Trong bối cảnh trong nước và quốc tế mới, Đại hội IX đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển vừa nhanh, vừa bền
vững; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ nhưng chủ động hội nhập quốc tế; đề cao vai trò của giáo dục
đào tạo và khoa học công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đẩy nhanh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn là nhiệm vụ lớn và cấp thiết của quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn - thành tựu và giải pháp
Thực hiện Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần
thứ 5 đã ban hành Nghị quyết 15-NQ/T.Ư này 18-3-2002 về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 với những nội dung chủ yếu sau đây:
Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với công
nghiệp chế biến và thị trường; đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông
nghiệp; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa và ứng dụng các thành tựu mới về khoa học, công
nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả, sức
cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa nông nghiệp Việt Nam.
Tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất
phù hợp; quy hoạch phát triển đồng bộ và đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn;
ưu tiên giải quyết việc làm chuyển dần lao động nông nghiệp sang làm công nghiệp và dịch vụ; phát triển
toàn diện đời sống văn hóa tinh thần và xây dựng nông thôn mới văn minh, dân chủ, đoàn kết, lành mạnh
và hiện đại.
Những thành tựu đã đạt được
1 - Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có bước chuyển dịch tích cực theo hướng đẩy mạnh sản
xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu thị trường và có giá trị kinh tế cao. Tiếp tục bảo đảm tốt an
ninh lương thực quốc gia, tuy diện tích trồng lúa giảm (khoảng hơn 300 nghìn ha), để chuyển sang nuôi
trồng thủy sản và các cây trồng khác có giá trị cao hơn, nhưng sản lượng lương thực vẫn tăng từ 34,5 triệu
tấn (năm 2000) lên 39,12 triệu tấn (năm 2004), trong đó, sản lượng lúa tăng từ 32,5 lên 35,8 triệu tấn, bình
quân mỗi năm lương thực tăng hơn một triệu tấn, vượt mục tiêu do Ðại hội lần thứ IX của Ðảng đề ra trước
ba năm. Hằng năm vẫn xuất khẩu khoảng 3,5-4 triệu tấn gạo.
Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng
nông nghiệp. Năm 2004 trong tổng GDP của cả nước, tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản đã giảm từ
24,53% xuống 21,76%; lao động nông nghiệp giảm từ 59,04% xuống 57,9%, lao động công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp chiếm khoảng 17%, dịch vụ chiếm 25,1%. Năm 2003, hộ thuần nông đã giảm còn 68,8%,
hộ kiêm nghề tăng lên, chiếm 12,7% và phi nông nghiệp 18,4%. Nguồn thu của hộ nông dân từ nông, lâm,
ngư nghiệp chiếm 77,5%; công nghiệp, xây dựng và dịch vụ nông thôn đã dần tăng lên, chiếm 22,5% tổng
thu.
2 - Trình độ khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản từng bước được nâng cao theo
hướng sử dụng giống mới, công nghệ sinh học, phương thức canh tác tiên tiến để nâng cao năng suất chất
lượng nông sản, thủy sản. Chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi bước đầu đã đạt kết quả quan trọng
vào việc nâng cao năng suất chất lượng nông sản, thủy sản. Ðến nay, có hơn 90% diện tích lúa, 80% diện
tích ngô, 60% diện tích mía, 100% diện tích điều trồng mới được sử dụng giống mới. Công nghệ sử dụng
mô hom được đưa nhanh vào sản xuất giống cây rừng, nên năng suất chất lượng rừng được cải thiện.
Ngành thủy sản đã sản xuất và đưa vào sản xuất một số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao. Nhiều khâu
trong sản xuất nông nghiệp được cơ giới hóa như: tưới nước, tuốt lúa, xay xát đạt hơn 80%, vận chuyển
làm đất đạt hơn 60%. Trong ngành thủy sản, tổng công suất tàu thuyền đánh bắt đạt hơn 4 triệu sức ngựa,
một số cơ sở nuôi trồng thủy sản được trang bị các máy móc, thiết bị bảo đảm cho công nghệ nuôi trồng
tiên tiến.
