Tài liệu Triết học Mác với chủ nghĩa duy vật nhân văn - Pdf 10

Triết học Mác với chủ nghĩa duy vật nhân văn
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, không chỉ sáng lập ra chủ nghĩa, triết thuyết của
mình mà còn đưa ra mẫu mực phương pháp luận về sự tự phê phán và phát triển chủ
nghĩa Mác. Đó là kim chỉ nam cho các thế hệ tiếp bước theo các ông. Nhưng đó là việc
không dễ dàng tí nào, thậm chí phải trả giá đắt như lịch sử không ít lần đã chỉ rõ, xét cả
mặt áp dụng sáng tạo trong thực tế và cả mặt học thuật, phát triển lý thuyết.
Do vậy, ngày nay, hơn bao giờ hết, thấm nhuần tinh thần và bài học đó, phải xây dựng
phương pháp tư duy học thuật, tư duy phát triển lý luận và chống bệnh tự ti, từ đó góp
phần nghiên cứu phát triển triết học Mác trong thời đại ngày nay, từ đó tạo tầm nhìn sâu
rộng cho quá trình xây dựng xã hôi ngày càng hiện đại, thịnh vượng, công bằng, dân chủ,
văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa.
I- Thái độ tự phê phán của Ăngghen đối với chủ nghĩa Mác
F.Angghen (F.Engels) là một trong những nhà sáng lập đầu tiên của chủ nghĩa Mác, một
nhà duy vật biện chứng- duy vật thực tiễn lỗi lạc. Là người bạn tâm giao, gần gũi và đồng
hành cùng với C Mác (K.Marx) trong sự nghiệp sáng tạo chủ nghĩa Mác và lãnh đạo
phong trào công nhân giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ ấy, cả sau khi Mác đã qua đời. Có
lẽ không ai hiểu Mác bằng Angghen, và về nhân cách, tài năng thì một chín một muời,
nhưng lại hết sức khiêm tốn. Khi Mác qua đời thì chính Ăngghen đã đánh giá cao những
phát hiện, phát minh chủ yếu của Mác, rồi tiếp tục hoàn chỉnh tác phẩm (bộ Tư bản) của
Mác còn dang dở, đánh giá việc vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác trong thực tiễn
cách mạng mới với tinh thần khoa học và tính tự phê phán và phê phán với tính chiến đấu
rất cao.
Như ta đã biết với tác phẩm "Tình cảnh giai cấp công nhân Anh", thì thế giới quan mới
đã xuất hiện và sự đồng cảm trong sáng tạo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân giữa Mác
và Ăngghen đã gặp nhau. Nhưng sau khi khởi thảo "quan niệm duy vật về lịch sử"
(Angnghen gọi là "chủ nghĩa duy vật lịch sử"-Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự
thật, Hà Nội,1984, tr. 719), thì Mác đi sâu vào nghiên cứu kinh tế chính trị, còn Ang
nghen thì tập trung hoàn chỉnh và phát triển triết học Mác trong khoa học tự nhiên và lịch
sử xã hội, và phát triển những tư tưởng về chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhiều tư tưởng
triết học của Mác đã được Angghen làm rõ và phát triển.
Đồng thời, qua một số công trình nghiên cứu, ông cũng làm rõ những vấn đề có tính quy

Không thể quy sự biến diễn ra hàng ngày, sự biến riêng lẻ vào nguyên nhân kinh tế xét
tới cùng được (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 594). Thế
nhưng khi tiếp cận chủ nghĩa Mác thì nhiều người chỉ thấy có nhân tố kinh tế là duy nhất
quyết định, tức là không thấy sự tương tác giữa nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa
xã hội trong tiến trình phát triển…
- Angghen viết, và tâm sự rằng, "Cả Mác lẫn tôi chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế, do
đó nếu ai xuyên tạc câu đó khiến cho nó có nghĩa là nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định
duy nhất thì như vậy đã biến câu đó thành một câu trống rỗng, vô nghĩa" (Mác- Ăngghen,
tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.726). Ở đây, vấn đề là tính tương tác, biện
chứng thì người ta lại quên đi.
- Do phải phê phán lại kẻ thù là chủ nghĩa duy tâm đủ loại, các ông đã quá nhấn mạnh
nhân tố kinh tế làm cho giới trẻ vận dụng tuyệt đối hóa nhân tố kinh tế, thành "duy vật
kinh tế". Và khi quá nhấn mạnh một mặt thì dù đúng cũng sẽ trở nên phiến diện và sai
lầm…. Tuy rằng, khi các nhà kinh điển phân tích thưc tế thì lại rất toàn diện, biện chứng,
thấy rõ sự tương tác lẫn nhau của nhiều nhân tố. Chính Angghen rất nhấn mạnh điều then
chốt này (qua tác phẩm bộ Tư bản và nhiều tác phẩm khác của Mác).
- Nhưng dầu sao thì sai lầm ở những người đọc Mác, một phần cũng do hoàn cảnh lúc đó.
Trách nhiệm này thuộc về Mác và Ăngghen như các ông thừa nhận. (Mác- Ăngghen,
tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.728)
"Mác và tôi, một phần nào, phải chịu trách nhiệm về việc những anh em trẻ đôi khi nhấn
mạnh quá mức vào mặt kinh tế. Đối với kẻ thù, chúng tôi phải nhấn mạnh nguyên lý chủ
yếu mà họ phủ nhận, và chúng tôi cũng ít khi có thì giờ, có địa điểm và cơ hội để mang
lại một vị trí xứng đáng cho những nhân tố khác tham gia vào sự tác động qua lại ấy.
Nhưng khi phải trình bày một thời kỳ lịch sử, nghĩa là khi vận dụng lý luận vào thực tiễn
thì vấn đề lại khác hẳn và ở đây không thể có một sai lầm nào. Nhưng đáng tiếc là người
ta thường hay nghĩ rằng, có thể hiểu hoàn toàn thấu đáo một lý luận mới và có thể vận
dụng lý luận đó không khó khăn gì, một khi đã nắm được những nguyên tắc chủ yếu, và
điều đó không phải bao giờ cũng đúng. Và tôi không thể không trách cứ nhiều người
"mácxít" mới về điều đó, và cũng phải nói rằng họ đã phạm phải những điều hết sức kỳ
quái"(Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 729).

