Tài liệu Luận văn - Xây dựng chiến lược sản phẩm tại công ty bánh kẹo Hải Hà giai đoạn 2005- 2008 doc - Pdf 10

Luận văn
Xây dựng chiến lược sản phẩm tại
công ty bánh kẹo Hải Hà giai đoạn
2005- 2008
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do
Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan
trọng trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, đối ngoại, an ninh quốc phòng… đặc
biệt là đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết của Nhà nước. Từ chỗ các doanh nghiệp nhà nuớc giữ
vị trí độc tôn trong sản xuất kinh doanh, theo mệnh lệnh hành chính, không
có cạnh tranh và hạch toán kinh tế chỉ là hình thức, sang phát triển mọi loại
hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường các doanh nghiệp phải tự hạch toán, phải tự lo mọi khâu của quá trình
sản xuất kinh danh theo cơ chế thị trường.
Ngày nay môi trường kinh doanh có sự ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động
kinh doanh của công ty, nó luôn thay đổi, phá vỡ sự cứng nhắc của các kế
hoạch sản xuất của doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là phải hoạch định và triển
khai một công cụ kế hoạch hoá hữu hiệu đủ linh hoạt ứng phó với những
thay đổi của môi trường kinh doanh, đó là chiến lược kinh doanh. Đặc biệt
trong xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới thì muốn tồn tại và phát
triển, các doanh nghiệp không những phải đủ sức cạnh tranh trên thị trường
nội địa mà phải có khả năng vươn ra thị trường quốc tế. Vậy làm thế nào để
có ưu thế cạnh tranh hơn đối thủ cạnh tranh và cạnh tranh được với các đối
thủ khi họ có lợi thế cạnh tranh dài hạn mà mình không có? Không chỉ với
các doanh nghiệp Việt Nam mà cả đối với các công ty lớn trên thế giới trong
suốt qúa trình đặt tình huống và tìm giải pháp, có một câu hỏi luôn đặt ra là:
làm sao doanh nghiệp có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa một bên là khả
năng có hạn của mình và đòi hỏi vô hạn của thị trường không chỉ bây giờ mà
cả cho tương lai. Giải quyết được mâu thuẫn ấy là mục tiêu của hoạch định

Công ty Bánh kẹo Hải Hà là một doanh nghiệp nhà nước hạch toán
kinh tế độc lập, tư điều chỉnh về kinh tế, có tư cách pháp nhân đầy đủ, có trụ
sở ổn định, có con dấu riêng, trực thuộc Bộ công nghiệp.
Công ty được chính thức thành lập theo quyết định số 216/CN/CLĐ ngày
24/12/1993 cua Bộ trưởng Bộ công nghiệp nhẹ. Đăng ký kinh doanh số
106286 do trong tài kinhtế thành phố Hà Nội cấp ngày 7/4/1993. Ngày
12/4/1997 Công ty đã được Bộ thương mại cấp giấy phép xuất nhập khẩu
số1011001.
1.1.Tên địa chỉ của Công ty.
Tên Công ty: Công ty bánh kẹo Hải Hà
Tên giao dịch: Hai Ha Confectionery Company
Viết tắt: HAIHACO
Công ty nhà nước
Kinh doanh các sản phẩm về bánh kẹo và thực phẩm
Trụ sở: Số 25 đường Trương Định Hà Nội
1.2. Thời điểm thành lập và các mốc quan trọng trong quá trình phát triển
+ Giai đoạn 1959 đến 1960: Trong công cuộc xây dựng CNXH ở
Miền Bắc và đấu tranh giải phóng Miền Nam, xuất phát từ kế hoạch 3 năm
(1958-1960) của Đảng đề ra phát triển nền kinh tế quốc dân, với nhiệm vụ
chủ yếu là “Cải tạo và phát triển Nông nghiệp đồng thời hướng Công nghiệp
phục vụ Nông nghiệp và thúc đẩy sản xuất hàng tiêu dùng”.
Ngày 1/1/1959 Tổng công ty Nông thổ sản Miền Bắc (trực thuộc Bộ
nội thương) đã quyết định xây dựng một cơ sở thí nghiệm có tên là: “Xưởng
thực nghiệm” sau này chuyển sang Cục thực phẩm-Bộ công nghiệp nhẹ, làm
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhiệm vụ vừa xây dựng vừa thực nghiệm. Từ giữa năm 1959 đến tháng
4/1960 thực hiện chủ trương của tổng công ty Nông thổ sản, anh chị em đã
bắt tay vào việc nghiên cứu thử nghiệm sản xuất mặt hàng Miến (sản phẩm
đầu tay) nguyên liệu sản xuất của Nông nghiệp để cung cấp miến cho nhu
cầu tiêu dùng miến của nhân dân.