3 - Quan hệ sản xuất được xây dựng ngày càng phù hợp. Năm năm qua đã xuất hiện ngày càng nhiều hộ
sản xuất hàng hóa quy mô lớn và bước đầu khắc phục được một số yếu kém của khu vực kinh tế tập thể,
hợp tác xã. Cả nước hiện có 72 nghìn trang trại, tăng bình quân 10%/năm, kinh tế trang trại đã góp phần
đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Thành lập mới được 524 hợp tác xã nông nghiệp, chủ
yếu hoạt động theo hướng dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm, hiện có hơn 10 nghìn hợp tác xã ở nông thôn (9.255
HTX nông nghiệp, hơn 500 HTX thủy sản, 800 quỹ tín dụng nhân dân ) và hàng trăm nghìn tổ kinh tế hợp
tác, so với năm 2000, số hợp tác xã hoạt động có lãi tăng từ 32% lên 35%, số HTX yếu kém giảm từ 22%
xuống còn khoảng 10%.
1 - Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn ở nhiều nơi chuyển dịch chậm, chăn nuôi, công
nghiệp, ngành nghề dịch vụ nông thôn phát triển còn chậm và chưa tương xứng với tiềm năng. Kinh tế
nông thôn vẫn nặng về nông nghiệp (chiếm 65%), trong nông nghiệp nặng về trồng trọt (chiếm 78%) cây
lúa vẫn đóng vai trò chủ yếu trong cơ cấu cây trồng; tỷ trọng giá trị chăn nuôi chỉ chiếm 23%; giá trị thu
được trên 1 ha đất nông nghiệp còn thấp so với tiềm năng và so với nhiều nước trong khu vực. Việc chuyển
dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, nên kém hiệu quả và
chưa bền vững. Chất lượng quy hoạch nhiều nơi còn thấp, chưa đồng bộ, chưa phù hợp với yêu cầu thị
trường và tiến bộ khoa học, công nghệ; quản lý, thực hiện quy hoạch còn nhiều bất cập. Cơ cấu lao động
nông thôn chuyển dịch chậm, cơ bản vẫn là thuần nông (năm 2004 lao động nông nghiệp: 58,7%, năm 2001
là: 63,5%). Mục tiêu giảm lao động nông nghiệp còn 50% vào năm 2010 vẫn là một thách thức lớn.
2 - Năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của một số nông sản phẩm còn thấp. Việc nghiên cứu và
chuyển giao khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp còn chậm. Trong một số cây trồng, vật nuôi
chưa có đột phá công nghệ để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Năng suất, chất lượng một số nông
sản còn thấp, khả năng cạnh tranh kém như: chè, mía, đường, rau quả, sản phẩm chăn nuôi. Hệ thống
nghiên cứu khoa học nông nghiệp chậm được sắp xếp lại; chưa có cơ chế gắn kết nghiên cứu khoa học với
chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất, gắn kết giữa nhà khoa học với doanh nghiệp và nông dân. Chậm hình
thành hệ thống kiểm soát chất lượng nông sản và vật tư nông nghiệp. Tình trạng dư lượng hóa chất thuốc
bảo vệ thực vật, thuốc kháng sinh trong nông sản, thủy sản đang là vấn đề lớn phải có biện pháp khẩn
trương khắc phục. Cơ sở công nghiệp chế biến còn nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về công nghệ (vẫn còn
52,8% số doanh nghiệp có công nghệ lạc hậu), đơn điệu về sản phẩm, chủ yếu là sơ chế, giá trị gia tăng
thấp và chưa gắn kết chặt chẽ với vùng nguyên liệu.
3 - Việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp và phát triển các thành phần kinh tế còn chậm. Hiệu quả hoạt động
doanh nghiệp nhà nước còn thấp. Việc sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh còn chậm. Kinh
tế tập thể, mà chủ yếu là các hợp tác xã chưa có chuyển biến rõ nét, chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém.
Doanh nghiệp tư nhân là nhân tố quan trọng trong phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
ở nông thôn, nhưng quy mô nhỏ bé, chủ yếu là dịch vụ (chỉ có 5% liên quan đến sản xuất) và chỉ phát triển
mạnh ở ven đô thị, hoặc nơi có kết cấu hạ tầng tương đối phát triển.
Ðể thực hiện thắng lợi mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển, đạt được bước chuyển biến quan trọng về phát triển bền vững. Cải thiện rõ rệt đời sống vật
chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân. Tạo nền tảng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát
triển kinh tế tri thức. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường
quốc tế.
