LỜI NÓI ĐẦU
Từ năm 1986 Việt Nam thực hiện việc chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, chính sách kế hoạch và các
công cụ khác . Quá trình chuyển tiếp đó đã đạt được những kết quả tuy là bước
đầu nhưng đáng khích lệ.
Chúng ta đã bắt đầu kiềm chế được lạm phát trong điều kiện kinh tế phải
đối phó với nhiều khó khăn và nguồn viện trợ từ bên ngoài rất hạn chế. Năm
1986 tỉ lệ lạm phát là 487% năm 1994 đạt mức hai con số: 14%.
Tốc độ trượt giá đã từ 15 -20% một tháng vào đầu năm 1989, giảm xuống
còn dưới 4% một tháng năm 1992.Trong nông nghiệp từ chỗ hàng chục năm liên
tục phải nhập khẩu lương thực thì nay chúng ta đã đủ lương thực để phục vụ nhu
cầu trong nước và lại còn xuất khẩu một lượng đáng kể. Năm 1992, lần đầu tiên
Việt Nam xuất khẩu gạo, đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Thái lan. Quan
hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam với các nước cũng tăng nhanh, mở rộng
buôn bán với nhiều bạn hàng. Xuất khẩu năm 1989 - 1991 tăng 28% năm, thu
hút ngày càng nhiều công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam với trên 400 dự
án, vốn đăng ký khoảng 3 tỷ USD. Lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ đã xoá
bỏ chế độ tem phiếu và phân phối theo định lượng. Có thể nói, chuyển sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, áp dụng chính sách kinh tế mở đối với
cả trong nước và ngoài nước là bứơc mở đầu đổi mới cơ bản về đường lối xuyên
suốt mọi lĩnh vực hoạt động hay nói một cách khác cơ cấu kinh tế mới bắt đầu
có hiệu quả. Tuy nhiên, trong giai đoạn đổi mới này bên cạnh những thành tựu
đã đạt được, nền kinh tế Việt Nam còn gặp không ít những khó khăn. Trước
hết đó là nguy cơ tụt hậu do: Sự thiếu triệt để của công cuộc cải cách còn
đang trong thời kỳ tranh tối tranh sáng nên chỉ cần một bước sơ hở có thể dẫn
nền kinh tế đến chỗ sụp đổ.Việt Nam đang là một nước nghèo kém phát triển,
công nghiệp còn lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật nhất là cơ sở hạ tầng kinh tế -
xã hội quá yếu kém, không đồng bộ dân số đông (hơn 70 triệu dân) tăng nhanh,
nhiều người không có việc làm, mức sống còn thấp, nhiều vấn đề về văn hoá - xã
hội cần giải quyết. Tốc độ phát triển của các quốc gia trong khu vực rất cao,
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam á là một khu vực đang diễn ra những
nào tồn tại một cách cô lập, biệt lập mà chúng là một thể thống nhất, trong đó các
sự vật hiện tượng tồn tại bằng cách tác động lẫn nhau, ràng buộc nhau, quy định
và chuyển hoá lẫn nhau. Mối liên hệ này chẳng những diễn ra ở mọi sự vật và
hiện tượng trong tự nhiên trong xã hội và trong tư duy con người mà còn diễn ra
giữa các yếu tố các mặt khác, các quá trình của mỗi sự vật hiện tượng. Có
những mối liên hệ chỉ đặc trưng cho một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng.
