Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thập kỉ 90 đi qua đã chứng kiến bao đổi thay của nền kinh tế Việt
Nam. Từ nền kinh tế tập trung bao cấp, các nhà lãnh đạo đã mạnh dạn
trong việc chuyển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu nền kinh
tế theo chiều hướng “mở cửa và hội nhập” đã thực sự thổi một luồng sinh
khí mới cho nền kinh tế Việt Nam.
Do yêu cầu khách quan của nền kinh tế, hoạt động kiểm tốn Việt
Nam ra đời và đang có những bước tiến đáng kể cũng như không ngừng
nỗ lực để theo kịp với hoạt động kiểm tốn quốc tế. Với việc ra đời của
chuẩn mực kiểm tốn Việt Nam (VSA) và sự khuyến khích của chính phủ
đối với hoạt động kiểm tốn, hoạt động kiểm tốn Việt Nam đã có những
thuận lợi đáng kể.
Là đại diện của Ernst & Young tồn cầu – một trong bốn công ty
kiểm tốn hàng đầu thế giới, công ty kiểm tốn Ernst & Young Việt Nam đã
trải qua chặng đường 16 năm phát triển. Với cơ sở vật chất kĩ thuật hiện
đại, đội ngũ nhân lực trình độ cao, trẻ và nhiệt tình, kĩ thuật kiểm tốn hiện
đại, công ty Ernst & Young Việt Nam đã khẳng định được vị thế của mình
trong thị trường kiểm tốn cạnh tranh khốc liệt.
Trong các kĩ thuật kiểm tốn, kĩ thuật phân tích có thể được xem là
một kĩ thuật kiểm tốn có nhiều ưu điểm và hiệu quả, đóng vai trò quan
trọng trong việc nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm tốn. Vì thế, vấn đề
nghiên cứu và vận dụng phù hợp thủ tục phân tích nhằm nâng cao hiệu
quả là hết sức cần thiết để nâng cao sự cạnh tranh trên thị trường kiểm tốn
Việt Nam và xa hơn là đưa ngành kiểm tốn Việt Nam theo kịp trình độ
hoạt động kiểm tốn của khu vực và thế giới.
Qua thời gian thực tập tại công ty kiểm tốn Ernst & Young Việt
Nam, tìm hiểu quy trình và kĩ thuật kiểm tốn tại công ty, nhận thấy tầm
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
đặc trưng của kiểm tốn.
Tuy nhiên, kiểm tốn tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm
tốn do loại hình kiểm tốn này chứa đựng đầy đủ các sắc thái của kiểm tốn
ngay từ khi nó ra đời và xuyên suốt quá trình phát triển.
Mục tiêu của kiểm tốn tài chính là xác định các bảng khai tài chính
được trình bày một cách hợp lý theo các tiêu chuẩn được cụ thể hóa.
Như vậy, có thể thấy về chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm
tốn tài chính hướng tới công khai tài chính giữa các bên có lợi ích khác
nhau (chẳng hạn, một bên là các nhà đầu tư, nhân viên, cổ đông… với
một bên là các nhà quản lý của doanh nghiệp). Trên cơ sở đó, kiểm tốn
viên thu thập các bằng chứng kiểm tốn một cách đầy đủ và tin cậy như
quá trình thực hiện chức năng chung của kiểm tốn.
Về đối tượng kiểm tốn, kiểm tốn báo cáo tài chính hướng trực tiếp
vào các bảng khai tài chính. Bộ phận quan trọng trong các bảng khai tài
chính này là các báo cáo tài chính. Theo chuẩn mực 200 trong hệ thống
chuẩn mực kiểm tốn Việt Nam: “Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo
được lập theo chuẩn mực và chế độ kế tốn hiện hành (hoặc được chấp
nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị”.
Thông thường doanh nghiệp phải công bố bốn loại báo cáo tài chính:
Bảng cân đối kế tốn, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
3
Luận văn tốt nghiệp
tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính. Ngồi ra, bảng khai tài chính còn
bao gồm cả những bảng kê khai có tính pháp lý như các bảng dự tốn và
quyết tốn ngân sách nhà nước, các bảng dự tốn và quyết tốn các công
trình xây dựng cơ bản, các bảng kê khai tài sản cá nhân, các bảng khai
theo yêu cầu riêng của nhà đầu tư.