Hiện nay và trong nhiều năm tới, đối với nước ta vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn có tầm
chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn và đa dạng, phát triển nhanh và bền vững
với năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; bảo đảm an ninh lương thực cho đất nước và tạo điều
kiện để hình thành nền nông nghiệp sạch. Ðẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Một số
nội dung chủ yếu cần tập trung sức chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả là:
1 - Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển mạnh sang sản
xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao; phát triển mạnh chăn nuôi với tốc độ và chất
lượng cao hơn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản
xuất, bảo quản và chế biến; khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, tự phát. Tiếp tục rà soát, bổ sung,
điều chỉnh lại quy hoạch sản xuất nông nghiệp theo hướng: phát huy lợi thế tự nhiên của từng vùng, lợi thế
kinh tế của từng loại cây trồng, con gia súc, tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ; hình thành vùng sản xuất
hàng hóa gắn với thị trường và công nghiệp chế biến, bảo đảm hiệu quả bền vững và an ninh lương thực
quốc gia.
Trên cơ sở quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, các địa phương cần rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội (giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế, chợ, bưu chính - viễn thông,
cụm đô thị ở nông thôn, ) phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch kế
hoạch sử dụng đất của địa phương để có sự quản lý thống nhất, đồng bộ trên địa bàn. Khẩn trương hình
thành trung tâm tư vấn hỗ trợ nông nghiệp (thị trường, giá cả, thành lập doanh nghiệp nông nghiệp, xúc tiến
thương mại, ). Rà soát bổ sung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhất là đất nông nghiệp, công nghiệp và
2003 và các Nghị định hướng dẫn Luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế hợp tác, hợp tác xã.
Khẩn trương hoàn thành việc sắp xếp lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả của các nông, lâm trường quốc
doanh. Cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản,
gắn lợi ích người sản xuất nguyên liệu với cơ sở chế biến.
5 - Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, và đa dạng hóa các nguồn vốn để tiếp tục đầu tư phát triển mạnh
hơn cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn. Ưu tiên nâng cấp và xây dựng mới các hệ thống thủy lợi đồng
bộ, đi đôi với đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý để bảo đảm an toàn về nước. Củng cố hệ thống hồ đập,
kè ven sông, ven biển; nâng cấp các hệ thống cảnh báo, chủ động phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên
tai, bảo vệ môi trường nước. Tiếp tục đầu tư phát triển giao thông nông thôn, bảo đảm các xã đều có đường
ô-tô tới khu trung tâm, từng bước phát triển đường ô-tô tới thôn bản; bảo đảm hơn 90% số dân cư nông
thôn có điện sinh hoạt; hơn 75% số dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch.
6 - Rà soát bổ sung, điều chỉnh chính sách về đất đai, thuế, tín dụng, đầu tư nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện
việc hình thành các khu và cụm công nghiệp, cụm làng nghề ở nông thôn để thu hút các cơ sở sản xuất
công nghiệp và kinh doanh dịch vụ sử dụng nhiều lao động và nguồn nguyên liệu từ nông, lâm thủy sản.
Sớm có phương án rà soát, đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường hiện nay, nhất là ô nhiễm nguồn nước
để có kế hoạch khắc phục, đồng thời có biện pháp kiểm soát phòng, chống ô nhiễm môi trường tại các cụm
công nghiệp, cụm làng nghề và các đô thị mới hình thành ở nông thôn.
7 - Tập trung giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho nông dân và cho lao động nông thôn, đặc biệt quan tâm
giải quyết việc làm và thu nhập cho nông dân có đất bị thu hồi để sử dụng vào mục đích phát triển khu
công nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc làm
tại chỗ và ngoài khu vực nông thôn. Có chính sách trợ giúp thiết thực để đẩy mạnh đào tạo nghề cho nông
dân và lao động nông thôn, đáp ứng cho yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và tìm
việc làm ngoài khu vực nông thôn, kể cả đi lao động ở nước ngoài.