- Lịch sử đã chứng minh rằng, Angghen thừa nhận, chúng tôi và tất cả những suy nghĩ
như chúng tôi đều sai lầm. Lịch sử đã chỉ rõ rằng, trạng thái phát triển kinh t? liên lục địa
lúc bấy giờ còn rất lâu mới chín muồi để xóa bỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
(Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.603,604).
- Lịch sử cũng đã chứng minh rằng, chúng tôi cũng sai lầm… lịch sử đã vạch ra rằng
quan điểm của chúng tôi lúc bấy giờ là một ảo tưởng. Lịch sử không chỉ đánh tan những
ảo tưởng của chúng tôi mà còn hoàn toàn đảo lộn những điều kiện trong đó gia cấp vô
sản phải chiến đấu . (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.
600) Ông thừa nhận rằng, nhiều vấn đề chưa thể nói trước được, phải tùy thời gian,
không gian cụ thể. (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 748)
Rằng, phải chiến đấu lâu dài, phải tiến dần từng bước, và bằng nhiều phương thức khác
nhau. Rằng, không thể nói trước được, phải tùy vào hoàn cảnh cụ thể (Mác- Ăngghen,
tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 748-600), trong khi đó sau thất bại năm
1849, phái dân chủ vẫn còn ảo tưởng, điều mà Mác và Ang nghen đã dần nhận ra và khắc
phục.
Chúng ta đọc lại những dòng trên đây và tự nhận thấy bệnh ảo tưởng này về cách mạng
vô sản thế giới còn lặp lại sau năm 1945 ở phong trào cách mạng trong đầu, giữa thế kỷ
XX ở những nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội xuất phát kinh tế xã hội còn thấp, nhất là
ảo tưởng về xóa bỏ ngay chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, ảo tưởng về việc tiến
nhanh lên chủ nghĩa xã hội, hoàn thành chủ nghĩa xã hội phát triển, tiến nhanh vào chủ
nghĩa cộng sản giai đoạn cao… Chính Lênin, lúc đầu cũng bị ảo tưởng này, sau đó ông
nhận thấy sai lầm và lùi lại thực hiện chiến lược NEP như chúng ta đã biết. Cố nhiên
Trung Quốc, Việt Nam ta cũng không ngại lệ. Có điều là ngay nhiều nước loại này sau
nhiều thập kỷ mới nhận ra và mới bắt đầu sửa.
Qua đó, cho thấy thêm rằng, không nên trình bày chủ nghĩa một chiều, chỉ thấy nguyên
lý, chỉ thấy luôn luôn đúng, tách khỏi môi trường lịch sử đang vận động và thiếu tinh thần
phên phán và tự phê. Đúng là, phân tích cụ thể tình hình cụ thể là linh hồn sống của chủ
nghĩa Mác (Lênin).
. Nhưng tại sao lại có tình trạng nhiều người vẫn hiểu sai chủ nghĩa Mác hay vận dụng
một cách giáo điều?

đây qua cuôc thăm dò ở Anh có người nhiều nước tham dự chọn những nhà triết học vĩ
đại của nhân loại thì được đánh giá Mác là "triết gia vĩ đại nhất của nhân loại", có "hệ
thống triết học nghiêm túc nhất của loài người", trong số 20 người được bình chọn (theo
Bản tin số tháng 8, năm 2005, của Hội đồng Lý luận TW, tr.6). Hoặc vào những năm
cuối thế kỷ XX, trên thế giới, cũng đã lựa chọn Mác cùng với Anstanh và Frớt là một
trong ba nhà khoa học, nhà tư tưởng vẫn còn ảnh hưởng to lới tới tiến trình thế kỷ XXI.
Điều đó càng chứng tỏ uy tín của chủ nghĩa Mác mà hai phát minh vĩ đại của ông như
Ăng ghen đã đánh giá, có ý nghĩa bất hủ.
Nhưng chúng ta, nhưng người theo chủ nghĩa Mác, tin tưởng vào chủ nghĩa Mác khoa
học, sáng tạo, cách mạng, nhưng không nên tuyệt đối hóa, thần thánh hóa chủ nghĩa Mác,
biến nó thành một tôn giáo!
Với tinh thần trên đây của Ăngghen, chúng ta thấy rằng, khó mà bác bỏ được một tinh
thần tự phê phán mang tính cách mạng và khoa học như các nhà sáng lâo chủ nghĩa Mác.
Vì vậy, tính chiến đấu, tự phê phán, tinh thần cách mạnh và khoa học ấy là bất diệt
II- Đối với chúng ta ngày nay vấn đề là phải phát triển triết học Mác
Vấn đề mà chúng ta cần quan tâm trong lịch sử nhận thức mác xít, là chủ nghĩa Mác cũng
bị hiểu một cách giáo điều, bị tuỵệt đối hóa, nâng lên như những giáo lý. Nhưng bên cạnh
tư tưởng tự cao tự đại, giáo điều đó thi vẫn có tư tưởng qua tự ti và nhận thức không
đúng Cả hai loại tư tưởng ấy đề ngăn cản sự phát triển chủ nghĩa Mác và triết học Mác.
Nhiều người có nhận thức và thái độ đối với chủ nghĩa Mác như: cái gì cũng cho rằng,
Mác và Lênin đã nói cả rồi, chỉ vận dụng về chi tiết thôi. Đó là một cách hạn chế chính
mình và không đúng với tinh thần sáng tạo của chủ nghĩa Mác, tức là rơi vào sự tuyệt đối
hóa kiểu Hêghen- chủ nghĩa Hêghen như là đỉnh cao nhất của triết học, không có triết học
nào có thể vượt qua được. Hoặc cho rằng, chủ nghĩa Mác là đĩnh cao nhất của nhận thức
nhân loại và duy nhất đúng. Hồ Chí Minh khi nói về chủ nghĩa Mác -Lênin cũng chỉ nói
là "đúng đắn nhất, cách mạng nhất" chứ không dùng từ duy nhất. Hoặc nếu có phát triển
thì phải chờ một thiên tài như Mác hay Lênin hay như Hồ Chí Minh mới phát triển được
chủ nghĩa Mác, còn những nhà nghiên cứu bé nhỏ như chúng ta chỉ là giải thích hay vận
dụng nào đó đối với chủ ghĩa Mác mà thôi.
Thực ra, dù chủ nghĩa Mác có nội dung toàn diện, một triết học toàn diện, triết để đề cập