Về phương pháp kiểm tốn, kiểm tốn tài chính vận dụng tổng hợp
• Kiểm tốn các cân đối kế tốn: phương pháp dựa trên các
phương trình kế tốn và các cân đối khác để kiểm tốn các
quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành các quan hệ cân đối
đó.
• Đối chiếu trực tiếp: đối chiếu một chỉ tiêu trên các nguồn
tài liệu khác nhau.
• Đối chiếu logic: nghiên cứu các mối liên hệ giữa các chỉ tiêu
có quan hệ với nhau.
Các phương pháp kiểm tốn ngồi chứng từ bao gồm:
• Kiểm kê: kiểm tra tại chỗ các đối tượng kiểm tốn.
• Điều tra: dùng các cách khác nhau để tiếp cận và đánh giá đối
tượng kiểm tốn.
• Trắc nghiệm: tái diễn các hoạt động, nghiệp vụ để xác minh lại kết
quả của một quá trình, một sự việc đã qua.
Do mỗi loại kiểm tốn có chức năng cụ thể, đối tượng cụ thể và
khách thể kiểm tốn khác nhau nên trong kiểm tốn tài chính, cách thức
kết hợp các phương pháp cơ bản trên có những nét đặc thù.
Trước hết, xét về mặt thực hiện chức năng chung của kiểm tốn,
kiểm tốn tài chính hướng tới việc bày tỏ ý kiến trên cơ sở các bằng
chứng kiểm tốn. Để có được những bằng chứng này, kiểm tốn tài chính
triển khai các phương pháp cơ bản trên theo từng tình huống cụ thể.
Trong chuẩn mực kiểm tốn quốc tế 8500 và chuẩn mực kiểm tốn Việt
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
5
Luận văn tốt nghiệp
Nam số 500, những cách thức cụ thể này được gọi là phương pháp thu
thập bằng chứng kiểm tốn. Có thể triển khai các phương pháp kiểm tốn
cơ bản theo hướng kết hợp hoặc chi tiết thành các cách kiểm tốn cụ thể
tùy từng tình huống cụ thể trong suốt quá trình kiểm tốn. Theo hướng
46B
6
Luận văn tốt nghiệp
bản phụ
hợp kế
tốn
Trình
tự kế
tốn
1 2 3 4
Trình tự kiểm tốn
4
3 2 1
Trong thực tế, trình tự kiểm tốn rất đa dạng cho từng loại khách thể
và từng loại đối tượng kiểm tốn. Tuy nhiên, nguyên tắc chung của mọi
cuộc kiểm tốn tài chính là phải thẩm tra lại thông tin biểu hiện bằng tiền
phản ánh trên các bảng tổng hợp bằng việc kết hợp các phương pháp
kiểm tốn chứng từ và ngồi chứng từ. Cách thức xác định trong việc kết
hợp như trên trong kiểm tốn tài chính gọi là thử nghiệm.
Có hai loại thử nghiệm trong kiểm tốn tài chính:
- Thử nghiệm kiểm sốt
- Thử nghiệm cơ bản
Thử nghiệm kiểm sốt
Thử nghiệm kiểm sốt bao gồm các thủ tục hướng tới việc đánh giá
hiệu quả của việc thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm sốt nội bộ tại
doanh nghiệp khách hàng. Khi thử nghiệm kiểm sốt hướng tới vấn đề
thiết kế, kiểm tốn viên đánh giá các thủ tục kiểm sốt nội bộ đã được thiết
kế hợp lý để ngăn ngừa hoặc phát hiện những sai phạm trọng yếu chưa.
Hướng tới vấn đề đánh giá hiệu quả thực hiện các thủ tục kiểm sốt nội bộ,
kiểm tốn viên quan tâm xem trong thực tế các thủ tục kiểm sốt đang hoạt
Thử nghiệm cơ bản số dư tài khoản: các thử nghiệm này tập
trung vào chi tiết các khoản mục tiền cấu thành nên số dư cuối kì của một
tài khoản. Những thử nghiệm quan trọng này xác định liệu có sai phạm
trọng yếu nào trong các tài khoản trình bày trên các báo cáo tài chính.
1.1.3. Vị trí kiểm tốn khoản mục doanh thu trong kiểm tốn tài chính
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
8
Luận văn tốt nghiệp
Doanh thu là một loại chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh –
một bộ phận rất quan trọng hợp thành báo cáo tài chính của doanh
nghiệp.