Nhưng đồng thời có những mối liên hệ mang tính phổ quát cho mọi đối tượng
của tồn tại, những mối liên hệ như vậy được gọi là liên hệ phổ biến. Các
mối liên hệ giữa vai trò qui định tư cách tồn tại của sự vật hiện tượng. Với một
sự vật, hiện tượng có thể có vô lượng các mối liên hệ khác nhau. Mối liên hệ
đều có những vị trí và vai trò khác nhau trong việc quy định những tư cách tồn
tại của các sự vật hiện tượng (xét trong một điều kiện nhất định) Nguyên tắc
toàn diện có nguồn gốc từ mối liên hệ phổ biến đựơc nhận thức và được để lên
thành nguyên lý chỉ đạo phương pháp hành động và suy nghĩ. Trong nền
kinh tế không có một sự kiện kinh tế nào tồn tại trong trạng thái cô lập, tách rời
những sự kiện khác mà luôn nằm trong mối liên hệ với những sự kiện kinh tế
khác. Thực tế cho thấy, giá cả thị trường của mỗi loại hàng hoá chỉ biểu hiện ra
trong mối quan hệ với sự biến động cung - cầu về loại hàng hoá đó, trong mối
quan hệ với giá cả và các loại hàng hoá khác (tỉ giá với các loại hàng hoá bổ
sung). Cũng giống như sự tác động qua lại giữa cung cầu và giá cả trên thị
trường hàng hoá, thị trường vốn, thị trường lao động không tồn tại trong trạng
thái cô lập và tách rời mà trong sự liên hệ tác động qua lại. Chẳng hạn như mỗi
sự biến động về giá cả trên thị trường vốn (lãi suất) kéo theo hàng loạt các sự
3
biến động lan truyền trên các thị trường lao động, thị trường hàng hoá. Như
chúng ta đã biết lãi suất trên thị trường vốn giảm các doanh nghiệp có cơ hội mở
rộng đầu tư, phát triển sản xuất làm cho giá cả sức lao động, tiền công, tiền
lương tăng lên do đó giá cả trên thị trường hàng hoá cũng tăng lên.
Nhận thức được mối liên hệ giữa các sự kiện kinh tế nhưng vấn đề là ở
Đối với một nền kinh tế, xu hướng tăng trưởng tự vạch đường đi biểu hiện
xuyên qua các thời điểm mà ở đó ta có thể nhận thấy hoặc là nó đang ở trạng thái
tương đối ổn định (tổng cung = tổng cầu) hoặc là trong trạng thái mở rộng phát
triển sản xuất (tổng cung < tổng cầu) hoặc là trong trạng thái thu hẹp lại sự
khủng hoảng và sang trạng thái (tổng cung > tổng cầu). Cứ mỗi khi nền kinh tế
lâm vào thời kỳ khủng hoảng, suy thoái nếu nó không đủ sức để vượt qua đến
thời kỳ hồi phục để tăng trưởng về sau thì nó sẽ bị đào thải và loại bỏ bằng một
cuộc cách mạng xã hội hay đảo chính để thiết lập một trật tự kinh tế mới.
Vì vậy vận động bao hàm trong mình cả sự đào thải, loại bỏ, nhưng phát
triển từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp ngày càng phát triển hoàn thiện
hơn.
Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi từ một nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp sang một nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước cơ
cấu nhiều thành phần.
Khuynh hướng vận động và phát triển trở thành một quy luật tất yếu khách
quan trong mọi sự vật và hiện tượng. Đó là một điều không thể tránh khỏi và
không xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người dù sự vận động ấy có thể
diễn ra sớm hay muộn.
2Phân tích quan điểm toàn diện trên góc độ kinh tế.
Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã đề ra việc tiến hành đổi mới toàn
diện, trên mọi mặt của đời sống xã hội nhằm phát triển đất nứơc và cũng nhờ đó
chúng ta đã đứng vững trước cuộc khủng hoảng của hệ thống chủ nghĩa xã hội.
Nước ta xuất phát từ một nước phổ biến là sản xuất nhỏ, lực lượng sản
xuất phát triển không đều và do đó các thành phần kinh tế khác nhau cùng tồn
tại. Nếu để phát triển tự phát trong nền kinh tế th ị trường thì theo logic tự nhiên,
nền kinh tế nước ta sẽ đi đến chủ nghĩa tư bản. Vì thế một vấn đề đặt ra là nền
kinh tế nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội của ta chỉ có phù hợp với quá
trình lịch sử tự nhiên hay không?