như khá nhiều người vẫn hiểu như vậy.
Như trên đây đã nói, mỗi lần có một bước ngoặt trong khoa học tự nhiên thì chủ nghĩa
duy vật sẽ thay đổi hình thức của mình; đồng thời, chính thực tiễn cách mạng là động lực
của lý luận đã điều chỉnh và kiểm nghiệm lý luận, cũng như gợi mở những kết luận mới,
những học thuyết mới…
Với thời đại kinh tế tri thức, thời đại trí tuệ hóa, thời đại của xã hội thông tin, xã hội sinh
thái và toàn cầu hóa, thời đại của chủ nghĩa xã hội đổi mới thì triết học chẳng lẽ vẫn như
cũ, bằng lòng với triết học đại cương tổng thể như trong giáo trình hiện nay? Có lẽ chúng
ta không biết gì về vận động, phát triển của triết học thế giới ngoài mác xít, với gần 170
chuyên ngành triết học cụ thể? Còn thế giới khoa học thì với 20 nhóm mà nhòm đầu là
khoa học phi bộ môn, rồi khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng và thứ 20 là các khoa học
về khoa học luận ứng dụng. Đó là chưa kể tri thức ngoài khoa học. Trong khi đó vai trò
của triết học là "tổng hợp lý thuyết", và "tổng quát toàn bộ tri thức" ở tầm bản chất phổ
quát.
Chúng ta không nên tuyệt đối hóa (sùng bái) triết học Mác và bỏ ngoài tai thành tự triết
học của nhân loại và của thời kỳ mới ngày nay, dù là ngoài mác xít, thậm chí phi mácxít.
Và phải chăng người Việt Nam chỉ là thuyết minh, vận dụng, ăn theo như có người quan
niệm?
Mới đây, ngày 21 và 22-11-2005, tại Hà Nội đã diễn ra một cuộc hộu thảo quốc tế, do
Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với UNESCO tại Việt Nam và Hội Giáo dục
triết học vì dân chủ khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, với nội dung, toàn cầu hóa-
những vấn đề triết học khu vực châu Á (mà bản thân tác giả bài viết này có tham dự).
Có nhiều vấn đề đặt ra ra thú vị. Nhân dịp này xin nói về một vấn đề là nhiều đại biểu
trong và ngoài nước, nêu lên yêu cầu phát triển và xây dựng một nền triết học đương đại
ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương, trong đó đáng chú ý là ở V iệt Nam.
Người ta cho rằng Việt Nam ta anh hùng, thông minh thế lẽ nào trong lịch sử không có
triết học và nhất là ngày nay với nhiệm vụ mới trong bối cảnh toàn cầu hóa lại quá lệ
thuộc vào các học thuyết cách ngày nay quá xa, rằng phải tìm lấy lối riêng cho mình và
triết lý riêng, triết học riêng. Thời đại toàn cầu hóa phải có một sự phát triển triết học
tương ứng.

- Mọi người có thể vận dụng lý thuyết hòa hợp để xem xét về 5 xung đột và khủng hoảng
lớn mà nhân loại sẽ phải đối mặt trong thế kỷ XXI, đồng thời, thông qua những nhận thức
chung tối thiểu nhất để đạt được 5 nguyên lý sau:
1- Nguyên lý "hòa sinh" (nguyên lý sinh tồn hòa hợp), tức là cùng sinh tồn, cùng vinh
hoa, cùng phú quý của câu "thiên địa chi đại đức viết sinh" (Cái đức lớn lao của trời đất
là hiếu sinh) đã được nâng lên thành ý thức hòa sinh, hòa vinh, hòa phú.
2- Nguyên lý "hòa xử" (nguyên lý chung sống hòa hợp), tức là cùng chung sống "có hòa
hợp nhưng không hòa tan", cùng chung sống tuy có xung đột và cạnh tranh những tất
phải sống cùng nhau.
3- Nguyên lý "hòa lập", tức là "kỷ dục lập nhi lập nhân" (mình muốn lập thân thì cũng
giúp người khác cùng lập), tôn trọng phương thức sinh tồn và các cách phát triển đa dạng
khác nhau.
4- Nguyên lý "hòa đạt", tức là "kỷ dục đạt nhi đạt nhân" (mình muốn thành đạt thì giúp
cho người khác thành đạt). Theo nguyên lý này thì mình thành thành đạt, mình đạt được
điều mình mong muốn thì người khác cũng phải đạt được cái họ mong muốn, chứ không
thể nào mình đạt được mà lại không cho người khác cùng đạt, thậm chí hạn chế, cản trở
sự phát triển của quốc gia khác, dân tộc khác. Chỉ khi nào toàn thể nhân loại cùng phát
triển thì con người mới được yên ổn.
5- Nguyên lý "hòa ái", đã "cùng sinh tồn trong hòa hợp" thì thường mong đạt được "sự
chung sống hòa hợp", chung sống hòa hợp thì cầu đạt được "hòa lập, hòa đạt", cơ sở và
xuất phát điểm của 4 nguyên lý trên là "hòa ái". Chỉ có "phiếm ái chúng" (yêu thương tất
cả mọi người), "kiêm tương ái" mới có thể thực hiện được hòa sinh, hòa xử, hòa lập, hòa
đạt.
Năm nguyên lý nêu trên là những nguyên lý và giá trị quan trọng nhất của xã hội loài
người trong thế kỷ XXI.
Vấn đề phát triển ngày nay, khoa học đã làm rõ ràng, không chỉ thấy một mặt ở tình
quyết định luận mà cần thấy cả mặt hỗn độn, mặt bất định. Và ngay khi nghiên cứu tính
phát triển của hệ thống kinh tế, văn hóa, xã hội thì phải có tầm nhìn mới chứ không phải
chỉ dừng lại kiểu hệ thống sinh học hay hệ thống cơ giới, như vẫn thường thấy ở không ít
nhà khoa học. Có nhiều vấn đề đang đặt ra về mặt triết học phải có tư duy mới. Chúng ta