Các tài khoản doanh thu nói chung thuộc loại tài khoản quan trọng
vì:
• Tần số các nghiệp vụ chạy qua tài khoản này cao, điều này
có thể làm cho các tài khoản doanh thu chứa đựng rủi ro cao
hơn.
• Tổng doanh thu của một doanh nghiệp nói chung trọng yếu
với các báo cáo tài chính của doanh nghiệp (nghĩa là, doanh
thu có thể cao hơn tổng sai sót các tài khoản chủ yếu –
tolerable error).
Ngồi ra, các chỉ tiêu về doanh thu, thu nhập có quan hệ rất chặt chẽ
với các chỉ tiêu phản ảnh trên bảng cân đối kế tốn. Cụ thể, các chỉ tiêu
doanh thu, thu nhập có liên hệ chặt chẽ với các chỉ tiêu tiền mặt, tiền gửi
ngân hàng, các khoản phải thu, thuế và các khoản phải nộp nhà nước…
Thông qua việc kiểm tra các tài khoản này, kiểm tốn viên có thể phát hiện
ra các sai phạm về các chỉ tiêu phản ánh trên bảng cân đối kế tốn, và
ngược lại.
Việc quản lý doanh thu có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của
một doanh nghiệp. Thêm vào đó, các sai phạm trọng yếu do báo cáo tài
chính hợp nhất, báo cáo tài chính của đơn vị thành viên (chi
nhánh, bộ phận,…) và các khoản mục riêng lẻ của thông tin tài
chính. Sự lựa chọn của kiểm tốn viên về thủ tục phân tích,
phương pháp và mức độ áp dụng tùy thuộc vào phán xét nghề
nghiệp.
Thủ tục phân tích được sử dụng nhằm các mục đích sau:
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
10
Luận văn tốt nghiệp
- Hỗ trợ kiểm tốn viên trong việc xác lập tính chất, thời gian, quy
mô của các thủ tục kiểm tốn khác.
- Là thử nghiệm cơ bản khi việc sử dụng các thủ tục phân tích
này hiệu quả hơn thủ tục chi tiết trong việc giảm rủi ro phát
hiện.
- Rà sốt lại tồn bộ các báo cáo tài chính trong giai đoạn sốt xét
cuối cùng của cuộc kiểm tốn.
1.2.2. Nội dung và các loại hình thủ tục phân tích
a) Nội dung của thủ tục phân tích
Một thủ tục phân tích gồm 3 yếu tố: Dự đốn, So sánh, và Đánh giá.
•Dự đốn : bao gồm các bước sau:
- Đưa ra mô hình để dự đốn:
Xác định những biến tài chính và những biến hoạt động có liên quan cũng
như quan hệ giữa hai loại biến này. Việc xác định được mối quan hệ giữa
các biến tài chính và các biến hoạt động có liên quan là rất quan trọng
trong việc xây dựng một mô hình để dự đốn.
Trong một vài trường hợp, việc xác định mối quan hệ giữa các dữ
liệu không phải đơn giản. Nó đòi hỏi một sự sáng tạo, chọn lựa và xây
dựng các giả định của người phân tích.
- Xây dựng một mô hình để kết hợp những thông tin:
- Trình bày với khách hàng về các chênh lệch và yêu cầu giải
thích.
Qua trình bày với khách hàng về những chênh lệch, khách hàng có thể có
nhiều giải thích mà kiểm tốn viên phải thận trọng trước những lời giải
thích này và tìm ra lời giải thích phù hợp nhất. Để xác định được lời giải
thích phù hợp, kiểm tốn viên cần chứng thực những lời giải thích. Việc
này có thể thực hiện bằng cách phỏng vấn với nhiều hơn một nhân viên
và xem xét đến tính nhất quán của chúng hoặc cũng có thể bằng những
bằng chứng khác mà khách hàng cung cấp như các hợp đồng, biên bản
họp với các bên hữu quan…
• Đánh giá :
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
12
Luận văn tốt nghiệp
Bước này đòi hỏi sự linh hoạt của kiểm tốn viên. Đánh giá ở đây
không chỉ đơn thuần dựa trên những so sánh tốn học mà dựa trên những
xét đốn nghề nghiệp của kiểm tốn viên.