Tại đại hội VII Đảng ta lại tiếp tục khẳng định công cuộc đổi mới được
Việc thực hiện nguyên tắc này làm cho những ưu thế riêng của các thành
phần kinh tế trong việc phát triển lực lượng sản xuất đều được phát huy. Các
6
thành phần một mặt vừa kết hợp với nhau, vừa bổ sung cho nhauvà dođó gắn
yếu tố truyền thống đã được chọn lọc trong quá trình phát triển xã hôị với yếu
tố hiện đại, gắn các trình độ phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất tạo
thành “Lực lượng sản xuất mới” kết hợp sự biến đổi về lượng với sự thay đổi về
chất làm cho các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển. Mặt khác , cơ chế
thị trường với sự tác động của quy luật giá trị, qui luật cung - cầu buộc các thành
phần kinh tế trong kinh daonh cạnh tranh với nhau quyết liệt và kết quả là dẫn
đến sự phát triển của sản xuất, đổi mới công nghệ đưa khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của toàn xã hội. Trong
cạnh tranh, thành phần kinh tế nào có cơ chế hoạt động thích hợp sẽ có nhịp độ
phát triển nhanh hơn, tạo thành sự phát triển không đều, đặc biệt ở những vùng
và những ngành có quan hệ trực tiếp với thị trường thế giới thì sự phát triển của
các thành phần kinh tế đó sẽ diễn ra với tốc độ nhanh chóng, tạo thành các bước
nhảy vọt về chất, phá vỡ tính cân bằng chính thể. Đó chính là nguyên nhân đưa
đến các cuộc khủng hoảng. Vì vâỵ, xuất hiện nhu cầu điều chỉnh tự giác nền
kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường nhằm đảm bảo khai
thác và phát triển toàn bộ những năng lực sản xuất hiện có.
Nhà nước với tư cách là người đại diện cho mục tiêu phát triển chung của
toàn hệ thống kinh tế phải đóng vai trò chủ đạo trong việc điều tiết nền kinh tế
trên tầm vĩ mô, bảo đảm tỷ lệ phát triển cân đối và nhịp nhàng giữa các thành
phần kinh tế - xã hội.
II. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
1. Tính tất yếu khách quan trong việc phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, khu vực kinh
tế Nhà nước đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển kinh tế
Nhà nứơc hạn hẹp.
Nền kinh tế nhiều thành phần vừa phản ánh tính đa dạng phong phú trong
việc đáp ứng nhu cầu xã hôị vừa phản ánh tính chất phức tạp trong việc quản lý
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc “phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần phải đi đôi với tăng cường quản lý của Nhà nứơc về kinh tế xã
hội”.
2.Những quan điểm chung về việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần.
8
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tồn tại trong nó những kiểu sản xuất
hàng hoá không cùng bản chất, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau.
Tính thống nhất các thành phần kinh tế thể hiện:
Các thành phần kinh tế trong quá trình vận động không biệt lập nhau mà
gắn bó, đan xen xâm nhập lẫn nhau thông qua các mối liên hệ kinh tế vì chúng
đều là các bộ phận của hệ thống phân công lao động xã hội thống nhất.
Sự thống nhất các thành phần kinh tế còn vì có yếu tố điều tiết thống
nhất đó là hệ thống các quy luật kinh tế đang tác động trong thời kỳ quá độ và
thị trường thống nhất.
Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế với nhau thể hiện : Mâu thuẫn giữa
công hữu và tư hữu, giữa tư nhân với tập thể, với Nhà nước giữa xu hướng tư
bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.
Mâu thuẫn là cội nguồn của mọi sự vận động và phát triển. Trong hệ thống
kinh tế thống nhất của nền kinh tế quá độ chứa đựng những sự đối lập, những
khuynh hướng đối lập, một mặt bài trừ, phủ định lẫn nhau, cạnh tranh với nhau
mặt khác chúng thống nhất với nhau, thâm nhập, nương tựa vào nhau để tồn tại
và phát triển thông qua hợp tác và cạnh tranh, liên kết, liên doanh.
Các thành phần kinh tế đều được thừa nhận tồn tại khách quan và Nhà nước
tạo điều kiện và môi trường để chúng tồn tại trên thực tế.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, trước mắt và trong tương lai vẫn có vai trò
Ngành nghề, thời gian và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp phải
theo đúng quy định của Nhà nước.
Khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức theo các hình thức sở hữu đan
xen.
Với quan điểm này, các chính sách phát triển kinh doanh là một thể thống
nhất không phân biệt thành phần sở hữu và cơ quan chủ quản các hình thức sở
hữu đan xen nhau sẽ tạo nguồn động lực mới cho sự phát triển của các thành
phần kinh tế.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU
10
THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM
I.Khái quát.
1/ Trong thời kỳ đầu cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, các
xác định quốc doanh (doanh nghiệp Nhà nước) là lực lượng kinh tế chủ đạo
trong nền kinh tế quốc dân. Chúng được hình thành từ ba nguồn sau đây:
Thứ nhất: xây dựng mới bằng các nguồn vốn của ngân sách Nhà nước,
nguồn vốn viện trợ hoặc vốn đi vay (của Liên Xô cũ), Trung Quốc và các nước
xã hội chủ nghĩa khác trong thời kỳ đó.