ti, từ đó góp phần nghiên cứu phát triển triết học Mác trong thời đại ngày nay, từ đó tạo
tầm nhìn sâu rộng cho quá trình xây dựng xã hôi ngày càng hiện đại, thịnh vượng, công
bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa
ngày nay.
III- Nhận thức về thực chất của triết học Mác và sự phát triển hiện nay
Lạc Chí Cường trong cuốn "Tìm hiểu hệ thống chủ nghĩa duy vật thực tiễn", Quảng Đông
Cao đẳng giáo dục xuất bản, 2000, Trung văn (Trích theo PGS. Hà Thúc Minh. Trong
một bài viết của cuốn sách Công tác tư tưởng và giảng dạy lý luận trong trường đại học
và cao đẳng hiện nay, Nxb.TPHCM, 2002, tr.41-55) , cho rằng nguyên nhân ở "chiều sâu
nhất" của sự khủng khoảng và sụp đổ ở Liên xô và Đông Âu trước đây là do "lý giải sai
về … triết học". Ví dụ, cho rằng triết học Mác không phải là chủ nghĩa duy vật lịch sử và
duy vật biện chứng mà là duy vật thực tiễn; không phải là quan hệ giữa vật chất và ý thức
mà là quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và tự nhiên; không phải tồn tại xã hội
và ý thức xã hội trong đó tồn tại xã hội là có trước, tính thứ nhất mà là tồn tại, xuất hiện
"đồng thời"; hoặc Mác không chỉ nói về năm hình thái kinh tế xã hội mà còn nói tới ba
loại hình xã hội, nói về hình thái xã hội nguyên sinh, thứ sinh và tái thứ sinh…Phải chăng
khẳng định này là đúng , là thuyết phục?
Tôi xin nói ngay ý tưởng và quan niệm về các hình thái và loại hình kinh tế xã hội thì
đúng. Còn nói về sự xuất hiện "đồng thời" giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là không
chính xác. Giải thích thế nào về ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội? Có xã hội, có nhà
nước nhưng đâu phải ý thức pháp luật có ngay? Hơn nữa khi nói ý thức xã hội là phân
biệt với ý thức cá nhân chứ không phải theo nghĩa ý thức của xã hội, thuộc về xã hội hay
mang tính xã hội, vì đó là cái chung của mọi ý thức kể cả ý thức cá nhân hay ý thức về tự
nhiên. Sự đồng thời giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là là một thực tế nhưng là khi
xem xét nó về cấu trúc hệ thống xã hội, còn về nguồn gốc thì ý thức xã hội là hình ảnh
của tồn tại xã hội thì làm sao lại "đồng thời" kiểu "nhị nguyên luận" được.
Mà thực ra cũng không phải sự sụp đổ của Liên xô liên quan tới sự lý giải vấn đề thuộc
loại này.Vấn đề chỉ là không thấy hết tác hại, tác dụng của ý thức xã hội tiêu cực của quá
khứ đè nặng lên khối óc, trái tim người đang sống làm méo mó chủ nghĩa Mác là chính.
Rõ ràng là Đảng cộng sản đã tự tha hóa, đã mất cảnh giác với mặt trái của truyền thống,

thực tiễn là tự nhiên" (Tạp chí triết học, số 2-2003, tr.36) . Triết học của Phơbách, như
ông thừa nhận và quan niệm: "biến con người thành đôi tượng duy nhất, phổ quát và cao
nhất của triết học và do đó, biến thuyết nhân bản, trong đó có triết học, thành khoa học
phổ quát". Như thế ông đã kết hợp chủ nghĩa duy vật với thuyết nhân bản = chủ nghĩa
duy vận nhân bản. Nhưng khi giải thích lịch sử xã hội lại rơi vào duy tâm. Đối với Mác
thực tiễn là hoạt động khách quan, vật chất của con người hiện thực. Và từ đây Mác sáng
tạo ra duy vật lịch sử, với tư cách là phép biện chứng của tiến hóa lịch sử, tức quan niệm
duy vật thực tiễn và biện chứng về quá trình lịch sử. Nhấn mạnh chữ "lịch sử "là nói tính
quá tình và tính cụ thể, còn nhấn mạnh chữ "thực tiễn" là nhấn mạnh sự hoạt động của
con người. Nói tắt duy vật lịch sử hay duy vật thực tiễn không phải phủ nhận tính biện
chứng, nội dung biện chứng của nó. Chính vì vậy có người ghép thành "chủ nghĩa duy
vật biện chứng lịch sử". Không nên quá bắt bẻ khái niệm, tên gọi mà không hiểu tính lịch
sử cụ thể của nó.
Nếu duy vật cũ chủ yếu là siêu hình (dù vẫn có duy vật biện chứng thô sơ) thì duy vật
mới là duy vật biện chứng. Angghen về sau rất nhấn mạnh ý này. Và phép biện chứng
của Mác khác phép biện chứng của Hêghen (biện chứng nhưng duy tâm) là biện chứng
duy vật. Chính Mác cũng tự so sánh này khi phê phán phép biện chứng Hêghen "lộn đầu
xuống đất". Đúng là Mác không phát hiện ra chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng nói
chung, trước Mác đã tồn tại chủ nghĩa duy vật về thế giới và những qui luật biện chứng
đã được Hêghen trình bày khá toàn diện và sâu sắc dù mang tính duy tâm. Nhưng ông đã
tiếp thu, cải tạo, xây dựng lại cả chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, kết hợp, thống
nhất lại (chứ không phải lấy lại nguyên xi). Đúng là Mác có khẳng định điểm thiếu sót
chủ yếu triết học duy vật cũ là thiếu tính thực tiễn, không xuất phát từ thực tiễn hiện thực,
tức hoạt động của con người hiện thực. Nhưng chính Mác cũng có nói rằng triết học Mác
khác triết học Hêghen là ở chỗ hiểu và phát triển phép biện chứng một cách duy vật. Mác
không phải là người đầu tiên phát hiện ra phép biện chứng nhưng hạt nhân biện chứng
trong triết học cũ được các ông đang giá cao kể cả Ăng ghen và Lênin sau này.
Ăngghenbàn bổ sung phép biện chứng duy vật trong tự nhiên, còn Mác chỉ bàn sâu về
phép biện chứng xã hội, biện chứng lịch sử, dành vị trí lớn cho Lịch sử (nhất là với bộ Tư
bản). Mác thừa nhận quan niệm duy vật về tự nhiên trước đó để tiếp tục nghiên cứu phép