Với những giải thích được chấp nhận (nếu có) cho những chênh
lệch (nếu có) mà kết quả cúa sự so sánh:
- Vẫn có những bất hợp lý (những chênh lệch đáng kể), nghĩa là
kiểm tốn viên đã không thu thập được một bằng chứng kiểm tốn
và kiểm tốn viên nên cân nhắc xem liệu có nên tiến hành những
thủ tục thay thế. Trong một vài trường hợp, kiểm tốn viên nên
xem xét khả năng có cần thiết xây dựng lại mô hình dự đốn và
giảm chênh lệch. Nếu vẫn không thể giải thích được những
chênh lệch này, kiểm tốn viên sẽ đưa chênh lệch này vào Bảng
tóm tắt những chênh lệch chưa điều chỉnh.
- Đã ở mức độ hợp lý: tùy mức độ trọng yếu của khoản mục để
quyết định xem có nên:
kiểm tốn viên áp dụng để dự đốn cho hiện tại. Kĩ thuật này áp
dụng cho trường hợp không có những tác động đáng kể với đối
tượng phân tích.
- Các tính tốn phức tạp: được sử dụng trong trường hợp xu hướng
biến động phức tạp. Việc đưa ra các phép tính phức tạp nhằm
loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố phụ.
• Phân tích tỷ suất
Là sự so sánh giữa các thương số cũng được tính ra trên cơ sở của
2 chỉ tiêu có liên quan. Khái niệm “tỷ suất” ở đây được hiểu theo nghĩa
rộng, bao gồm cả tỷ lệ %, hệ số (số lần), mức bình quân của một loại
nghiệp vụ so với một số dư xác định. Cụ thể, trong kiểm tốn, tỷ suất
thường được sử dụng trong những trường hợp sau đây:
- Tỷ suất giữa loại nghiệp vụ với số dư một tài khoản. Chẳng hạn,
tỷ suất giữa chi phí khấu hao với tổng tài sản được tính khấu
hao (mức khấu hao bình quân).
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
14
Luận văn tốt nghiệp
- Tỷ suất giữa loại nghiệp vụ này với loại nghiệp vụ khác có liên
quan. Chẳng hạn, tỷ suất giữa lợi nhuận (hoặc chiết khấu bán
hàng) với doanh thu.
- Tỷ suất giữa số dư một tài khoản với số dư tài khoản khác có
liên quan. Chẳng hạn, tỷ suất giữa dự phòng lỗi thời hàng tồn
kho với tổng giá trị hàng tồn kho.
- Tỷ suất giữa chỉ tiêu tài chính với các chỉ tiêu có liên quan khác
về hoạt động. Chẳng hạn, tỷ suất giữa tổng hàng hóa bán ra với
diện tích bán hàng.
• Phân tích tính hợp lý (phân tích dự báo)
Là phân tích tổng quát trên cơ sở so sánh giá trị sổ sách với giá trị
Lập tài liệu cho những khoản mục vừa phân tích.
a) Xác định số dư tài khoản và sai sót tiềm tàng cần kiểm tra
Đây là mục tiêu của thủ tục phân tích, cũng là cơ sở để lựa chọn
một thủ tục phân tích phù hợp.
Để xác định số dư các tài khoản cũng như những sai sót tiềm tàng
cần kiểm tra, kiểm tốn viên cần có những xét đốn riêng mang tính nghề
nghiệp để việc thực hiện thủ tục phân tích đạt kết quả như mong muốn.
b) Xây dựng số ước tính với các tài khoản đó
Để xây dựng số ước tính, kiểm tốn viên cần thu thập các thông tin
có liên quan. Nguồn thông tin này có thể do khách hàng cung cấp hoặc
nguồn độc lập kiểm tốn viên tự thu thập được.
Ngồi ra, kiểm tốn viên cần quan tâm: mối quan hệ giữa các tài
khoản, số liệu các năm trước, số liệu dự tốn (kế hoạch), các thông tin phi
tài chính có liên quan đến tài khoản kiểm tra để qua đó xây dựng mô
hình phục vụ cho việc ước tính. Việc kết hợp các thông tin một cách phù
hợp theo phương pháp phân tích đã lựa chọn sẽ xây dựng được một số
liệu ước tính với tài khoản đó. Mức độ chính xác của số liệu ước tính vì
thế phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Mô hình dự đốn.
- Độ tin cậy của thông tin thu thập được.