8 - Tiếp tục đầu tư nhiều hơn cho chương trình xóa đói giảm nghèo, trợ giúp thiết thực cho các vùng và
cộng đồng dân cư còn nhiều khó khăn, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển hệ thống
khuyến nông, nâng cao dân trí và có chính sách tín dụng cho người nghèo từng bước vượt qua khó khăn,
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bởi nông nghiệp, nông thôn là khu vực đông dân cư nhất, lại
có trình độ phát triển nhìn chung là thấp nhất so với các khu vực khác của nền kinh tế. Nông dân
chiếm hơn 70% dân số và hơn 76% lực lượng lao động cả nước, đóng góp từ 25% - 27% GDP
của cả nước
Hơn thế nữa, Đảng ta coi đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, còn vì nông dân, nông thôn
Việt Nam có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của đất nước trước đây và trong sự
nghiệp đổi mới hiện nay. Khu vực nông nghiệp, nông thôn hiện có tài nguyên lớn về đất đai và
các tiềm năng thiên nhiên khác: hơn 7 triệu ha đất canh tác, 10 triệu ha đất canh tác chưa sử
dụng; các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm nông - lâm - hải sản (như cà-
phê, gạo, hạt tiêu ). Nông nghiệp, nông thôn còn giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp các nguồn
nguyên, vật liệu cho phát triển công nghiệp - dịch vụ.
Bộ mặt nông thôn Việt Nam trong thời gian vừa qua đã có nhiều đổi mới, từ chỗ bị thiếu ăn, phải
nhập khẩu gạo, đến nay đã và đang xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan). Tuy
nhiên, vẫn còn đó những hạn chế, yếu kém, mà nhiều năm nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu.
Chẳng hạn, vốn đầu tư cho khu vực này vẫn thấp (chiếm 11% - 12% tổng đầu tư toàn xã hội);
sản phẩm nông nghiệp lại chủ yếu thiên về số lượng, chứ chưa nâng cao về chất lượng, giá
thành nông sản còn cao, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất còn thấp; sản lượng nông sản
tuy tăng nhưng chi phí đầu vào vẫn tăng cao (chi phí cho sản xuất 1ha lúa tăng từ 1 triệu đến 1,5
triệu đồng), trong khi giá các mặt hàng nông sản trên thị trường quốc tế lại giảm. Trong khi đó,
các chính sách và biện pháp mà Nhà nước đã áp dụng cho phát triển nông nghiệp những năm
gần đây chưa tạo bước đột phá mạnh. Trình độ dân trí của một bộ phận nông dân (nhất là vùng
sâu, vùng xa) chưa được cải thiện, đời sống, xã hội nông thôn mặc dù có sự chuyển biến song
chưa mạnh và không đồng đều. Tình trạng đó dẫn đến sự chênh lệch giữa khu vực thành thị và
nông thôn ngày càng lớn. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng thế giới (WB) (năm
2003) hệ số chênh lệch giữa thành thị và nông thôn còn là 3,65 lần.
Thêm nữa, kinh nghiệm từ các nước trên thế giới và trong khu vực (như Xin-ga-po, Thái Lan,
Trung Quốc, Thụy Điển, Tây Ban Nha ) đều cho thấy bài học: công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế đất nước.
Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là gì?
Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ VIII Đảng ta đã quyết
11,2%. Tiếp tục khuyến khích phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn giải quyết hàng
loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, từ đó,
làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát
Tiếp tục khuyến khích phát triển mạnh
thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn giải
quyết hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc
làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu
hạ tầng nông thôn, từ đó, làm thay đổi cơ
cấu kinh tế và lao động trong nông thôn
theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát
triển nông thôn văn minh, hiện đại, phù
hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
triển nông thôn văn minh, hiện đại phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Một thực tế nữa là, ở nước ta trên 3/4 số các khu di tích văn hóa, lịch sử, khu du lịch sinh thái,
nghỉ dưỡng của đất nước đều nằm tại các vùng nông thôn, miền núi và vùng hải đảo. Song thu
nhập hiện từ du lịch mới tập trung chủ yếu ở hai thành phố du lịch lớn của đất nước là Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 62% tổng doanh thu), vì thế phát triển du lịch ở các vùng miền
nông thôn không những sẽ đánh thức những tiềm năng trên để phát triển kinh tế nông thôn, xây
dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà còn làm tăng thêm thu nhập
cho đông đảo người dân sống ở nông thôn.