các thành tựu triết học trước Mác. Chính Lênin đã phát triển sâu về vấn đề vật chất với tư
cách một phạm trù triết học, vấn đề nhận thức luận và phép biện chứng xã hội. Từ đó
Ăngghen và Lênin đưa vào triết học Mác. Với ý nghĩa đó triết học của các ông là duy vật
biện chứng (cả về tự nhiên, xã hội và về tư duy), là Lôgích viết hoa. Đó là nền tảng và
linh hồn của triết học Mác. Hay gọi cách khác đó là triết học đại cương của Mác (cấp độ
một). Tât nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng trong triết học Mác không phải là triết học
về tự nhiên, nhưng chưa đủ độ sâu về triết học xã hội.
Cái mới nhất, phát minh của Mác là duy vật lịch sử hay duy vật thực tiễn, hoặc cũng gọi
là triết học biện chứng xã hội. Phát minh của Mác là quan niệm duy vật lịch sử, nhưng
không chỉ duy vật mà cả phép biện chứng của lịch sử xã hội. Chủ nghĩa duy vật biện
chứng về lịch sử (gọi tắt là duy vật lịch sử) là triết học cơ bản nhưng cấp độ (hai) sau duy
vật biện chứng. Xuất phát tư duy vật thực tiễn, hai ông mác và Ăng ngen đã xây dựng
nên duy vật lịch sử và hoàn thiện triết học mới. theo nghĩa hẹp thì triết học Mác là duy
vật thực tiễn (Mác), tức nhìn theo chiều ngang, hoạt động của con người trong quan hệt
với tự nhiên và xã hội; hay duy vật lịch sử (Ăngghen), nhìn theo lát cắt quá trình lịch sử
xã hội loài người với những quy luật của nó. Nhưng theo nghĩa rộng, nghĩa đã hoàn
chỉnh, phát triển về sau thì triết học Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử (hay phép biện chứng duy vật lịch sử) một khối thép không tách rời như nhận xét của
Lênin. Quá nhấn mạnh duy vật thực tiễn- khái quát đầu tiên của Mác- mà quên phép biện
chứng lịch sử, và sự cải tạp phép biện chứng duy tâm thành phép biện chứng duy vật, từ
đó cho rằng triết học Mác không phải là, hoặc "càng không có lý do" để … gọi là "chủ
nghĩa duy vật biện chứng" (Công tác tư tưởng và giảng dạy lý luận trong trường đại học
và cao đẳng hiện nay, sdd, tr.48) , tức quá nhấn mạnh một mặt, lại tách rời khỏi cái tổng
thể và bản chất, là một sai lầm lớn và lại biến triết học Mác thành siêu hình. Cách gọi chủ
nghĩa duy vật thực tiễn hay duy vật lịch sử là gọi tắt chứ không phải không có phép biện
chứng. Mác và Ăngghen cũng như Lênin đánh giá cao thành tựu của phép biện chứng
Hêghen không phải để chiêm ngưỡng mà biến thành và phát triển thành phép biện chứng
của mình. Nghiên cứu lịch sử triết học cái chính là để kế thừa và phát triển chứ không
phát chính là lại bỏ và phê phán.
Theo Mác thì "cách tiếp cận duy vật thì đồng thời phải là biện chứng." Và phép biện

học đạo đức.
Còn vấn đề duy vật thực tiễn chưa thể hiện đầy đủ trong các giáo trình triết học, mới chỉ
ở phần nhận thức luận, còn duy vật lịch sử thì vấn đề thực tiễn trong nội dung hoạt động
của con người chưa thật sáng tỏ, và đặc biệt là từ đó không phát triển phần triết học về
con người như vấn đề nhu cầu, lới ích; vấn đề hoạt động, vấn đề giá trị, xu hướng phát
triển người, sự tha hóa và giải phóng con người… Tác giả của cuốn sách hai tập "Mác
nhà tư tưởng của cái có thể" đã nhận xét rất đúng về chủ nghĩa duy vật lịch sử là chủ
nghĩa duy vật thực tiễn về bản chất, còn về nội dung thì theo tôi không thể đồng nhất
hoàn toàn duy vật lịch sử và duy vật thực tiễn. Duy vật thực tiễn, xuất phát "từ con người
hiện thực", theo tôi hiểu, 1) một mặt được phát triển thành duy vật biện chứng trong phần
nhận thức là chính; 2) mặt nữa lại phát triển thành duy vật lịch sử - phép biện chứng về
quá trình lịch sử (cơ cấu, động lực và tiến trình phát triển xã hội); 3) còn một mặt khác
đang cần phát triển thành duy vật nhân văn - phép biện chứng về quá trình phát triển con
người (cơ cấu, động lực và tiến trình phát triển con người và giải phóng con người). Cần
phát triển triết học nhân văn mới này tiếp theo truyền thống triết học nhân loại và triết
học Mác nhưng là theo lập trường duy vật thực tiễn và biện chứng…
Theo nghĩa hẹp thì chủ nghĩa duy vật biện chứng xuất phát từ phạm trù cơ bản là vật chất
và biến đổi(vật chất nghĩa là biến đổi); còn chủ nghĩa duy vật thực tiễn thì xuất phát từ
phạm trù thực tiễn và con người hiện thực; chủ nghĩa duy vật lịch sử thì xuất phát từ
phạm trù thực tiễn và phạm trù hình thái kinh tế xã hội; chủ nghĩa duy vật nhân văn xuất
phát từ phạm trù con người hiện thực và bản chất con người. Nhưng vỉ chủ nghĩa duy vật
thực tiễn đã phát triển thành duy vật lịch sử và hiện nay là duy vật nhân văn nên ít sử
dụng lại thuật ngữ duy vật thực tiễn như một hệ thống riêng. Triết học Mác - Lênin ngày
nay có ba phương diện cơ bản là duy vật biện chứng, duy vật lịch sử - thực tiễn và duy
vật nhân văn như một hệ thống, khối thép không tách rời và nhất quán.
Có thể trình bày triết học Mác theo nghĩa rộng với quan niệm vật chất mang tính xuất
phát nhưng khi trình bày sang triết học xã hội và con người thì phải xuất phát từ con
ngừời hiện thực. Dù chúng ta không trình bày như trước đây phần duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, duy vật nhân văn riêng nhưng không vì vậy không rõ trọng tâm của
những vấn đề ấy. Trên thực tế vấn đề triết học về con người (thực thể thực tiễn- tự nhiên-