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
16
Luận văn tốt nghiệp
c) Xác định mức sai sót cho phép
Việc xác định mức sai sót cho phép chủ yếu dựa vào xét đốn nghề
nghiệp của kiểm tốn viên. Trong vài trường hợp, việc xác định mức độ
sai sót cho phép dựa vào định lượng dễ dàng hơn. Tuy nhiên, đối với
một vài khoản mục trọng yếu mang tính định tính thì việc xác định một
mức độ sai sót cho phép hồn tồn không dễ dàng và không có cơ sở rõ
các chênh lệch đã hợp lý chưa.
f) Đánh giá kết quả kiểm tra
Đánh giá về mức độ đảm bảo hợp lý đã đạt được: Việc đi tìm lời giải
thích hợp lý cho sự chênh lệch không phải lúc nào cũng mang lại kết quả
là sự chênh lệch đã được điều chỉnh lại và phù hợp với mức sai sót cho
phép. Đối với những tài khoản sau khi thu thập được thông tin cho thấy
tài khoản có số dư hợp lý thì xem như kiểm tốn viên đã có được bằng
chứng thích hợp và thủ tục phân tích đã mục tiêu của nó.
Xem xét và đánh giá các chênh lệch không giải thích được: Khi không xác
định được nguyên nhân gây ra chênh lệch (không tìm được lời giải thích
phù hợp cho sự chênh lệch) hoặc mức chênh lệch sau khi điều chỉnh vẫn
lớn hơn mức sai sót cho phép, kiểm tốn viên đã không thu thập được bằng
chứng kiểm tốn theo dự tính và sẽ phải cân nhắc liệu có nên tiến hành
một thủ tục khác thay thế hay không. Kiểm tốn viên nghi ngờ về khả
năng xảy ra sai sót, gian lận ở khoản mục này và tập trung thực hiện các
thủ tục kiểm tra chi tiết.
g) Lập tài liệu cho những khoản mục vừa phân tích
Việc lập tài liệu cho những khoản mực đã được phân tích là việc trình
bày lại một cách hệ thống các công việc đã được thực hiện bởi kiểm tốn
viên phụ trách trong hồ sơ kiểm tốn, tạo thuận lợi cho công tác sốt xét của
các kiểm tốn viên cấp cao.
Giấy tờ làm việc cho thấy các công việc đã được thực hiện, người
thực hiện, thời gian và kết luận. Ngồi ra, đối với một thủ tục phân tích thì
thời gian làm việc cần có thêm các nội dung:
- Các mô tả về những giả định để đưa ra dự đốn.
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
18
Luận văn tốt nghiệp
- Các số liệu mốc được sử dụng cho dự đốn đã được thu thập và
Trong giai đoạn kết thúc kiểm tốn, dựa vào các thủ tục phân tích
đã được thực hiện, kiểm tốn viên đưa ra kết luận cuối cùng về tính hợp lý
của tồn bộ các vấn đề liên quan tới doanh thu đã được đặt ra trong giai
đoạn lập kế hoạch.
1.3.2. Đặc điểm khoản mục doanh thu ảnh hưởng tới thủ tục phân tích
Khoản mục doanh thu ảnh hưởng tới hai tài khoản chính: tài khoản
doanh thu hàng bán và cung cấp dịch vụ và tài khoản phải thu khách
hàng. Kiểm tốn viên được yêu cầu kiểm tra và đưa ra ý kiến theo hướng
số dư của các tài khoản này có sai sót trọng yếu hay không. Nói chung,
đối với cả hai loại tài khoản tạo ra doanh thu trên, kiểm tốn viên cần loại
bỏ những sai sót tiềm tàng sau:
• Tính đầy đủ: các nghiệp vụ tạo ra doanh thu không đuợc ghi nhận
đầy đủ (Cơ sở dẫn liệu: Quyền và nghĩa vụ)
• Tính hiệu lực: các nghiệp vụ xảy ra không có thực (Cơ sở dẫn liệu
Tồn tại/Hiện hữu)
• Ghi chép: các nghiệp vụ bị ghi chép nhầm về mặt số học (Cơ sở
dẫn liệu Đo lường)
• Tính đúng kì: các nghiệp vụ được hạch tốn không đúng kì (Cơ sở
dẫn liệu Hiện hữu)
• Tính giá: áp dụng sai phương pháp định giá tài sản hoặc nguồn
vốn (Cơ sở dẫn liệu Định giá).
• Trình bày: số dư các tài khoản được trình bày không đúng cách (Cơ
sở dẫn liệu Trình bày).