Các biện pháp gắn phát triển du lịch với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn
Nhằm gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn với phát triển du lịch bền vững, thiết nghĩ
chúng ta cần tập trung phát triển du lịch ở khu vực nông thôn bằng các biện pháp sau:
Một là, bằng nhiều hình thức, cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho lĩnh vực du lịch ở các
vùng nông thôn có nhiều tiềm năng du lịch theo hướng khai thác các nguồn vốn trong nước,
ngoài nước, đặc biệt là vốn trong dân. Từ đó tạo ra những sản phẩm du lịch đặc thù mang đậm
bản sắc nông thôn Việt Nam (như du lịch đồng quê, du lịch làng nghề, du lịch sinh thái, văn hóa
Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn(08/08/2007)
Lúc nông nghiệp, nông thôn chuyển nhanh sức lực, "hóa thân" thành công nghiệp, đô thị là
thời kỳ đặc biệt quan trọng của quá trình CNH.
Quá trình này đã diễn ra với nước Anh vào đầu cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ 18,
ở nước Mỹ khi đường sắt và các nhà máy phát triển mạnh trước nội chiến, ở Ðức giai đoạn
sau cuộc cách mạng 1848, ở Nhật Bản khi Minh Trị tiến hành cuộc cải cách sau năm 1868,
và ở nước Nga khi đường sắt, công nghiệp than đá, sắt, và công nghiệp cơ giới nặng phát
triển mạnh trước Cách mạng Tháng Mười năm 1917, ở Ðài Loan những năm 60 và Hàn
Quốc thập kỷ 70 của thế kỷ trước.
Tuy các nước Âu - Mỹ đã trải qua giai đoạn này hàng trăm năm trước, các nước Ðông-Bắc
Á mới vượt qua giai đoạn này vài thập kỷ qua, nhưng cách thức cất cánh của các nước
công nghiệp đi trước khá giống nhau, đó là: khai thác ồ ạt tài nguyên tự nhiên (khoáng sản,
gỗ rừng, hải sản, ) để xuất khẩu, nhập máy móc, thiết bị. Tình trạng tài nguyên kiệt quệ, ô
nhiễm môi trường diễn ra trên quy mô rộng. Phát triển các ngành công nghiệp thu hút lao
động (dệt-may, giày dép, chế biến nông sản, ), rút nhanh một lượng lớn lao động từ nông
thôn ra đô thị nhưng để lại ở nông thôn những mâu thuẫn và vấn đề xã hội lớn. Ðất đai tập
trung vào tay những người có khả năng quản lý, tăng quy mô sản xuất, hộ tiểu nông trở
thành trang trại cơ giới hóa sản xuất, áp dụng kỹ thuật mới, tăng năng suất lao động nông
nghiệp, sản xuất hàng hóa lớn. Nhu cầu tiêu thụ tại thị trường đô thị tăng nhanh, được nông
nghiệp đáp ứng lượng nông sản lớn giúp bảo đảm giá trị đồng lương thực tế, giữ cho công
nghiệp phát triển ổn định. Nông sản dư thừa được xuất khẩu ra thị trường quốc tế, bắt đầu
từ sản phẩm thô, rồi nâng dần chất lượng và giá trị.
Bán được hàng, nông thôn tăng thu nhập liên tục, trở thành thị trường ngày càng lớn cho
hàng hóa công nghiệp. Hàng công nghiệp sau khi lấp đầy thị trường trong nước cũng là lúc
có đủ chất lượng và tích lũy công nghệ để xuất khẩu ra thị trường thế giới. Khi quá trình cất
cánh đã hoàn thành, nền kinh tế đã công nghiệp hóa, nông nghiệp mất dần khả năng cạnh
tranh, Nhà nước tái phân phối để bù đắp các mất mát về kinh tế, xã hội và môi trường của
lĩnh vực nông nghiệp và địa bàn nông thôn, quay lại bảo vệ thị trường nông sản, trợ cấp
nông nghiệp. Bước tiếp theo, các nước đã trở nên giàu có viện trợ, cho vay phát triển trở lại
cho nước nghèo, bù đắp những thiệt hại về môi trường, thị trường và xã hội đã gây ra trên
chắc. Lúc này, sản xuất nông nghiệp không đơn thuần chỉ là để giải quyết an ninh lương
thực, xuất khẩu lấy ngoại tệ, mà vấn đề nông thôn, nông dân đã chuyển từ kinh tế sang nội
dung mới, bao hàm cả yếu tố chính trị, xã hội và môi trường.