là chính. Chúng ta nói lý luận lạc hậu và đổi mới tư duy lý luận nhưng phải hiểu cụ thể lý
luận nào?
Nhưng cũng phải nói lại rằng ý thức chính trị độc đoán và chủ quan trong đang đã thắng
thế trong một thời gian dài sau khi Lênin mất. Sai lầm về tư tưởng như vậy có nguyên
nhân sâu xa là do tàn dư xấu trong xã hội quá mạnh và đảng lại mất cảnh gíac. Còn tại
sao có sai lầm về lý luận là do tư tưởng chính trị sai lầm (chính trị là thống soái- chính trị
kiểu phong kiến). Cái sai chiều sâu nhất là ở đó chứ không phải do "lý giải sai về …triết
học Mác"(Công tác tư tưởng và giảng dạy lý luận trong trường đại học và cao đẳng hiện
nay, sdd, tr. 42). Bởi vì ta có thể hỏi tại sao lý giải sai triết học Mác, hoặc vận dụng, phát
triển sai chủ nghĩa Mác- Lênin? Không thể qui cho nguyên nhân chính là nghiên cứu chủ
nghĩa Mác chưa kỹ, hoặc hoàn cảnh lịch sử (từ đất nước lạc hậu, hoặc trong sự bao vây
của chủ nghĩa tư bản đế quốc)- dù hoàn cảnh lịch sử là cái nguyên nhân cuối cùng, thì
chính tâm lý và tư tưởng kiểu phong kiến tiểu tư sản, thói quan liêu- cái mà Lênin nói
rằng sẽ làm cho chúng ta tiêu vong bắt đầu từ sai lầm về 1ý luận, tư tưởng và cuối cùng là
hành động thực tiễn, nếu chúng ta, hoặc những lãnh tụ cách mạng không chiến thắng
được nó. Tại sao Nguyễn Ai Quốc - Hồ Chí Minh tìm được chân lý gắn chủ nghĩa dân
tộc- chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác Lênin, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội ở
một nước lạc hậu ở phương Đông là Việt Nam trong khi đó một số nhà cộng sản và quốc
tế thứ III lại không hiểu? Hiểu đúng khái niệm khoa học là cần thiết nhưng Hồ Chí Minh
hiểu triết học Mác, chủ nghĩa Mác-Lênin ở tinh thần của nó, vì bản thân khái niệm có hạn
chế của nó (mở miệng ra là sai rồi-Lão tử). Hồ Chí Minh coi rằng chủ nghĩa Mác có ưu
điểm là phép biện chứng hay phương pháp làm việc biện chứng (duy vật). Lênin nói rằng
cái cần mượn vĩnh cửu ở chủ nghĩa Mác là phương pháp luận (theo tôi hiểu là cả phương
pháp duy vật, phương pháp thực tiễn, phương pháp nhân văn- dân chủ, phương pháp biện
chứng).
Có người lại nêu vấn đề tại sao chủ nghĩa Mac Lênin là đúng nhưng lại nhiều người,
nhiều nước hiểu sai, làm sai đến vậy, và sai lâu dài vậy. Có thật chỉ là vận dụng sai
không? Có thể khẳng định những nội dung chung, cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin là
đúng cho một giai đoạn lịch sử lâu dài. Và các ông yêu cầu phải nghiên cứu, phát triển bổ
sung tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử. Nhưng đi vào một số khía cạnh cụ thể thì những thế hệ

Khi chúng ta nói về triết học Mác (C.Mác), chỉ thường nói về hai phương diện - bộ phận
cơ bản (có lẽ dùng từ phương diện chính xác hơn từ bộ phận) cấu thành là chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mà không chú ý phương biện- bộ phận cơ
bản thứ ba là chủ nghĩa duy vật thực tiễn. Chính Mác cho rằng chủ nghĩa duy vật mới của
mình là chủ nghĩa duy vật thực tiễn. Còn chính từ quan niện duy vật về lịch sử theo cách
nói của Ăngghen mà sau này ta gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử. Có thể nói rằng đó là ba
phương diện, ba mặt hay ba bộ phận cơ bản bao hàm lẫn nhau tạo thành triết học Mác
hoàn chỉnh như một khối thép. Đúng như Michel Vađée, chúng ta không thể diễn đạt tư
tưởng của Mác bằng một từ, một phương diện nào đó mà, theo tôi, phải bao gồm cả ba
phương diện cơ bản đó. Theo nghĩa rộng thì chủ nghĩa duy vật thực tiển là bản chất, tính
chất cơ bản và nội dung bao trùm mới mẽ của Mác với tư cách là chủ nghĩa duy vật rất
mới, khác duy vật cũ chứ không chỉ ở tính biện chứng của nó.
Trong giới triết học mácxít có thời đã tranh luận gay gắt về vấn đề này, nhưng hầu như
phương diện duy vật thực tiển - hay theo chúng tôi, về bàn chất, và theo nghĩa hẹp là chủ
nghĩa duy vật nhân văn với tư cách là triết học về con người thực tiễn- hiện thực trong
quá trình lịch sử sáng tạo, đấu tranh và giải phóng, tức phương diện nhân văn của triết
học Mác - vẫn mờ nhạt trong chương trình triết học mácxít. Tuy vậy, theo một tác giả
triết học người Pháp, Michel Vadée, trong tác phẩm Mác nhà tư tưởng của cái có thể (2
tập. Nxb. KHXH, H. 1996) , đã trình bày có hệ thống về chủ nghĩa duy vật thực tiển với
tư cách là "triết học hành động", "triết học của cái có thể", triết học về tư do và đó cũng là
chủ nghĩa nhân bản triết học. Đặc biệt là trong tập 2, tác giả có hẵn một phần và cũng là
toàn bộ nội dung của tập 2 này - Đó là Phần thứ 3: "Khả năng thực tế hay là chủ nghỉa
duy vật thực tiễn". Ở đây tác giả đã phân tích triết học của chủ nghĩa Mác với tư cách là
một "triết học hành động", triết học hoạt động (Mác nhà tư tưởng của cái có thể, Nxb.
KHXH, Hà Nội,. 1996, t. 2, tr.5, 9) như một sự đồng nghĩa. Nói triết học hoạt động rộng
hơn trết học thực tiễn. Chính các nhà triết học Italia, đứng đầu là Gramsci đã có công
phát hiện "triết học praxia" trong triết học Mác. Tư tưởng triết học này của Mác có kế
thừa và phát triển quan niệm của Aríttốt, Hêgel và của Epicuê. Ở phần kết luận tập 2, tác
giả trong mục về Con người với tư cách là tồn tại của cái có thể, đã nêu vấn đề: "Cuối
cùng, ở Mác là cái có thể gì đây? Đối với chúng ta, dường như các khái niệm làm cơ sở

của năng lượng. Mác xem xét hoạt động cả cấp độ hoạt động sinh thành của tự nhiên, của
giới hữu cơ và của hoạt động của con người và tập trung vào lĩnh vực hoạt động của con
người, nhất là hoạt động sản xuất vật chất. Từ phạm trù này, Mác nghiên cứu các phạm
trù quan trọng khác như: nhu cầu và mục đích của hoạt động, giữa khách thể và chủ thể,
tính tất yếu và khả năng, về sự phát triển, tiến bộ, về tha hóa và tự do, sự giải phóng con
người và loài người, tức là đi tới chủ nghĩa nhân văn. Điều này không chỉ thể hiện ở tác
phẩm đầu tay mà đặc biệt sâu sắc và toàn diện ở trong bộ Tư bản - một tác phẩm không
chỉ thể hiện Lôgíchh viết hoa mà còn là tổng hợp sự nhuần nhuyễn của triết học Mác cả
ba phương diện cơ bản: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và duy vật thực tiễn dưới
hình thái triết học kinh tế, tức ở cấp độ triết học cụ thể hơn.
Chủ nghĩa Mác về triết học là vừa duy vật vừa biện chứng như là bản chất và nội dung
chung, nhưng nội dung đặc thù độc đáo là duy vật biện chứng về quá trình phát triển xã
hội. Tuy vậy, nó còn có một phương diện khác cũng rất đặc thù, mới mẽ, bản chất là mặt
thực tiễn, mặt hoạt động sáng tạo, sống động, mặt con người - tiểu vũ trụ. Không có hoạt
động thì không có biến đổi và phát triển kể cả tư nhiên, xã hội và con người Do đó, theo
Vachel Vađée, người ta đã có nhiều cách gọi về triết học này như: Dùng các khaí niệm:
chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học thực tiển, khoa học lịch sử, bản thể luận về họat
động (Mác nhà tư tưởng…, Sđd, t. 2, tr 14) . Dù nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử
không chỉ là về hình thái kinh tế xã hội trong quá trình tiến hóa của nó mà đồng thời cũng
là quá trình hoat động thực tiễn sáng tạo của con người như là hoạt động của tự do, hoạt
động giải phóng. Mác sử dụng khái niệm triết học: "chủ thể" (Mác nhà tư tưởng…, Sđd,
t. 2, tr. 75) , và khái niệm hoạt động như là một thực thể làm thành khái niệm cơ bản, then
chốt của triết học ấy. Với ý nghĩa đó là một thứ triết học chủ thể. Đáng tiếc là mặt này
không được đào sâu, mở rộng trong duy vật lịch sử như là một phương diện mới, theo
chiều sâu mà sự phát triển triển của xã hội không chỉ về mặt kinh tế xã hội mà cốt lõi là
sự phát triển trong bản chất của của con người với toàn bộ năng lực của nó. Nói cách
khác triết học thực tiển củng tức là chủ nghĩa duy vật nhân văn, theo nghĩa rộng, triết học
toàn diện về con người- không được phát triển như một hệ thống vấn đề. ở chiều sâu. Do
đó, trong các giáo trình triết học, ta thấy nội dung cơ cấu hình kinh tế xã hội mà không
thấy hết chiều sâu hoạt động và chiều sâu con người vơí tư cách là một thực thể, từ đó

học chứ không chỉ dừng lại triết học xã hội - duy vật lịch sử nói chung.
Tuy vậy, cũng cần thấy rằng trong tác phẩm trên tác giả của nó cũng chỉ phân tích nhiều
vấn đề hoạt động thực tiễn, vấn đề tư do ở góc độ duy vật lịch sử , duy vật thực tiễn nhiều
hơn, còn khía cạnh cơ cấu, động lực, bản chất, quá trình phát triển của con người chưa
đây đủ. Hơn nữa với phạm trù thực tiễn hay hoạt động là thiên về mặt lịch sử xã hội mà
chưa bao quát hết tư tưởng về con người. nhất là các khái niệm liên quan như như cầu, lợi
ích, động cơ, bản chất, cơ cấu xu hướng tiến hóa của thực thể người. Phạm trù hoạt động
thực tiễn có một ngã đi vào duy vật biệnchứng, một ngã đi vào chủ nghĩa duy vật lịch sử,
một ngã đi vào duy vật nhân văn- duy vật thực tiễn. Do đó, theo chúng tôi cần xây dựng
bộ phận, phương diện mới của triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật
nhân văn- xét theo bản chất, trong đó bao hàm và dựa vào phát triển triển chính chủ nghĩa
duy vật thực tiễn - xét theo nguồn gốc - bản thể luận nói trên. Chủ nghĩa duy vật nhân
văn vẫn lấy phạm trù hoạt động thực tiễn làm một phạm trù xuất phát, cơ bản, đồng thời
coi phạm trù bản chất con người, cũng là một phạm trù xuất phát nữa đồng thời coi các
phạm trù sự phát triển tự do và nhân đạo của con người là những phạm trù nền tảng. Chủ
nghĩa duy vật lịch sử bàn về bản thể xã hội nóí chung trong quá trình lịch sử, còn chủ
nghĩa duy vật nhân văn bàn về bản thể con người và sự phát triển con người với tư cách
là cá nhân noí chung.
Do vậy, ba ngôi: tự nhiên - xã hội - và con người hay thiên - địa - nhân là tam vị nhất thể
phải đươc thể hiện trong triết học Mác - Lênin ngày nay, như Hồ Chí Minh đã đưa Dân
tộc học phương Đông vào chủ nghĩa Mác Lênin vậy.
Với cách tiếp cận chủ nghĩa duy vật thực tiễn hay nói đầy đủ hơn từ bản chất của nó là
chủ nghĩa duy vật nhân văn. Từ đó, theo cách nói của AndréJosel, chính là "Tiến tới xây
dựng lại triết học mácxít"- tên một cuốn sách xuất bản tại Paris, năm 1984 (Mác nhà tư
tưởng…, Sđd, t. 2, tr 86) .
Điều đó theo chúng tôi có nghĩa là trtên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, chúng ta cần phát
hiện lại triết học Mác, nắm lấy bản chất, phương diện - bộ phận cơ bản cấu thành từ đó
tái cấu trúc lại triết học âý, bổ sung những vấn đề mới, nâng cao nó. Xây dựng các giáo
trình triết học cũng là một quá trình biện chứng chứ
hông phải một cách giáo điều, khô cứng, một lần là xong và theo một khuôn mẫu nhất

Trước Mác, các nhà triết học thường chỉ nghiên cứu làm rõ mặt nhân bản, tự nhiên, mặt
đạo đức, mặt nội tâm của con người trong quan hệ với vũ tru, như trong đạo Phật, đạo
Lão, đạo Khổng. Ở đây có nhiều hạt nhân hợp lý cần nghiên cứu kế thừa.
Triết học tư sản hiện đại, một mặt tiếp tục nghiên cứu khuynh hướng triết học khoa học,
hướng ngoại, thì maạ¨t khác lại đi vào nghiên cứutriết học nhân bản, phi duy lý, mang
tính hướng nội dù có mặt duy tâm nhưng đã có bước tiến là đi sâu vào nghiên cứu con
ngưới vô thức, tâm linh. Đó là chủ nghĩa Freud, chủ nghĩa Hiện sinh, thượng và hạ, đặc
biệt là nhân loại học triết học. Các khuynh hướng của chủ nghĩa nhân bản nói trên dù sao
cũng đã nêu lên được những vấn đề cụ thể trong đời sống nội tâm của con người như kết
cấu nhân cách, vấn đề vô thức, trực gíc, nhưng yếu tố tâm lý, tâm linh, những trạng thái
tâm lý của cái tôi (vui, buồn, cười khóc, cô đơn, buồn phiền, thất vọng…), vấn đề sinh
mệnh.trong chiều sâu bản thể, nhất là khi cái tôi trong xã hội tư bản chủ nghĩa rơi vào
khủng hoảng, bế tắc.Riêng nhân loại học triết học đã cố gắngđưa ra đối tượng của mình
như là sự tiếp cận toàn diện đối với con người trong mối liên hệ với chính mình, với lịch
sử, với vũ trụ và Thượng đế. Nhân loại học hay nhân học là một ngành khoa học được
thừa nhận ngày nay, nhưng nhân loại hoại học còn là về mặt triết học, tức vấn đề thế giới
quan. Về mặt triết học, nó bao gồm nhân loại học sinh vật học, nhân lạoi học tâm lý, nhân
loại học văn hóa. Các nhà nhân loại học về sau này cũng đã nhận thấy mặt còn hạn chế là
vấn đề đặt ra còn mang tính nhị nguyên, lại chưa chú ý đếm mặt xã hội chính trị của con
người. Nhưngcách đặt vấn đề của nhân loại học triết học có khá nhiều mặt cần phải quan
tâm nghiên cứu với tinh thần khách quan biện chứng.
Đúng là nhân loại học đã không chú ý, hoặc lãng tránh vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị
của con người, tức là nghiên cứu tính hiện thực của con người trong kinh tế và chính trị
từ xã hội tư bản chủ nghĩa, chứ không chỉ là mặt sinh vật học và văn hóa.Về mặt này quả
là họ không vượt được chủ nghĩa Mác.
Trước uy tín của chủ nghĩa Mác về vấn đề con người, cũng đã có khuynh hướng muốn
kết hợp chủ nghĩa Freud, hoặc chủ nghĩ Hiện sinh với chủ nghĩa Mác Tuy có mặt hợp lý
nào đó nhưng họ thường nhìn qua lăng kính của chính chủ nghĩa Freud hay chủ nghĩa
Hiện sinh, làm sai lạc quan điểm mác xít về con người xã hội, nên nhìn chung chưa có
bước tiến đáng kể nào.

Ngày nay một số nước ở châu Á, phương Đông đã thực hiện sự phát triển kinh tế xã hội
bằng sự kết hợp văn hóa, triết lý Đông - Tây rất thành công.
Việc phát triển triết học hiện đại về con người mà giới triết học đang quan tâm thì khá
nhiều, nhưng chung quy là:hệ con người sinh học trong sự liên thông với bản thể vũ trụ;
vấn đề con người tâm linh, con người sinh thái, khả năng ngoại cảm, vô hình, năng lực
trao đổi thông tin; vấn đề con người kinh tế với con người chính trị, con người văn hóa,
những tiềm năng con người cần phát triển; vấn đề phát triển nhân cách con người, chỉ số
phát triển người; vấn đề đặc thù và phổ biến trong bản chất, cấu trúc con người; sự tha
hóa, què quặt trong tâm hồn, đạo đức củia con người hiện đại và sự nghiệp giải phóng
con người trong quan hệ với giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội
Những vấn đề trên đây có thể gợi mở thêm cho sự tổng hợp, tích hợp triết họcvề con
người. Mà theo chúng tôi với cách tiếp cận tổng hợp- tích có triển vọng nhất, khắc phục
sự cô lập, chia cắt con người của các khoa học chuyên ngành và tư duy phân tích, đó là
chủ nghĩa duy vật nhân văn. Chủ nghĩa duy vậy nhân văn như thế là một bộ phận mới, cơ
bản của triết học Mác hiện đại. Vấn đề chủ nghĩa nhân văn đã được nhiều người nghiên
cứu nhưng phải nâng lên tầm một triết học.
Chủ nghĩa duy vật nhân văn như thế là khác xa với nhân loại học triết học, dù có kế thừa
từ đó cũng như nhiều lý luận nhân bản khác trên nền tảng triết học Mác, cho nên nó lại có
thể mang lại cho chủ nghĩa nhân văn cũ một phương hướng phát triển mới đúng hơn,
Triiết học Mác cũng như các khoa học phải có khả năng sinh thành, phân hóa và tổng hợp
mới, tạo ra bộ phận mới, trình độ mới, giai đoạn mới theo sự phát triển của thực tiển và
lịch sử khoa học. Tất nhiên, triết học Mác sẽ phát triển ở nhiều phương diện của nó,
nhưng theo chúng tôi thì phát triển triết họcvề con người là xu hướng và vấn đề lớn nhất
và quan trọng nhất.
Như thế triết học Mác sẽ hoàn chỉnh ở cả ba bộ phận lớn về vũ trụ, xã hội và con người,
tạo thành một chỉnh thể. Chủ nghĩa duy vật nhân văn là triết học khoa học toàn diện về
con người đang phát triển trong thời đại ngày nay. Đó là cơ sở triết học trực tiếp cho
chiến lược phát triển con người, trước hết ở nước ta, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đây
không phải là vấn đề chữ nghĩa mà là một cách tư duy triết học tổng hợp- thống hợp khả
dĩ cho ta dễ năm được hệ thống và bản chất điều muốn diễn đạt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status