phẩm Việt Trì, Nhà máy bột dinh dưỡng trẻ em Nam Định.
+ Tháng 5/1993 Công ty tách một bộ phận sản xuất để thành lập liên
doanh “Hải Hà-Kotobuki” với công ty Kotobuki Nhật Bản, với tỷ lệ góp
vốn:
- Bên Việt Nam: 30% tương đương 12 tỷ đồng
- Bên Nhật Bản: 70% tương đương28 tỷ đồng
+ Năm 1995 công ty liên doanh với hãng Miwon của Hàn Quốc thành lập
liên doanh “Hải Hà-Miwon” tại Việt Trì vốn góp chiếm 16,5% tương đương
1 tỷ đồng.
+ Năm 1996 thành lập liên doanh “Hải Hà-Kamenda” tại Nam Định với
số vốn góp của Công ty là 4,7 tỷ đồng. Tuy nhiên do hoạt động kém hiệu quả
nên vào tháng 12/1998 liên doanh này bị giải thể.
2. Chức năng nhiệm vụ của Công ty bánh kẹo Hải Hà.
Công ty bánh kẹo Hải Hà thuộc Bộ công nghiệp nhẹ được thành lập với
chức năng là sản xuất bánh kẹo phục vụ mọi tầng lớp nhân dân và một phần
để xuất khẩu.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ
công nhân viên của công ty phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tăng cường đầu tư chiều sâu với mục đích không ngừng nâng
cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, đa dạng hoá sản phẩm
nhằm mở rộng thị trường đáp ứng nhu cầu về sản phẩm cho từng khu vực thị
trường.
Thứ hai, xây dựng phát triển chiến lược công nghệ sản xuất bánh kẹo và
một số sản phẩm khác từ năm 2000 đến năm 2010, tăng cường công tác đổi
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mới cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng sức cạnh
tranh.
Thứ ba, xác định rõ thị trường chính, thị trường phụ, tập trung nghiên
cứu thị trường mới, chú trọng hơn nữa đến thị trường xuất khẩu đặc biệt là
thị trường các nước láng giềng, củng cố thị trường Trung Quốc.

tài chính
Phó TGĐ
kinh doanh
XN
kẹo
Che
w
XN
kẹo
mề
m
XN
kẹo
cứn
g
XN
Bán
h
XN
phụ
trợ
XN
thực
phẩ
m
Việt
Trì
NM
Bột
DD

Nẵng
Cửa
hàng
giới
thiệu
sản
Nghiên
cứu thị
trường
tiếp thị
Đội xe Kho
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính sách pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết đại hội công nhân viên chức
đồng thời chịu trách nhiệm trước nhà nước và tập thể người lao động về kết
quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Tổng giám đốc là người đại diện toàn
quyền của Công ty trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổng giám đốc
điều hành trực tiếp các xí nghiệp thành viên, văn phòng, phòng bảo vệ,
phòng KCS, phòng kỹ thuật. Và điều hành gián tiếp phòng Tài vụ và phòng
kinh doanh thông qua hai phó tổng giám đốc. Dưới tổng giám đốc là hai phó
tổng giám đốc phụ trách lĩnh vực chuyên môn. Phó tổng giám đốc tài chính
trực tiếp điều hành phòng tài vụ, chịu trách nhiệm về việc huy động vốn xem
xét việc tính giá thành, lãi, lỗ. Phó Tổng giám đốc kinh doanh trực tiếp điều
hành phòng kinh doanh chịu trách nhiệm về quản lý vật tư và tiêu thụ sản
phẩm cho quá trình sản xuất kinh doanh của công ty.
1.1.1. Hệ thống các phòng ban:
+. Phòng tài vụ có chức năng huy động vốn sản xuất, tính giá thành,
lỗ, lãi, thanh toán trong nội bộ công ty và với bên ngoài.
+. Phòng kinh doanh có chức năng lập kế hoạch sản xuất kinh doanh,
cân đối kế hoạch, điều độ sản xuất và thực hiện kế hoạch cung ứng vật tư, ký
hợp đồng thu mua vật tư thiết bị, theo dõi việc thực hiện hợp đồng, tiêu thụ