Bên cạnh thách thức mới, vận hội đang đem lại cho Việt Nam nhiều thuận lợi mới mà nhiều
nước đi trước không có: cánh cửa ra thế giới đã rộng mở cho thị trường hàng hóa và dịch
vụ thông thương hai chiều; mở đường cho nhiều nguồn vốn viện trợ và sẵn sàng đầu tư;
mở lối cho khoa học - công nghệ chuyển giao và liên kết Phải huy động cho được những
lợi thế trên, biến chúng thành "nhiên liệu cho động cơ" phát triển kinh tế.
Hơn 10 năm qua, nông nghiệp Việt Nam về cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, phát triển
tương đối toàn diện, tăng trưởng khá (bình quân 4,2 %/năm). Công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở
nông thôn bước đầu được phục hồi và phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư xây
dựng, môi truờng sinh thái và đời sống nông dân ở hầu hết các vùng được cải thiện rõ rệt. Quan hệ
sản xuất từng bước đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, hệ thống
chính trị ở cơ sở được tăng cường, dân chủ cơ sở được phát huy tốt hơn; an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội ở nông thôn được đảm bảo. Những thành tựu đó góp phần rất quan trọng vào sự ổn
định và phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trước tình hình đó Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành TƯ Đảng khoá X đã ra nghị quyết về đẩy nhanh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010.
1. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một
nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất chất lượng và sức cạnh tranh
cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiến tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất
khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại.
Từ nay đến năm 2010 tập trung mọi nguồn lực để thực hiện một bước cơ bản mục tiêu tổng quát lâu dài đó.
2. Những chủ trương và giải pháp lớn
2.1. Phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Về nông nghiệp:
Bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo trên cơ sở hình
thành các vùng sản xuất lúa chất lượng cao, giá thành hạ, gắn với chế biến và tiêu thụ.
Đối với ngành muối: Quy hoạch và từng bước đầu tư hiện đại hoá các đồng muối, sản xuất bằng công nghệ
tiên tiến để đạt năng suất và chất lượng cao, hạ giá thành sản phẩm nâng cao năng lực chế biến muối, đẩm
bảo đủ cho tiêu dùng trong nước, kể cả muối cho sản xuất công nghiệp và xuất khẩu, thay thế nhập khẩu.
Về nông thôn:
Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích phát triển mạnh các ngành công nghiệp ở nông thôn nhất là công nghiệp
chế biến nông lâm thuỷ sản và các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ, cần nhiều lao động. Hình thành các
khu công nghiệp ở nông thôn, gắn lợi ích kinh tế giữa người sản xuất nguyên liệu với các nhà máy chế
biến.
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi trong việc cấp đất, khuyến khích và hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông
thôn sử dụng máy móc, công cụ cải tiến, thực hiện cơ khí hoá các khâu sản xuất. Hỗ trợ, khyến khích các
thành phần kinh tế phát triển các loại hình dịch vụ ở nông thôn.
Qui hoạch và tổ chức lại hệ thống các cơ sở công nghiệp cơ khí hoá chất, phân bón thuốc trừ sâu phục vụ
nông lâm ngư nghiệp trên phạm vi cả nước và từng vùng.
2.2. Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển sản
xuất hàng hoá với qui mô ngày càng lớn. Nhà nước hỗ trợ hợp tác xã đào tạo cán bộ, có chính sách thuế
phù hợp đối với các hoạt động dịch vụ. Phát triển các quĩ tín dụng nhân dân ở xã để phục vụ phát triển
nông nghiệp nông thôn.
Doanh nghiệp nhà nước tập trung thực hiện những việc mà các thành phần khác chưa làm được, hỗ trợ
các thành phần kinh tế khác, giữ vai trò nòng cốt trong kinh doanh, chế biến nông lâm thuỷ sản
2.3. Phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị hoá nông thôn
Ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống thuỷ lợi theo hướng sử dụng tổng hợp tài nguyên nước để cấp nước cho
sản xuất nông nghiệp, công nghiêp, nước sinh hoạt và cải thiên môi trường, phòng chống, hạn chế và giảm
nhẹ thiên tai. áp dụng các công nghệ tiên tiến, công nghệ tưới tiêu tiết kiệm nước. Phát triển các tổ chức
hợp tác dùng nước và quản lý thủy nông của nông dân.
Phát triển nhanh hệ thống giao thông nông thôn; hệ thống điện nông thôn nhằm cung cấp điện có hiệu quả,
chất lượng cao.
Sưu tầm từ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
* Xem thêm: Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) Về đẩy
nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 theo địa chỉ sau: