Lời mở đầu
Nền kinh tế thị trờng Việt Nam ngày càng đổi mới và phát triển mạnh mẽ
cả hình thức lẫn quy mô sản xuất kinh doanh. Hoà nhịp xu thế chung của nền
kinh tế thế giới là quốc tế hoá và hợp tác hoá. Nền kinh tế càng đợc quốc tế bao
nhiêu thì sự cạnh tranh giữa các quốc gia, giữa các doanh nghiệp càng trở nên
mạnh mẽ. Thị trờng cạnh tranh tự do đã thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của
doanh nghiệp, vì có nh vậy mới đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Trong cơ chế thị trờng hiện nay, các nhà quản ký doanh nghiệp luôn phải
lựa chọn: sản xuất cho ai? sản xuất cái gì? sản xuất nh thế nào? điều
quan trọng nhất đó là hình thức đa sản phẩm đến với ngời tiêu dùng lựa chọn và
chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp. Vậy để sản xuất có hiệu quả đòi hỏi
doanh nghiệp phải nắm bắt đợc cơ hội, vận dụng vào thực tiễn đồng thời để đảm
bảo thắng lợi bền vững trong cạnh tranh các nhà sản xuất cần phải biết sức cạnh
tranh của mình trên thị trờng, nguồn nhân lực hiện có, các khoản chi phí bỏ ra
và kết quả đạt đợc.
Sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra mang tính chất là sản phẩm hàng
hoá, vì vậy các doanh nghiệp ngoài sản xuất ra sản phẩm còn có nhiệm vụ tiêu
thụ sản phẩm đó. Có đợc doanh thu tiêu thụ mới chứng tỏ sản phẩm của doanh
nghiệp đợc ngời tiêu dùng chấp nhận.
Vì vậy quá trình tiêu thụ sản phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng đối với
doanh nghiệp góp phần quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Để có đợc những thông tin hữu ích phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì
một công cụ không thể thiếu đối với các doanh nghiệp đó là kế toán.Với t cách
là công cụ quản lý, kế toán ngày càng đợc khai thác tối đa sức mạnh và sự linh
hoạt của nó, nhằm điều chỉnh vĩ mô và kiểm soát sự vận hành của nền kinh tế.
Đi đôi với sự đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế,sự đổi mới trong cơ chế quản
lý kinh tế, sự đổi mới trong hệ thống kế toán doanh nghiệp đã tạo ra cho kế toán
1
một bộ mặt mới, khẳng định đợc vị trí của kế toán trong hệ thống các công cụ
quản lý doanh nghiệp.
Khi nói đến sản phẩm của một doanh nghiệp nào đó có thể gồm cả thành phẩm
và bán thành phẩm. Bán thành phẩm là những sản phẩm cha qua bớc công nghệ
cuối cùng của doanh nghiệp. Tuy nhiên có những trờng hợp do yêu cầu của sản
xuất và tiêu thụ nhng có thể đựơc nhập kho để bán hoặc bán ngay ra thị trờng,
khi bán cho khách hàng chúng cũng có nghĩa nh thành phẩm.
Vì vậy việc phân định chính xác hai khái niệm này có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc thực hiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất,
tính giá thành sản phẩm một cách khoa học và hợp lý, từ đó tạo điều kiện xác
định chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của từng đơn vị trong doanh
nghiệp.
Trong doanh nghiệp sản xuất việc chế tạo ra thành phẩm phải đảm bảo
kết hợp hài hoà cả về số lợng và chất lợng của thành phẩm. Số lợng là con số cụ
3
thể cùng với đơn vị đo lờng nh: kg, mét, cái chất l ợng của thành phẩm phản
ánh giá trị sử dụng, đợc xác định theo phẩm cấp của sản phẩm hoặc theo tỷ lệ %
tốt xấu. Khối lợng thành phẩm sản xuât hoàn thành trong từng thời kỳ ở phạm
vi doanh nghiệp là một trong những yếu tố đánh giá quy mô của doanh nghiệp
hay khả năng doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, Từ đó
làm cơ sở đề ra các quyết định cần thiết trong mối quan hệ kinh tế với các
doanh nghiệp, cũng nh tạo cơ sở cho các cấp chức năng có thẩm quyền xác định
đợc cân đối cần thiết trong ghành, trong vùng và toàn bộ nền kinh tế.
Trong cơ chế thị trờng, hoạt động của doanh nghiệp trong việc sản xuất
thành phẩm cung cấp cho xã hội vẫn theo sự chỉ đạo quản lý kinh tế ở tầm vĩ
mô của nhà nớc, đây là một nhiệm vụ chính trị vô cùng quan trọng của các
doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất khác nhau, thành phẩm của
doanh nghiệp có tác dụng khác nhau để thoả mãn nhu cầu đa dạng của thị tr-
ờng. Nhng nếu thiếu đi dù chỉ một loại trong số sản phẩm đó cũng làm ảnh h-
ởng đến quá trình tiêu dùng và sản xuất kinh doanh của những bộ phận nhất
định. Chính vì vậy trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh
Còn khách hàng phải trả cho doanh nghiệp một khoản tiền tơng ứng với giá trị
của sản phẩm hàng hoá dịch vụ đó theo giá quy định hoặc thoả thuận. Nói cách
khác, bán hàng chính là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị của hàng hoá, tức
là chuyển hoá vốn của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ.
Tiêu thụ là khâu cuối cùng của chu trình sản xuất, là giai đoạn cuối cùng
của quá trình tuần hoàn vốn của doanh nghiệp. Quá trình tiêu thụ bắt đầu từ khi
doanh nghiệp bắt đầu xuất giao hàng cho khách hàng và kết thúc khi khách
hàng thanh toán đầy đủ tiền hàng. Hàng đem tiêu thụ có thể là thành phẩm,
hàng hoá, vật t hay lao vụ cung cấp cho khách hàng khác nhau, các phơng thức
bán hàng, các thể thức thanh toán, nên trong khâu bán hàng doanh nghiệp cần
phải bám sát các yêu cầu quản lý cơ bản sau:
- Nắm bắt sự vận động của từng loại thành phẩm hàng hoá trong quá trình
nhập xuất và tồn kho trên các chỉ tiêu số lợng, chất lợng và giá trị.
5
- Nắm bắt theo dõi chặt chẽ từng phơng thức bán hàng, từng thể thức
thanh toán thành phẩm tiêu thụ và từng khách hàng, đôn đốc, thu hồi nhanh và
đầy đủ tiền vốn.
- Tính toán, xác định đúng đắn kết quả của từng loại hoạt động và thực
hiện nghiêm túc cơ chế phân phối lợi nhuận.
- Ngoài ra doanh nghiệp còn chủ động sử dụng tiền bán hàng đã thu đợc
một cách có hiệu quả, đúng quy định.
Vai trò thành phẩm là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp. Song quá trình sản xuất kinh doanh không dừng lại ở việc sản
xuất thành phẩm mà còn phải tiến hành tiêu thụ chúng một cách kịp thời. Giữa
kế hoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ có mối quan hệ mật thiết, trong đó sản
xuất là cái giá của tiêu thụ còn tiêu thụ là việc đa kết quả sản xuất đến tay ngời
tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu xã hội.
Thông qua số liệu kế toán về thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm mà ban
lãnh đạo và cơ quan quản lý chức năng biết đợc mức độ hoàn thành kế hoạch.
Từ đó khắc phục những thiếu sót giữa các khâu của quá trình quản lý và sắp xếp
ánh đợc tình hình biến động của thành phẩm phải tổ chức công tác kế toán ghi
chép ban đầu một cách khoa học, hợp lý.
Đối với thành phẩm của doanh nghiệp sản xuất, thành phẩm nhập - xuất
- tồn kho đợc phản ánh theo giá thành thực tế. Nếu hàng ngày hạch toán chi tiết
thành phẩm nhập - xuất - tồn kho thành phẩm đợc ghi sổ theo giá hạch toán thì
cuối tháng kế toán phải tính ra giá thành thực tế thành phẩm xuất bán trong kỳ.
7
2. Đánh giá thành phẩm
Về nguyên tắc thành phẩm đợc phản ánh theo trị giá vốn thực tế. Tuy
nhiên, trong quá trình hạch toán, doanh nghiệp có thể sử dụng hai cách đánh
giá: Đánh giá thực tế và đánh giá theo giá hạch toán.
a. Đánh giá thành phẩm theo giá thực tế
Trị giá của thành phẩm phản ánh trong kế toán tổng hợp ( trên TK, sổ
tổng hợp, báo cáo tài chính) phải đợc đánh giá theo nguyên tắc giá thực tế, hay
còn gọi là giá vốn thực tế. Giá thực tế của thành phẩm nhập kho đựơc xác định
phù hợp với từng nguồn nhập.
Thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra đợc đánh giá thành công xởng
thực tế( giá thành sản xuất thực tế) bao gồm chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Thành phẩm thuê ngoài gia công đựơc đánh giá theo giá thành thực tế gia
công bao gồm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí thuê gia công và các chi phí khác
có liên quan trực tiếp đến quá trình gia công( chi phí vận chuyển đi về)
Đối với thành phẩm xuất kho cũng đợc phản ánh theo giá thực tế. Do
thành phẩm nhập từ các nguồn hay các đợt nhập với giá khác nhau nên việc xác
định giá thực tế xuất kho có thể áp dụng một trong các cách sau:
- Tính theo đơn giá thực tế đích danh.
- Tính theo đơn giá thực tế bình quân gia quyền
- Tính theo đơn giá nhập sau xuất trớc(LIFO)
- Tính theo đơn giá nhập trớc xuất trớc(FIFO)
b. Đánh giá thành phẩm theo giá hạch toán
mẫu biểu, nội dung, phơng pháp lập. Ngời lập chứng từ phải chịu trách nhiệm
về tính hợp lý, hợp pháp và tính chính xác của các số liệu ghi trong chứng từ.
b. Kế toán chi tiết thành phẩm
Kế toán chi tiết thành phẩm là việc theo dõi chi tiết từng loại, từng nhóm
thậm chí đến từng thứ thành phẩm theo từng kho thành phẩm và theo từng ngời
chịu trách nhiệm bảo quản (thủ kho).
Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà có thể lựa
chọn nội dung một trong ba phơng pháp kế toán chi tiết thành phẩm cụ thể sau:
- Phơng pháp ghi thẻ song song.
- Phơng pháp đối chiếu luân chuyển.
- Phơng pháp ghi sổ số d.
9
Tuy nhiên, doanh nghiệp áp dụng theo phơng pháp nào thì công việc kế
toán chi tiết thành phẩm cũng là công việc đợc tiến hành đồng thời trên cả hai
nơi tại kho và tại phòng kế toán.
+ Tại kho việc hạch toán chi tiết thành phẩm đều đợc thực hiện trọn vẹn
trên thẻ kho. Thẻ kho đợc mở cho từng loại thành phẩm, căn cứ vào số lợng
chứng từ nhập xuất kho, kế toán ghi số lợng thực nhập, thực xuất vào thẻ. Cuối
ngày hoặc sau mỗi nghiệp vụ nhập xuất, thủ kho phải kiểm tra tính hợp lý, hợp
pháp của chứng từ, tính ra số lợng tồn kho và ghi vào thẻ kho.
+ Tại phòng kế toán công việc kế toán chi tiết TP do bộ phận kế toán
thành phẩm tiến hành. Tuỳ theo phơng pháp áp dụng tại doanh nghiệp mà việc
hạch toán chi tiết thành phẩm đợc thực hiện trên các thẻ kho hoặc sổ chi tiết TP,
số đối chiếu luân chuyển hay sổ số d.
Dù thực hiện việc kế toán chi tiêt TP theo phơng pháp nào thì căn cứ để
tiến hành ghi chép cũng là những chứng từ nhập xuất.
Về cơ bản các nghiệp vụ ghi chép các chứng từ nhập xuất đợc thực hiện
trên chỉ tiêu giá trị. Tuy nhiên theo phơng pháp ghi thẻ song song đợc thực hiện
trên cả chỉ tiêu số lợng.
Có thể khái quát qui trình ghi sổ theo 3 phơng pháp sau:
Bảng kê
nhập
Chứng từ
xuất
Bảng kê
xuất
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
Sơ đồ kế toán chi tiết thành phẩm Phơng pháp ghi sổ số d
Ghi chú:
12
Thẻ kho
Chứng từ nhập
Bảng kê nhập
Bảng luỹ kế nhập
Chứng từ xuất
Bảng kê xuất
Bảng luỹ kế xuất
Thẻ kho
Sổ số dư
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
Mỗi phơng pháp đều có u, nhợc điểm và phạm vi ứng dụng khác nhau,
song thực chất vẫn là sự phối hợp, ghi hcép theo dõi tình hình xuất kho thành
phẩm hàng ngày hoặc định kỳ giữa thủ kho và kế toán nhằm mục đích theo dõi
chặt chẽ tình hình nhập xuất tồn kho cho từng thành phẩm cả về giá trị và số l-
ợng để cung cấp những thông tin cần thiết một cách kịp thời cho lãnh đạo doanh
nghiệp lập báo cáo chính xác kịp thời, dúng quy định. Do vậy, mỗi doanh
kỳ).
- Theo phơng pháp KKĐK: Là phơng pháp hạch toán mà mỗi nghiệp vụ
nhập kho thành phẩm không đợc ghi ngay vào tài khoán mà đến cuối kỳ
hạch toán mới tiến hàng kiểm kê số thành phẩm tồn kho để tính ra số đã
xuất trong kỳ và ghi sổ một lần.
14
TK155 TK632TK154
TK338
TK911
TK157
TK138
(1)
(4a)
(2)
(3a) (3b)
(4b)
(5)
- Trình tự hạch toán thể hiện qua sơ đồ tài khoản:
(1) Kết chuyển trị giá thực tế thnàh phẩm tồn kho đầu kỳ.
(2) Giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm hoàn thành nhập kho.
(3) Kết chuyển giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm tồn kho cuối kỳ và
của thành phẩm đã gửi đi bán cha xác định tiêu thụ cuối kỳ.
(4) Kết chuyển giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm đã tiêu thụ.
III. Tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả
hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp sản xuất
1. Kế toán doanh thu bán hàng, thuế và các khoản giảm trừ doanh thu
Doanh thu bán hàng là tổng giá trị thực hiện do hoạt động tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá cung cấp lao vụ dịch vụ cho khách hàng.
Doanh thu bán hàng thờng đợc phân biệt riêng cho từng loaị: Doanh htu
bán hàng hoá, doanh thu bán thành phẩm, doanh thu cung cấp dịch vụ. Ngoài ra
lại.
+ Chiết khấu bán hàng: Là số tiền mà doanh nghiệp dành cho khách hàng
trong trờng hợp họ thanh toán nhanh hoặc mua hàng thờng xuyên với số lợng
lớn.
+ Giảm giá hàng bán: Là số tiền mà doanh nghiệp phải giảm cho khách
hàng do không thực hiện đúng các khoản đã ký kết trong hợp đồng về chất lợng
thời hạn.
+ Hàng bán bị trả lại: Là số tiền mà doanh nghiệp phải trả lại cho khách
hàng trong trờng hợp lỗi thuộc về doanh nghiệp nh phạm vi cam kết vi phạm
hợp đồng, hàng sai quy cách.
16
Các khoản doanh thu bán hàng, thuế và các khoản làm giảm doanh thu
bán hàng cần đợc theo dõi, ghi chép đầy đủ làm cơ sở xác định kết quả sản xuất
kinh doanh.
a. Chứng từ và tài khoản kế toán
- Chứng từ:
Các khoản doanh thu bán hàng, thuế và các khoản làm giảm doanh thu
bán hàng đợc phản ánh trong các chứng từ và tài liệu liên quan nh: Hoá đơn bán
hàng, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, chứng từ trả tiền, chứng từ tính thuế, trả
hàng Các chứng từ tài liệu này là căn cứ để xác định và ghi sổ kế toán liên
quan.
- Tài khoản sử dụng:
+ TK 511- Doanh thu bán hàng: Dùng để phản ánh doanh thu bán hàng thực
tế của doanh nghiệp trong kỳ và các khoản làm giảm doanh thu.
+ TK 512- Doanh thu bán hàng nội bộ: Dùng để phản ánh doanh thu của số
thành phẩm, hàng hoá lao vụ dịch vụ đã tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực
thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty hạch toán toàn ngành.
+TK531- Hàng bán bị trả lai: Dùng để phản ánh số doanh thu của sản phẩm
hàng hoá lao vụ dịch vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân lỗi
thuộc về doanh nghiệp nh vi phạm cam kết hợp đồng.
(8)
(6b)
(6c)
(7)
(3)
(9)
(4)
(6a)
(6c) Doanh nghiệp đã nhận đợc vật t hàng hoá.
(7) Doanh thu của số sản phẩm doanh nghiệp dùng để trả lơng cho công nhân
viên.
(8) Số tiền lãi do trả chậm trong trờng hợp doanh nghiệp bán hàng theo phơng
thức trả góp.
(9) Doanh thu bán hàng sau khi đã trừ phần hoa hồng để lại cho đại lý trong tr-
ờng hợp bán hàng theo phơng thức gửi đại lý, ký gửi.
2. Kế toán xác định kết qủa bán hàng
Bất kỳ một chủ doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến những thông tin vầ
kết quả kinh doanh để tiến hành phân tích, đánh giá kết quả hoạt động làm cơ
sở xác định phơng hớng sản xuât kinh doanh đúng đắn và có hiệu quả cao. Do
vậy, các chủ doanh nghiệp thờng đòi hỏi kế toán phải cung cấp những thông tin
và doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của từng loại sản phẩm, từng hoạt
động, từng đơn vị phụ thuộc.
Muốn vậy, khi tổ chức kế toán xác định kết quả bán hàng, kế toán doanh
nghiệp phải tổ chức kế toán chi phí, doanh thu một cách chi tiết theo từng đối t-
ợng cụ thể để tính toán và xác định kết quả kinh doanh theo yêu cầu của chủ
doanh nghiệp và giám đốc điều hành.
a. Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là những chi phí quản
lý chung không đợc tính vào giá thành sản phẩm mà đợc tính vào giá thành sản
phẩm tiêu thụ, tức là phân bổ cho số sản phẩm tiêu thụ trong kỳ.
- Để hạch toán hai khoản chi phí này, kế toán sử dụng hai tài khoản tơng
ứng:
TK 641- chi phí bán hàng.
TK 642- chi phí quản lý doanh nghiệp
20
Hai tài khoản này đợc mở chi tiết theo từng nội dung chi phí, cuối kỳ kế
toán kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp vào bên nợ TK
911 để xác định kết quả kinh doanh.
- Trình tự kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
-
-
-
-
(1) Tiền lơng, các khoản phụ cấp trích BHXH, BHYT, KPCĐ phải trả cho
nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, bảo quản, bốc dỡ, vận chuyển hàng
hoá đi tiêu thụ, nhân viên giới thiệu sản phẩm, sửa chữa và bảo quản sản phẩm
.và cán bộ nhân viên quản lý ở doanh nghiệp.
(2) Trị giá vật liệu xuất dùng phục vụ cho khâu bán hàng và cho công tác
QLDN.
(3) Trị giá công cụ dụng cụ đồ dùng văn phòng tính vào chi phí bán hàng và
chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ.
21
TK334,338 TK641,642
TK152
TK153
TK142
TK214
TK111,111,331
TK333,139,335
TK111,112
dụng để phân bổ có thể là giá vốn hàng bán, doanh thu hàng bán.
Kế toán doanh thu bán hàng, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp và các khoản giảm trừ doanh thu là những yếu tố cơ bản trong quá trình
tiêu thụ. Tuy nhiên không một hoạt động kinh doanh nào mà không cần tính
đến lỗ lãi. Do vậy, quá trình hạch toán tiêu thụ gắn liền với việc xác định kết
quả kinh doanh.
b. Kế toán xác định kết quả hoạt động kinh doanh
Kết quả hoạt động kinh doanh là kết quả cuối cùng của sản xuất kinh
doanh và hoạt động khác của doanh nghiệp sau một thời kỳ nhất định, biểu hiện
bằng số tiền lãi hay lỗ.
22
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động bất
thờng.
Theo quy định của chế độ kế toán hiện hành, nội dung và cách xác định
từng loại kết quả kinh doanh nh sau:
- kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu
thuần và trị giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp.
- Kết quả hoạt động tài chính là số chênh lệch giữa thu nhập hoạt động tài
chính thuần với chi phí hoạt động tài chính.
- Kết quả bất thờng là số chênh lệch bất thờng( đặc biệt) với các khoản chi
phí bất thờng( đặc biệt).
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cần đựoc phân biệt và tổ
chức theo dõi, tính toán phản ánh riêng cho từng loại hoạt động, thậm chí riêng
cho từng loại sản phẩm, từng ngành hàng, từng loại lao vụ dịch vụ.
+ Tài khoản kế toán để xác định kết quả hoạt động kinh doanh:
Để xác định kết quả hoạt động kinh doanh, kế toán sử dụng tài khoản
911- Xác định kết quả hoạt động kinh doanh để phản ánh kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một kỳ hạch toán.
(5) Kết chuyển chi phí về hoạt động tài chính và hoạt động khác.
(6a) Kết chuyển lỗ.
(6b) Kết chuyển lãi.
3. Tổ chức hệ thống sổ kế toán để hạch toán thành phẩm bán hàng và báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Tuỳ theo địa điểm hoạt động kinh doanh yêu cầu và trình độ quản lý của
từng doanh nghịêp mà vận dụng hình thức kế toán cho thật phù hợp, từ đó
doanh nghiệp có thể xây dựng danh mục sổ kế toán tơng ứng để hạch toán các
nghiệp vụ thành phẩm, bán hàng và xác định kết quảôhạt động kinh doanh.
Hiện nay, kế toán đang áp dụng bốn hình thức kế toán sau:
- Hình thức kế toán nhật ký chứng từ.
- Hình thức kế toán nhật ký chung.
- Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ.
24
- Hình thức kế toán nhật ký sổ cái.
Về sổ kế toán tổng hợp: Kế toán xây dựng và sử dụng các sổ kế toán phù
hợp cho từng hình thức.
Về sổ kế toán chi tiết: Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý của từng doanh
nghiệp mà áp dụng sổ tơng ứng.
Về kế toán bán hàng có thể mở sổ chi tiết cho tài khoản 131- Phải thu
của khách hàng, TK 632- Giá vốn hàng bán, TK511- Doanh thu bán hàng, theo
từng đối tợng chi tiết nh: Từng khách hàng, từng loại thành phẩm, từng hoạt
động, từng địa điểm kinh doanh
*) Báo cáo kế toán thành phẩm bán hàng và xác định kết quả hoạt động kinh
doanh:
- Báo cáo về kế toán thành phẩm thuộc về báo cáo quản trị, chủ yếu là
cung cấp thông tin cho quản trị kinh doanh ở đơn vị. Báo cáo này xuất
phát từ yêu cầu quản lý thành phẩm cần biết những thông tin về từng thứ
loại thành phẩm, tình hình nhập- xuất- tồn kho cả về số lợng và số tiền,
cũng nh tổng hợp tình hình thành phẩm toàn doanh nghiệp báo cáo này