thuộc,Tổng giám đốc trực tiếp điều hành hoạt động của các xí nghiệp, đối
với xí nghiệp ở Việt Trì và Nam Định hạch toán độc lập tương đối, cụ thể:
Công ty bán nguyên vật liệu cho các xí nghiệp và mua lại thành phẩm của
các xí nghiệp theo giá ấn định.
Tại các xí nghiệp thành viên đều có các kế toán viên. Hàng quý các kế
toán tại các xí nghiệp tiến hành gửi báo cáo lên để công ty tổng hợp. Hệ
thóng báo cáo nội bộ của công ty bao gồm 2 loại là báo cáo của xí nghiệp
đóng tại trụ sở chính của công ty và báo cáo của các xí nghiệp Việt Trì, Nam
Định. Trên cơ sở báo cáo của các xí nghiệp gửi lên công ty. Trong những
năm qua công ty đã không ngừng phát huy thế mạnh của mình để sản xuất
kinh doanh ngày càng hiệu quả, mặt hàng của công ty được xếp vào dạng đa
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dạng và phong phú so với các công ty bánh kẹo khác trên thị trường. Công ty
rất quan tâm đến chính sách đa dạng hoá sản phẩm, đưa ra thị trươngg nhiều
sản phẩm mới, đây cũng là cách để thích ứng với các yêu cầu của từng vùng
thị trường trong cả nước và thích ứng với mọi tầng lớp người tiêu dùng. Do
đặc đIểm của sản phẩm của công ty sản xuấtt ra được chế biến từ nguyên
vật liệu hữu cơ dễ bị vi sinh vật phá huỷ nên thời gian bảo quản ngắn và yêu
cầu vệ sinh công nghiệp cao. Vì vậy sản xuất phải gắn liền với tiêu dùng nên
công ty đã chú trọng đến việc tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, tạo ra
một mạng lưới tiêu thụ rộng khắp trên cả nước, các hoạt động marketing,
quảng bá sản phẩm cũng được công ty coi trọng. Trong đợt thực tập vừa qua
chủ yếu em quan sát và thu thập số liệu từ phòng kinh doanh của công ty.
2. Đặc điểm về lao động
Trong quá trình phát triển công ty đã không ngừng chú trọng phát
triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng lao động. Số lao động
toàn công ty tính đến cuối năm 2004 là 2055 người và được chia thành 3
loại: Lao động dài hạn, lao động hợp đồng (từ 1 đến 3 năm) và lao động thời
vụ. Vì tính chất sản xuất của công ty mang tính thời vụ nên công ty mở rộng
chính sách lao động hợp lý đó là chế độ tuyển dụng hợp đồng lao động theo

Lao động
dài hạn
94 59 254 81 10 42 363 51 954
Lao động
hợp đồng
90 192 137 95 20 11 24 27 596
Lao động
thời vụ
0 106 24 10 93 1 260 11 505
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổng 184 357 415 186 123 54 647 89 2055
Trong tổng số lao động của toàn công ty thì nữ giới chiếm khoảng
80%. Vì vậy mà công ty rất chú trọng đến các chế độ đãi ngộ và tạo mọi điều
kiện thuận lợi để cho họ yên tâm làm việc. Cụ thể như giải quyết hợp lý các
vấn đề nghỉ thai sản, con ốm, bệnh tật
Qua bảng trên ta thấy:
- Về mặt số lượng: Từ một xí nghiệp chỉ có 9 cán bộ côg nhân viên thì
đến năm 2004Công ty đã có 2055 lao động.
- Về mặt chất lượng: Công ty có 148 người có trình độ đại học chiếm
7,2%, có 318 người có trình độ cao đẳng và trung cấp chiếm 15,5% trong đó
cán bộ quản lý và kỹ thuật có trình độ đại học là70 người chiếm 43,5%, trình
độ trung cấp có 101 người chiếm 62,7%. Điều đó cho thấy nguồn lao động
của Công ty được nâng cao về chất lượng, những người nắm giữ chức vụ chủ
chốt đều có trình độ đại học để phù hợp với sự thay đổi củ cơ chế thị trường
tạo những bước đi vững chắc cho sự phát triển của Công ty.
3. Đặc điểm về sản phẩm
Hiện tại công ty đang cung ứng ra thị trường bánh kẹo khoảng 140 chủng
loại sản phẩm bánh kẹo khác nhau, với những nhãn hiệu, bao bì, đặc tính
riêng:
+ Nếu căn cứ vào đặc tính của sản phẩm có thể chia sản phẩm của công

10 Kẹo cân 6
4. Thị trường
Trong những năm qua nhìn chung sản lượng của công ty được tiêu thụ ở
Miền Bắc.
+ Sản lượng tiêu thụ năm 2003 là 1015 tấn năm 2004 tăng lên 10893 tức
là tăng 739 tấn trong đó thị trường: Hải Dươn + Hưng Yên tăng 210 tấn;
Thái Bình tăng 201 tấn; Tuyên Quang tăng 105 tấn; Ninh Bình tăng 103 tấn;
Sơn La tăng 95 tấ; Hoà Bình tăng 22 tấn; Lai Châu tăng 10 tấn; Hà Nội tằng
95 tấn đây là những thị tường truyền thống của công ty.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
So với thị trường miền Bắc thì thị trường miền Trung và miền Nam còn
khiêm tốn hơn
+ Thị trường miền Trung tổng sản lượng tiêu thụ năm 2003là 2710 tấn,
năm 2004 tăng lên 3350 tấn trong đó Nghệ An tăng 175 tấn; Thanh Hoá tăng
102 tấn; Quảng Ngãi tăng 213 tấn.
Thi trường Miền Nam:Năm 2004 sản lượng tiêu thụ tăng so với 2003 là
140 tấn trong đó: Phú yên tăng 6 tấn; Thành Phố Hô Chí Minh tăng 105 tấn;
Lâm Đồng tăng 12 tấn; Gia Lai tăng 20 tấn. Đâylà thị trường mà công ty cần
phải mở rộngvà chiếm lĩnh, đặc biệt là thị trường vùng sâu, vùng xa.
Sau đây là bảng thống kê sản lượng tiêu thụ sản phẩm của Công ty ở một
số thị trường:
Bảng 3: Tình hình tiêu thụ sản phẩm trên các thị trường
(đơn vị: Tấn)
Năm
Tên thị trường
2001 2002 2003 2004
I. Thị trường Miền
Bắc
Hà Nội
Hải Dương+Hưng Yên

3083
733
810
801
191
8349
5390
250
285
37
112
354
340
294
305
287
87
387
221
3166
845
838
750
314
10154
6875
190
28
320
350

640
50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Quy Nhơn
Khánh Hoà
Đà Nẵng
Quảng Ngãi
III. Miền Nam
TP. Hồ Chí Minh
Phú Yên
Đắc Lắc
Cần Thơ
Lâm Đồng
Gia Lai
IV. Xuất Khẩu
55
131
37
325
495
354
55
29
30
20
7
350
50
125
52

37
42
750
Nguồn số liệu: Phòng kinh doanh
Như vậy đối với thị trường trong nước, công ty cần phát huy hết tiềm
năng để mở rộng và tạo uy tín, vị thế trên thị trường này.
5. Đăc điểm về máy móc thiết bị
- Xí nghiệp bánh có 3 dây chuyền sản xuất bánh kem xốp bánh Biscuit
và bánh Cracker.
- Xí nghiệp kẹo gồm 2 dây chuyền sản xuất kẹo cứng và kẹo mềm.
Năm 2002 Công ty đầu tư thê dây chuyền sản xuất kẹo Chew và kẹo
Caramen của Đức, đây là thiết bị hiện đại nhất cua công ty.Sau đây là một số
thống kê máy móc thiết bị của công ty.
Bảng 4: Thống kê năng lực sản xuất của một số máy móc thiết bị
Stt Tên thiết bị
Công suất
(tấn/năm)
Trình độ sản xuất
1 Dây chuyền sản xuất bánh
Biscuit (Đan Mạch)
1600 Thiết bị mới, cơ giơi, tự
động hoá
2 Dây chuyền sản xuất bánh
Biscuit (Italia)
2300 Thiết bị mới, cơ giơi, tự
động hoá
3 Dây chuyền sản xuất kem xốp 150 Cơ giới và thủ công
4 Dây chuyền sản xuất kẹo cứng 1400 Cơ giới và tự động hoá
5 Dây chuyền sản xuất kẹo mềm
chất lượng cao

14
15
16
17
Máy trộn nguyên liệu, máy quất kẹo, máy cán
Máy cắt, máy sàng, máy nâng khay
Máy sấyWKA4
Nồi hoà đườngCK22
Nồi nấu liên tục sản xuất kẹo cứng
Nồi nấu nhân CK22
Nồi nấu kẹo mềm CK20
Dây chuyền sản xuất kẹo cứng có nhân, đặc
Nồi nấu kẹo chân không
Dây chuyền sản xuất bánh ngọt
Dây chuyền phủ sôcôla
Dây chuyền sản xuất bánh Cracker
Dây chuyền đóng gói bánh
Máy gói kẹo cứng kiểu gập xoắn tai
Dây chuyền sản xuất kẹo Jelly đổ khuôn
Dây chuyền sản xuất kẹo Jelly đổ cốc
Dây chuyền sản xuất kẹo Caramen, kẹo Chew
Trung Quốc
Việt Nam
Ba Lan
Ba Lan
Ba Lan
Ba Lan
Đài Loan
Ba Lan
Đài Loan

Là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ công nghiệp quản lý nên
tài sản của Công ty thuộc sở hữu nhà nước. Công ty được giao vốn và thực
hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 6: Cơ cấu vốn của Công ty
Chỉ tiêu
2002 2003 2004
Tỷ
đồng
Tỷ lệ % Tỷ đồng Tỷ lệ % Tỷ đồng Tỷ lệ%
I.Theo cơ cấu
Vốn lưu động
Vốn cố định
Tổng số
II.Theo nguồnvốn
Chủ sở hữu
Vay ngân hàng
Vay nguồn khác
Tổng số
40,350
70,400
110,750
73,550
33,455
9,185
110,750
36,43
63,57
100
61,50

100
Nguồn số liệu: Phòng kế toán
Bảng cơ cấu vốn cho thấy: So với các doanh nghiệp khách trong ngành
sản xuất bánh kẹo thì quy mô vốn của công ty tương đối lớn nhưng tỷ trong
vố lưu động lại thấp. Năm 2004 vốn lưu động chỉ có 53,135 tỷ đồng chiếm
39,61% trong khi đó vốn có định là 81,147 tỷ đồng chiếm 60,39% trong tổng
số vôn của công ty. Do đó Công ty cũng gặp hiều khó khăn trong việc thực
hiện các chính sách tài chính, giao dịch với các nhà cung ứng và các đại lý
để đáp ứng nhu cầu dự trữ và sản xuất tiêu thu theo mùa vu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN III
THỰC TRẠNG VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY
I. Khái quát chung về chiến lược kinh doanh
Chiến lược là thuật ngữ được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự.
Mãi đến thập niên 50 của thế kỷ 20, trong kinh doanh mới xuất hiện thuật
ngữ này và sau đó nó được sử dụng khá rộng rãi. Ngày nay, trong kinh
doanh chiến lược được gắn với các mục tiêu cụ thể như chiến lược sản phẩm,
chiến lược giá, chiến lược khách hàng… tất cả các chiến lược này gộp chung
thành chiến lược kinh doanh. Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, chiến lược
kinh doanh càng tỏ rõ vai trò và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự thành
bại của doanh nghiệp trên thị trường.
Có vai trò như vậy nhưng chiến lược kinh doanh không được định nghĩa
một cách thống nhất, có rất nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này.
Theo Alfred Chandler: Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ
bản, dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình
hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện mục tiêu đó.
Theo giáo trình Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp của
Bộ môn quản trị kinh doanh trường ĐH KTQD: chiến lược kinh doanh là
một bảng phác thảo tương lai bao gồm các mục tiêu mà doanh nghiệp phải
đạt được cũng như các phương tiện cần thiết để đạt được mục tiêu đó.