Có thể tóm tắt một vài sai sót tiềm tàng cụ thể (liên quan đến tài khoản
doanh thu và tài khoản phải thu) có thể được loại bỏ bởi thủ tục phân tích
Các sai sót tiềm tàng có thể làm giảm
doanh thu
Thủ tục phân tích cơ bản có thể
được sử dụng để loại bỏ rủi ro
Doanh thu (hàng tồn kho hoặc dịch vụ)
giao hoặc dịch vụ được cung cấp trong
kì tiếp theo nhưng doanh thu lại được
ghi nhận vào kì này
Có
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
21
Luận văn tốt nghiệp
1.3.3. Quy trình vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm tốn khoản mục
doanh thu
Đối với doanh nghiệp thương mại và sản xuất, doanh thu chủ yếu
là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Trong khi đối với ngân hàng
và các định chế tài chính, doanh thu hoạt động tài chính mới là doanh thu
chiếm tỷ trọng lớn
Thông thường, việc thực hiện thủ tục phân tích trong kiểm tốn
khoản mục doanh thu trải qua những bước sau:
a) Phát triển một mô hình: kết hợp các biến tài chính và các biến hoạt
động
Khi phát triển mô hình doanh thu, chúng ta xác định các biến tài
chính hoặc hoạt động và mối quan hệ giữa chúng.
b) Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ
Tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ trong mô
hình càng cao thì tính chính xác của dự đốn càng lớn.
Để đánh giá tính tin cậy của dữ liệu cần xem xét trên nhiều mặt như:
- Nguồn của dữ liệu: dữ liệu có nguồn độc lập từ bên ngồi có độ
tin cậy cao hơn nguồn từ bên trong. Với nguồn dữ liệu từ bên
trong, độ tin cậy sẽ cao hơn nếu chúng độc lập với người chịu
trách nhiệm cho giá trị được kiểm tốn.
- Tính kế thừa và phát triển của thủ tục kiểm tốn dữ liệu từ những
năm trước.
và những vấn đề khác. Do vậy, mọi chênh lệch được phát hiện trong kiểm
tốn cần được điều tra về tính chất và nguyên nhân cả về cơ sở dẫn liệu,
mục tiêu kiểm tốn và tình hình kinh doanh của khách hàng.
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
23
Luận văn tốt nghiệp
Chương 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG THỦ TỤC PHÂN
TÍCH VỚI KIỂM TỐN KHOẢN MỤC DOANH THU
TRONG KIỂM TỐN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG
TY TNHH ERNST & YOUNG VIỆT NAM THỰC HIỆN
2.1. Tổng quan về công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH Ernst &
Young Việt Nam
2.1.1.1. Khái quát về Ernst & Young tồn cầu
Ernst & Young tồn cầu là một trong những hãng cung cấp dịch vụ
chuyên nghiệp lớn nhất trên thế giới, và là một trong bốn công ty kiểm
tốn lớn nhất, cùng với PricewaterhouseCoopers (PwC), Deloitte Touche
Tohmatsu (Deloitte) và KPMG, tạo thành Big 4.
Các công ty thành viên của Ernst & Young tồn cầu thuộc một trong
bảy khu vực sau:
- Châu Mỹ
- Bắc Âu, Trung Đông, Ấn Độ và Châu Phi.
- Trung và Đông Âu.
- Lục địa Tây Âu
- Viến Đông
- Châu Đại Dương
- Nhật.
Mỗi vùng nằm dưới sự quản lí của một nhóm quản lí, do Partner vùng
lãnh đạo. Tất cả các công ty thành viên đều hoạt động theo mô hình thống
trong lĩnh vực kế tốn, kiểm tốn và tư vấn tài chính đầu tiên tại Việt Nam
theo giấy phép đầu tư Số 448/GP ngày 3 tháng 11 năm 1992 và giấy phép
đầu tư điều chỉnh số 448/GPĐC1 ngày 23 tháng 1 năm 2002 do Uỷ Ban
nhà nước về hợp tác đầu tư, nay là Bộ kế hoạch và đầu tư cấp. Số vốn đầu
tư ban đầu là 1 tỷ USD.
Công ty có:
Trụ sở chính đặt tại: lầu 8, trung tâm Sài Gòn Riverside office – 2A Tôn
Đức Thắng - quận 1 - TP.Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Phương Hoa Lớp Kiểm toán
46B
25