Thứ hai: quốc hữu hoá các xí nghiệp tư nhân của các nhà tư bản mại bản
dân tộc đã ra nước ngoài hoặc các xí nghiệp Nhà nước ở chế độ cũ.
Thứ ba: biến các xí nghiệp tư nhân của các nhà tư bản dân tộc thành các xí
nghiệp công tư hợp doanh, và sau đó thành các xí nghiệp quốc doanh.
Cơ chế quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa lúc đó là cơ chế kế hoạch hoá tập
trung quan liêu, bao cấp, tất cả đều do ngân sách Nhà nước cấp và tất cả phải nộp
nước được thể hiện ở tốc độ tăng trưởng phát triển kinh tế trong mấy năm gần
đây và ở cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo xu hướng tiến bộ.
a)Về tăng trưởng kinh tế:
Trong năm 1922, tuy nền kinh tế của nước ta còn gặp nhiều khó khăn, song
đó cũng là năm đầu tiên chúng ta đã hoàn thành toàn diện và vượt mức các chỉ
tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước. So với năm 1991, tổng sản phẩm trong
nước tăng 10% thu nhập quốc dân tăng 7,5% giá trị tổng sản lượng công nghiệp
tăng 15%.
Tình hình sản xuất của năm 1993 tiếp tục tăng so với năm 1992.
b)Về cơ cấu kinh tế theo ngành nghề.
Đại hội Đảng lần thứ VI, trên cơ sở nhận rõ và phê phán những thiếu sót,
sai làm trước đây đã đề ra chủ trương xây dựng và phát triển kinh tế phục vụ các
chương trình kinh tế lớn của đất nước trong giai đoạn trước mắt và lâu dài: sản
xuất lương thực, hàng tiêu dùng và xuất khẩu.
Thực hiện chủ trương đó, cơ cấu kinh tế ngành được thay đổi một bước cơ
bản, phù hợp với nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng, tạo ra một bước phát
triển mới trong việc phục vụ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cấp thiết và ngày càng
lớn của nhân dân ta sau những năm chịu đựng thiếu thốn do chiến tranh kéo dài.
Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu trong mấy năm gần đây cũng được đổi
mới. Tỉ trọng hàng thành phẩm xuất khẩu tăng lên, năm 1990, tỉ trọng đó là 8%
12
năm 1991 tăng lên 17%. Tỉ trọng hàng nhiêu liệu, khoáng sản nhập khẩu giảm từ
31,4% năm 1990 xuống 21,4% năm 1991. Tổng kim ngạch xuất khẩu thời kỳ
1986 - 1990 đạt 6,85 tỷ rúp/đô la: bằng 2,37 lần so với thời kỳ 1981 - 1985, tốc
độ tăng bình quân hàng năm là 27%. Năm 1990 xuất khẩu đạt 2,2 tỷ rúp/ đôla, so
với năm 1985 bằng 3,27 lần. Năm 1991, kim ngạch xuất khẩu so với năm 1990
tăng 14,7%. Trong lúc đó kim ngạch nhập khẩu tăng chậm hơn. Năm 1990, kim
ngạch nhập khẩu đạt 2,5 tỷ rúp/đô la bằng 1,4 lần so với năm 1985, năm 1991
đạt 2,2 tỷ rúp/đôla, giảm 11,1% so với năm 1990.
dân dụng từ nước ngoài. Vì vậy nhiệm vụ thứ hai đặt ra là sản xuất thay thế hàng
nhập khẩu.
Đất nước đang đứng trước mâu thuẫn giữa yêu cầu đổi mới trang bị kỹ
thuật - công nghệ phát triển sản xuất trong nền kinh tế quốc dân với khả năng
tiền vốn eo hẹp của ngân sách và sức ép của lực lượng lao động dôi dư cần được
giải quyết việc làm. Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá này làm thế
nào chúng ta khuyến khích phát triển toàn diện các thành phần kinh tế hướng ra
xuất khẩu, nhất là ở vùng nông thôn có những làng nghề truyền thống mà lâu nay
bị mai một, cầu phục hồi phát triển để tạo ra nhiều hàng hoá xuất khẩu thu ngoại
tệ, góp phần tích luỹ vốn nhằm đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ theo
hướng hiện đại?
II.Thực trạng phát triển của các thành phần kinh tế hiện nay.
Các thành phần kinh tế Việt Nam dựa trên ba hình thức sở hữu: Nhà nước,
tư nhân, hỗn hợp.
1/ Thành phần kinh tế Nhà nước:
Thành phần này dựa trên chế độ sở hữu Nhà nước về những tư liệu sản xuất
chủ yếu, gồm những đơn vị kinh tế mà toàn bộ số vốn thuộc về Nhà nước hoặc
phần của Nhà nước chiếm tỉ trọng khống chế.
Theo số liệu thống kê, đến năm 1989 cả nước có 12.084 doanh nghiệp Nhà
nước, với số vốn khoảng 10USD, trong đó các doanh nghiệp Nhà nước trong
ngành công nghiệp chiếm 49,3% tổng số vốn xây dựng 9%, nông nghiệp 8,1%.
Lâm nghiệp 1,2%. Giao thông vận tải 14,8%; thương nghiệp 11,57%, các ngành
khác 5,9%.
Hàng năm, thành phần kinh tế Nhà nước đã tạo ra khoảng 35 - 40% GDP và
22 - 30% GDP, đóng góp từ 60 - 80% tổng số thu ngân sách.
Nhìn tổng quát, toàn bộ khu vực kinh tế Nhà nước chưa tự đảm bảo tái sản
14
xuất giản đơn. Sự tăng trưởng hàng năm của khu vực kinh tế Nhà nước chủ yếu
do việc gia tăng lượng vốn và lao động. Số đóng góp của khu vực kinh tế Nhà
15
đạt 11%/ năm, trong đó các ngành tương ứng đạt 10,6%, 9,4%, 9,5%. Mức tiêu
hao vật chất cho một đơn vị giá trị tổng sản phẩm xã hội cao hơn so với kinh tế
ngoài quốc doanh và gấp 1,3 - 2,2 lần mức trung bình trên thế giới.
Mặt hàng làm ra đơn điệu, chậm cải tiến mẫu mã, chất lượng thấp và không
ổn định, chỉ khoảng 15% số loại sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, 65% đạt tiêu
chuẩn trung bình, 20% đạt chất lượng kém và quá kém.
Ba là, tài sản, vốn của Nhà nước giao cho doanh nghiệp phổ biến là không
được bảo tồn và phát triển, năng lực sản xuất không được mở rộng và tái tạo,
ngược lại bị thất thoát, hư hỏng, lãng phí nhiều nhưng không biết quy trách
nhiệm về ai.
Trong những năm gần đây, không ít doanh nghiệp đã lợi dụng những kẽ hở
của cơ chế quản lý mới chưa được hoàn chỉnh và đồng bộ để mua đi bán lại tài
sản, vật tư, khai báo sai doanh thu, định ra những chế độ chi tiêu, phân phối rất
tuỳ tiện trong đơn vị khác để chia chác, làm giàu cho cá nhân, vi phạm lợi ích
Nhà nước.
Tình hình nêu trên đã làm cho vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước bị lu
mờ, nhất là trong điều kiện Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế khác
phát triển, tạo ra môi trường cạnh tranh theo cơ chế thị trường.
Vì vậy việc đánh giá kinh tế Nhà nước ở nước ta cần phải đứng trên quan
điểm lịch sử mà phán xét một cách khách quan, toàn diện. Không nên chỉ đơn
thuần dựa vào những yêu cầu của một nền kinh tế hàng hoá mà phê phán có tính
một chiều, phủ nhận mọi sự đóng góp quan trọng của kinh tế Nhà nước, thậm chí
đi đến chỗ cực đoan muốn xoá bỏ nó. Phải nghiêm túc vạch ra những yếu kém
của nó để khắc phục, làm cho kinh tế Nhà nước chẳng những hoạt động có hiệu
quả về mặt kinh tế, mà còn làm tròn được trách nhiệm về mặt xã hội.
2/ Thành phần kinh tế tập thể:
Thành phần kinh tế tập thể dựa trên sở hữu hỗn hợp gồm các đơn vị kinh tế
do những người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức kinh doanh theo nguyên
tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng cùng có lợi.
bình quân giữa những người đóng góp công sức nhiều với người đóng góp ít.
Thứ hai: Bộ máy quản lý hợp tác xã cồng kềnh, quan liêu, cán bộ nói chung
thiếu năng lực tổ chức, quản lý do ít được đào tạo và chất lượng đào tạo kém.
Vì vậy để có thể phát triển thành phần kinh tế tập thể có hiệu quả chúng ta
phải coi trọng kết hợp hài hoà giữa ba lợi ích: xã hội, tập thể, cá nhân, vì đó là cơ
17
sở để phát huy các động lực cá nhân, tập thể, xã hội. Mỗi lợi ích có phạm vi nhất
định, song sự thống nhất giữa ba lợi ích sẽ phát huy ảnh hưởng tích cực đến kết
quả sản xuất.
Với sự nghiệp đổi mới một cách căn bản và toàn diện, thành phần kinh tế
tập thể trong nông nghiệp sẽ tạo ra sức sản xuất mới, đưa nông nghiệp và nông
thôn phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
b)Trong công nghiệp:
So hợp tác xã thương nghiệp từ 32.034 năm 1988 giảm còn 21.901 năm
1989; 13.086 năm 1990 và 9.660 năm 1991. Mức sản xuất cua những hợp tác xã
này năm 1989 giảm 36,1% và năm 1991 giảm 47% so với năm trước. Vì lẽ đó,
mức đóng góp của chúng trong giá trị tổng sản lượng của toàn ngành công
nghiệp tính theo giá cố định năm 1982 giảm dần, năm 1988 giảm 23,9%, năm
1989 giảm 15,8%, năm 1990 giảm 13,7% và năm 1991 giảm 6,8%.
c)Trong thương nghiệp:
So với năm 1986, đến năm 1991 chỉ còn khoảng 25% số hợp tác xã mua
bán còn hoạt động, còn gắn 3.300 hợp tác xã đã giải thể hoặc tạm ngừng hoạt
động. Tương ứng với tình hình này, vai trò của hợp tác xã mua bán trong thị
trường xã hội cũng giảm sút nghiêm trọng: tổng mức bản lề hàng hoá và dịch vụ
tiêu dùng xã hội từ 25 - 30% những năm 1980 - 1985, xuống còn 14,6% năm
1986: 12,6%; năm 1987: 9,2% năm 1988 6,1% năm 1989: 2,7% năm 1990 va chỉ
còn 1,8% năm 1991.
Sở dĩ các hợp tác xã mua bán lâm vào tình trạng hiện nay là do:
Trong quá trình thành lập và phát triển ca s hợp tác xã đã không nhất
3/ Kinh tế tư nhân:
Dựa trên hình thức sở hữu tư nhân. Theo cách hiểu truyền thống trước đây
thì kinh tế tư nhân (bao gồm thành phần tư bản tư nhân và kinh tế tư nhân của
những người sản xuất nhỏ) là thành phần kinh tế không tiến bộ, phải nhanh
chóng xoá bỏ hoặc cải tạo bằng mọi giá.
Quan điểm này đã lỗi thời, xét cả trên phương diện lý luận thực tiễn nhưng
nó vẫn còn in đậm những dấu ấn trong suy nghĩ và hành động của không ít người
trong số chúng ta. Điều đó biểu hiện ở chỗ, mặc dù tự tồn tại và phát triển lâu
dàu của tư nhân đã được thừa nhận, nhưng trong thực tiễn, tình trạng phân biệt
đối xử “kinh tế quốc doanh là con đẻ, kinh tế tư nhân là con ghẻ” tuy không còn
nặng nề, nghiêm trọng như trước đây, nhưng vẫn còn khá phổ biển.
19
So các với các doanh nghiệp Nhà nước các doanh nghiệp tư nhân vẫn bị
thua thiệt trong việc vay vốn, cấp tín dụng, thuê đất, xuất nhập khẩu, tìm kiếm
thị trường và bạn hàng ở nước ngoài, thuê bao điện thoại, Fax v.v Một trong
những điều nhức nhối nhất của các nhà doanh nghiệp tư nhân là họ vẫn bị liệt
vào giai cấp bóc lột.
Sự phát triển rầm rộ nhất của kinh tế tư nhân với biến tương loại hình xí
nghiệp và công ty tư doanh là vào cuối năm 1988 cho đến nửa năm 1990.
Lúc bấy giờ cả nước có gần 500 xí nghiệp và công ty tư doanh nhiều nhất là
ở thành phố Hồ Chí Minh với 235 cơ sở, số vốn đầu tư của mỗi cơ sở từ 100
triệu trỏ lên, thành phố Hà Nội 77 cơ sở với số vốn đầu tư từ 30 triệu trở lên.
