Tài liệu Để tránh rủi ro khi chấm dứt quan hệ lao động doc - Pdf 98

Để tránh rủi ro khi
chấm dứt quan hệ lao động

Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã nhanh chóng gây ra
cuộc khủng hoảng thị trường lao động trên toàn cầu. Việt Nam không phải là
một ngoại lệ, hàng loạt quan hệ lao động bị chấm dứt, người lao động bị mất
việc làm, làm cho tranh chấp lao động gia tăng, gây ra không ít khó khăn
cho người lao động và doanh nghiệp.

Trong cơ chế thị trường, việc chấm dứt quan hệ lao động là yếu tố khách
quan, song điều này phải thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật.
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp cho nhân viên thôi việc không theo quy
định của pháp luật lao động, nên thường bị thua kiện trong các vụ án lao
động.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc chấm dứt quan hệ lao động: do hợp
đồng lao động (HĐLĐ) hết hạn, do hai bên thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ, do
người lao động hay người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ,
do mất việc làm.

Trong thời kỳ suy giảm kinh tế hiện nay, mất việc làm là nguyên nhân chính
khiến các doanh nghiệp phải chấm dứt quan hệ lao động. Song, điều 17 của
Bộ luật Lao động và Nghị định 39/2003/NĐ-CP ngày 18-4-2003 đã quy định
cụ thể căn cứ, điều kiện, thủ tục chấm dứt HĐLĐ và các chế độ người lao
động được hưởng do mất việc làm, đó là trường hợp do thay đổi cơ cấu
hoặc công nghệ bao gồm:

(i) Thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ
tiên tiến có năng suất lao động cao hơn.

(ii) Thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít

chấp hành công đoàn tham gia cuộc họp.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được với nhau về việc chấm dứt
HĐLĐ, doanh nghiệp cần phải:

- Có các quyết định về việc sáp nhập, giải thể những bộ phận nhiều người
lao động không có việc làm;

- Trao đổi và thống nhất với ban chấp hành công đoàn về danh sách dự kiến
những người lao động mất việc làm (nếu doanh nghiệp có công đoàn);

- Lập danh sách những người mất việc làm để công bố công khai trong
doanh nghiệp;

- Báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương về việc
chấm dứt HĐLĐ với người lao động. Trong báo cáo cần nêu rõ: số lượng
người lao động hiện tại của công ty, số người cần cắt giảm, lý do cần cắt
giảm lao động, danh sách cụ thể những người bị cắt giảm, chế độ giải quyết
cho người lao động bị cắt giảm.

Sau 30 ngày kể từ ngày báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động,
doanh nghiệp ra quyết định chấm dứt HĐLĐ với người lao động.
Để hỗ trợ người lao động bị mất việc làm do suy thoái kinh tế và tháo gỡ
một phần khó khăn cho doanh nghiệp phải giảm nhiều lao động, ngày 23-2-
2009 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 30/2009/QĐ-TTg: cho các
doanh nghiệp sau khi đã sử dụng các nguồn của doanh nghiệp mà vẫn chưa
có khả năng thanh toán tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội và tiền trợ cấp mất
việc làm hoặc trợ cấp thôi việc cho số lao động mất việc làm được vay với
lãi vay ưu đãi 0%. Các doanh nghiệp cần nắm bắt kịp thời quyết định này,
song việc chấm dứt quan hệ lao động vẫn phải theo đúng trình tự thủ tục do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status