doanh nghiệp và thị truờng chưa có mối liên hệ mật thiết.
Trái với hình thức kinh doanh trên, nghĩa là hướng hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp vào thị trường đó là mục tiêu của hoạch định
chiến lược sản phẩm.
Chiến lược sản phẩm là cách thức duy trì hoặc tạo ra một cơ cấu sản
phẩm hợp lý nhằm thoả mãn nhu cầu của thị trường và của khách hàng, phù
hợp với các khả năng và nguồn lực của công ty, chiếm ưu thế hơn các đối
thủ cạnh tranh trong từng thời kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Phân loại chiến lược sản phẩm
Chiến lược sản phẩm có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau:
• Nếu căn cứ vào bản thân sản phẩm, chiến lược sản phẩm được chia thành
5 loại:
- Chiến lược duy trì chủng loại: nội dung cơ bản của chiến lược này là
tiếp tục duy trì cơ cấu mặt hàng đang sản xuất, đảm bảo giữ cho được vị trí
vốn có của sản phẩm trên thị trường bằng việc bảo vệ uy tín mà công ty đã
đạt được. Chiến lược này được áp dụng khi đối thủ cạnh tranh của công ty
khá mạnh và có xu hướng chiếm lĩnh thị phần của sản phẩm hiện có của
công ty.
- Chiến lược hạn chế chủng loại: đây là chiến lược đơn giản hoá cơ cấu
chủng loại, loại trừ một số sản phẩm không hiệu quả, tập trung phát triển
một số ít sản phẩm có triển vọng. Sau một thời gian tung sản phẩm ra thị
trường, các doanh nghiệp tiến hành nghiên cứu, hiệu chỉnh lại các thông số
của sản phẩm theo yêu cầu của thị trường, qua đó doanh nghiệp biết được
sản phẩm nào mà thị trường ưa chuộng và sản phẩm nào không. Từ đó doanh
nghiệp tập trung vào một số loại sản phẩm có ưu thế như: dễ sử dụng, giảm
tiêu hao NVL trong quá trình chế tạo và sử dụng… Việc hạn chế chủng loại
giúp doanh nghiệp chuyên môn hoá sâu vào tập hợp một nhóm nhỏ sản
phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng nhất trên thị trường.
- Chiến lược phát triển chủng loại và đổi mới chủng loại: là chiến lược

thường xuyên hơn; hai là, phát triển thêm khách hàng trong cùng một thị
trường để tăng thêm mức tiêu thụ sản phẩm; ba là kích động khách hàng để
tăng thêm mức tiêu thụ sản phẩm.
- Chiến lược sản phẩm hiện có trên thị trường mới: chiến lược này nhằm
mở rộng thị trường bằng cách đưa sản phẩm hiện có vào thị trường mới để
tăng mức tiêu thụ. Nó được áp dụng khi mà thị trường mới có nhu cầu về sản
phẩm tương tự thị trường hiện tại.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Chiến lược sản phẩm cải biến trên thị trường hiện có: trong chiến lược
này sản phẩm được thay thế một phần hay hoàn toàn trong tập hợp sản phẩm
của công ty với chất lượng tốt hơn, đẹp hơn, rẻ hơn… để bảo vệ thị trường
và tấn công thị phần của đối thủ cạnh tranh trên thị trường hiện tại.
- Chiến lược sản phẩm cải biến trên thị trường mới: chiến lược này dùng
sản phẩm cải tiến để tạo ra thị trường mới. Khi sản pphẩm của công ty chỉ
đáp ứng được một bộ phận khách hàng trong thị trường hiện tại thì doanh
nghiệp nên cải tiến sản phẩm nhằm tạo ra một thị trường mới trong lòng thị
trường hiện tại.
- Chiến lược sản phẩm mới trên thị trường hiện có: chiến lược này áp
dụng khi doanh nghiệp đưa ra một loại sản phẩm chưa có trên thị trường
nhằm mục đích mở rộng thị trường, tạo ra nhu cầu mới.
- Chiến lược sản phẩm mới trên thị trường mới. Khi mà doanh nghiệp
thâm nhập vào một trường hoàn toàn mới thì phải xây dựng một chiến lyực
sản phẩm mới cho phù hợp với thị trường này.
3. Sự cần thiết phải hoạch định chiến lược sản phẩm
Hiện nay trên cả nước có hơn 30 cơ sở sản xuất bánh kẹo lớn và vừa và
hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ. Thị trường bánh kẹo được coi là có tiềm năng
nhưng chưa được khai thác hết. Hàng năm lượng bánh kẹo sản xuất trong
nước khoảng 100.000 tấn, nhập khẩu khoảng 30.000 tấn, doanh thu toàn
ngành trên 1.200 tỷ đồng/ năm, bánh kẹo nội đã chiếm 80% thị phần trong
nước.

tranh trong thời gian tới thì quả là sai lầm. Do vậy, việc đầu tư đổi mới thiết
bị công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm… sẽ
không có trọng tâm để tạo ra lợi thế cạnh tranh dài hạn. Những chính sách
giá cả, chính sách phân phối và các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ khó đạt đựoc
kết quả cao.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Chiến lược sản phẩm được xây dựng dựa trên cơ sở lợi thế so sánh của
công ty, chiến lược sản phẩm tập trung vào các vấn đề chủ yếu như: xác định
lợi thế cạnh tranh dài hạn dựa vào khách hàng, đối thủ và nguồn tài nguyên
của công ty. Xác định sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao, có lợi thế cạnh
tranh ngắn hạn và dài hạn trong nước và quốc tế, để tập trung nguồn lực vào
đầu tư chiều sâu đổi mới thiết bị, nghiên cứu sản phẩm mới đảm bảo có thể
sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá bán thấp và phù hợp với
khách hàng. Đồng thời với việc thực hiện chiến lược sản phẩm công ty có
thể chủ động thích ứng tốt với những biến động của thị trường.
Tóm lại, nếu công ty hoạch định được chiến lược sản phẩm đúng đắn sẽ
là cơ sở đảm bảo sự thống nhất giữa kế hoạch và chính sách kinh doanh,
giữa chiến lược chức năng với chiến lược chung toàn công ty. Chiến lược
sản phẩm cho phép công ty kết hợp các mục tiêu chiến lược với mục tiêu
tình thế, giữa mục tiêu ngắn hạn với mục tiêu dài hạn, đây chính là điểm cốt
lõi trong việc đạt được lợi thế cạnh tranh.
II. Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1. Kết quả sản xuất kinh doanh
Công ty bánh kẹo Hải Hà là một trong những doanh nghiệp lớn trong
ngành sản xuất bánh kẹo ở nước ta, tốc độ tăng sản lượng bình quân vài năm
gần đây đạt khoảng 10%. Năm 2004, doanh thu đạt 193,319 tỷ đồng, nộp
ngân sách nhà nước 23,07 tỷ đồng, nhiều sản phẩm của công ty được tín
nhiệm cao ở thị trường trong nước và một số thị trường nước ngoài. Kết quả
mà công ty đạt được trong những năm gần đây thể hiện qua bảng sau:
Bảng 7: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh từ 2001 đến 2004


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status