượng dinh dưỡng cao
như lá sắn dây, keo dậu, chè khổng lồ, rau muống, rau lang vì ở giai ñoạn này thỏ ăn ñược rất ít.
Mật ñộ nuôi cũng có ảnh hưởng lớn ñến tốc ñộ tăng trọng và tỷ lệ nuôi sống. Cần lưu ý mật
ñộ nuôi nhốt phải phù hợp, không quá chật chội vì chúng sẽ cạnh tranh về thức ăn nước uống,
lượng nhiệt thải ra qua lớn dẫn ñến ảnh hưởng tới tốc ñộ sinh trưởng phát triển của ñàn thỏ. Ở lứa
tuổi sau cai sữa nên nhốt 5-6 con/ngăn lồng chuồng rộng 0,5m
2
là thích hợp. Tránh tình trạng
nhốt chung thỏ chênh lệch nhau qúa lớn về ñộ tuổi và khối lượng vì như vậy chúng sẽ cạnh tranh
2) Nhúng thỏ vào nước ắm 48-50
o
C
3) Nhúng thỏ vào các chậu nước sạch ñể vặt sạch lông
4) Rửa sạch thỏ rồi treo lên móc, thui vàng thỏ bằng ñèn khò
Khi chọc tiết thỏ ñâm dao chếch từ trên vào lồng ngực trái, sau ñó hơi nghiêng dao cho
tiết chảy ra, khoảng một phút sau là thỏ chết. Cũng cã thể dùng gậy hoặc tay phải ñập vào gáy
cho thỏ chết, sau ño cắt tiết thỏ ở cổ họng cho tiết chảy ra. Thông thường nên dùng theo phương
pháp ñâm tiết, nhất là khi giết mổ ñồng loạt, thỏ chết nhanh, tiết ra hết nên thịt trắng và không bị
tụ máu ở vết ñâm tiết.
Hình 8-3: Cách lột da thỏ
Sau khi cắt tiết xong tiến hành lột da thỏ. Thỏ vẫn treo ở vị trí cũ, dùng dao hoặc kéo sắc
cắt khoanh da ở hai cổ chân sau, cắt cả phần xương ñui rồi kéo bộ lông xuống phía ñầu thỏ bằng
hai tay như kiểu lột bi tất, khi tới cổ chân trước dùng dao cắt bứt hai chân trước rồi khoang tai,
hai mắt và mồm rồi kéo bộ lông ra ngoài (hình 8-3).
Thỏ sau khi lột da dùng dao cắt chỗ nối xương chậu, dùng tay bẻ hai ñùi sau ra ñể bóc
bàng quang và trực tràng, sau ñó lấy dao rạch dọc bóc cổ họng khoét bỏ hai mắt, mổ bụng thỏ rồi
kéo trực tràng cùng toàn bộ phủ tạng thỏ ra ngoài, sau cùng cắt bỏ hai khuỷu chân sau là xong.
Thịt thỏ sau khi làm như trên không rửa mà dùng vải màn lau sạch máu hay vết bẩn ñể
ñưa vào chế biến các món ăn hoặc ñưa vào nhà lạnh bảo quản dự trữ, còn da thỏ mang sơ chế bảo
quản và thuộc.
V. MỘT SỐ KỸ THUẬT ðẶC BIỆT TRONG CHĂM SãC THỎ
5.1. Bắt giữ thỏ
Thỏ không phải là loài vật leo trèo tự nhiên nên sẽ cảm thấy bất an khi bị nhấc lên khỏi
mặt ñất. Tuy nhiên nếu có kỹ thuật bắt giữ thỏ phù hợp thì chúng có thể quen dần và chịu ñựng
ñược. Khi bắt thỉ không ñược cầm tai nhấc lên vì dễ làm cho các mạch máu, dây chằng, thần kinh
quanh, khi ăn thỏ ñến ngửi thức ăn và ăn ngay. Da thỏ khoẻ thì nhẵn nhụi, lông bóng mượt và
không có vảy rộp hoặc không rụng lông thành từng bãi. Mũi và mắt khô, không có dịch nhờn, mũ
chảy ra, phân ở dạng viên cứng, nếu thấy viên phân mềm, nhẵn, nhỏ kết dính với nhau như chùm
nho thường thải vào sáng sớm thì ñó là "phân vitamin". Bình thường niêm mạc hậu môn, cơ quan
sinh dục khô, không có vảy, loét, không dính bết dịch thể khác. Thỏ khoẻ thì thở ñều, nhẹ nhàng,
không có tiếng ñộng, kêu. Khi nắn vuốt da xung quanh thân mình thì không thấy khối u, khi nắn
da nhấc thỏ lên thì thấy liên kết dưới da chặt chẽ, khi buông tay ra thì da thỏ trở lại bình thường.
Sau ñây là một số thao tác thường dùng trong việc kiểm tra và chăm sóc sức khoẻ cho
thỏ:
a. ðo thân nhiệt
Nếu có hai người thì một người giữ thỏ ở tư thế nằm sấp trên bàn, hai tay nắm da vùng
gáy và mông, người kia ño nhiệt ñộ bằng cách dùng một tay cầm ñuôi, một tay cầm nhiệt kế loại
nhỏ thấm ướt ñầu thuỷ ngân rồi ñưa vào lỗ hậu môn, xoay nhẹ ñưa vào trực tràng sâu 2 cm và sau
một phút là ñọc ñược. Nếu chỉ có một người thì ñặt thỏ trên bàn, quay ñầu thỏ khẹp vào nách
mình, bàn tay ñó nắm lấy da mông và ñuôi, tay kia cầm nhiệt kế ño như trên.
b. ðếm nhịp thở
ðể thỏ yên tĩnh, tư thế tự nhiên ở trong lồng chuồng, quan sát và ñếm nhịp dao ñộng
thành bụng trong 10 giây rồi nhân với 6.
c. ðếm nhịp ñập tim mạch
Nhịp tim thỏ hơi khó xác ñịnh và ít có ý nghĩa trong việc chuẩn ñoán bệnh lý vì khi sợ hãi
tim thỏ ñập nhanh hơn nhiều. Có thể xác ñịnh ñược nhịp tim mạch bằng cách ñể thỏ nằm yên tĩnh,
dùng ống nghe ñặt tại ñiểm 1/3 từ dưới lên của xương sườn thứ 2-4 từ bên trái hoặc cũng có thể
bắt mạch ñộng mạch ñùi ở phía trong bẹn.
d. Tiêm thỏ
Thông thường chỉ tiêm bắp ở mặt trong ñùi. Một người bắt thỏ, người khác tiêm cầm chân
thỏ sao cho ngón tay trỏ ñặt vào ñầu gối chân ñó, tay thuận cầm bơm tiêm ñặt kim tiêm vào ñiểm
ñặt của ngón tay cái giữ chân thỏ, chỗ ñó có cơ bắp dày, không có mạch máu lớn. Cần chú ý khi
thỏ ñạp, cựa mạnh có thể làm rời bơm tiêm.
e. Cho thỏ uống thuốc
ðể tiết kiệm thuốc và dùng ñúng liều, cần phải bắt thỏ cho uống thuốc trực tiếp chứ