Có thể nói, tình hình chung của kinh tế ngoài quốc doanh hiện nay là hoạt
động đang khó khăn, phát triển chậm lại, dè dặt hơn, cân nhắc hơn.
Thành phần kinh tế tư nhân của những người sản xuất nhỏ chiếm khá đông
trong cả nước. Sau khi Nhà nước ban hành Luật doanh nghiệp và Luật công ty
(năm 1991) số hộ cá thể tăng lên đến gần 50 vạn hộ và cuối năm 1992 là hơn 70
vạn hộ.
Loại hình kinh tế cá thể đâu có ý nghĩa chiến lược tình thế trong những năm
càng có cơ sở để hoạch định các quan điểm quản lý và chính sách quản lý của
mình với khu vực kinh tế này trong tương lai.
4/ Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước:
Dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp. Đó là sự hoạt động phối hợp giữa Nhà
nước với tư bản nước ngoài qua các hợp đồng góp vốn đầu tư dưới hình thức liên
doanh và hợp doanh.
Các xí nghiệp liên doanh và hợp doanh với nước ngoài đã thu hút khoảng
gần 14.2 nghìn lao động trực tiếp sản xuất và hàng vạn lao động vệ tinh khác.
Chúng đã có những đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng của nền kinh
tế, đặc biệt là góp phần từng bước cân bằng cán cân ngoại thương, tạo điều kiện
cho chúng ta học tập kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp của cả nước.
Nhưng trong quá trình phát triển, lực lượng kinh tế này cũng bộc lộ một số
hạn chế:
Khoảng 70-75% dự án có quy mô dưới 7 triệu USD, điều đó chứng tỏ là
công ty đầu tư vào Việt Nam phần lớn là công ty nhỏ, ít vốn, tìm kiếm những cơ
hội đầu tư có thể đem lại lợi nhuận ngay và thu hồi vốn nhanh
Vốn tập trung liên doanh và hợp doanh tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía
21
Nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Vũng Tàu.
Số thuế phải nộp của các xí nghiệp có vốn đầu tư với nước ngoài còn rất
hạn hẹp, chưa phản ánh đúng thực tế hoạt động của chúng. Không ít xí nghiệp
còn khai man sổ sách chứng từ.
22
CHƯƠNG III
MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ
NHIỀU THÀNH PHẦN PHÁT TRIỂN
1. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới.
theo dõi hệ thống kinh tế thị trường, định hướng ưu tiên sản xuất dành cho xuất
khẩu. Ngay từ đầu, các nước này đã xác định thành phần kinh tế tư nhân là động
lực chính thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Họ coi thành phần kinh tế tư nhân nước
ngoài và các khoản đầu tư trực tiếp của nước ngoài là yếu tố then chốt.Chính phủ
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài.Nguồn nhân văn trong nước
dồi dào, trí thức cao, ở Xingapo Chính phủ luôn động viên những người lao động
học tập người Nhật.
II. Một số biện pháp
Để cho các thành phần kinh tế có thể hoạt động có hiệu quả nhất, phát huy
tối đa ưu thế của mình Nhà nước cần có những chính sách quản lý vĩ mô phù
hợp.
Phát triển toàn diện kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một công việc
không phải là đơn giản. Thành phần kinh tế Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo để
đồng hoá các thành phần kinh tế khác theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước không nên coi trong hay coi nhẹ bất cứ một thành phần kinh tế
nào vì mỗi thành phần kinh tế đều có ưu điểm của nó, nếu Nhà nước phát triển
toàn diện các thành phần thì cũng có nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất một
cách tối đa.
Trong thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều bộ luật và Pháp lệnh,
trong đó có những luật rất quan trọng đối với thành phần kinh tế. Nhưng nhìn
chung, hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, chưa có những Bộ Luật, đạo Luật có tính
chất xương sống như Bộ Luật dân sự, thương mại, lao động, luật doanh nghiệp
Nhà nước, luật hợp tác xã.
Trước mắt, Nhà nước cần ban hành sớm các Bộ Luật trên, nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh.Về chính sách tài chính:
Để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế khác nhau. Nhà nước nên dùng một phần thích đáng ngân sách để đầu tư cho
xây dựng kết cấu hạ tầng, điều tra thăm dò tài nguyên, xây dựng các khu chế
xuất, các vùng kinh tế mới, cho các hoạt động cung cấp thông tin, dự báo thị
trường trong và ngoài nước.