Tài liệu Công cụ định giá vốn điều chuyển - Pdf 10

Công cụ định giá vốn điều chuyển
Định giá vốn điều chuyển (FTP) được định nghĩa là một hệ thống các cơ chế kế
toán - quản lý nhằm đo lường giá trị của chi phí cơ hội của các khoản vốn huy
động được và sử dụng đầu tư.
1. Tổng quan về Định giá vốn điều chuyển và ứng dụng trong quản lý Tài sản
có/Tài sản nợ trong ngân hàng thương mại
Giới thiệu về công cụ định giá vốn điều chuyển
Định giá vốn điều chuyển (FTP) được định nghĩa là một hệ thống các cơ chế kế
toán - quản lý nhằm đo lường giá trị của chi phí cơ hội của các khoản vốn huy
động được và sử dụng đầu tư. Nếu như trong một doanh nghiệp sản xuất, chi phí
nguyên vật liệu là một phần của báo cáo lỗ, lãi kinh doanh thì trong ngân hàng, chi
phí vốn tương tự như “chi phí của hàng đã bán - giá thành” (ít nhất thì cũng đúng
với các sản phẩm tài sản có). Việc định giá vốn điều chuyển chính xác rất quan
trọng trong việc xác định đúng khả năng sinh lợi của từng đơn vị kinh doanh, từng
sản phẩm, theo từng khách hàng…Ngoài ra, kết quả phân tích FTP có thể giúp xác
định bộ phận nào tạo ra nhiều lợi nhuận nhất trong báo cáo lỗ, lãi.
FTP có mối liên hệ mật thiết với phương pháp và thực tiễn quản lý Tài sản có/Tài
sản nợ (TSC/TSN) của một ngân hàng thương mại. Việc hiểu rõ các bộ phận khác
nhau trong bảng cân đối kế toán liên hệ qua lại như thế nào là rất cần thiết đối với
quản trị ngân hàng thương mại. Một hệ thống FTP được xây dựng tốt sẽ giúp ngân
hàng xác định được, định giá được và quản lý rủi ro lãi suất, đưa ra những động
lực phù hợp cho các đơn vị kinh doanh, đồng thời nhận diện được tác động của
chuyển giao rủi ro lãi suất trong bộ phận cân đối nguồn vốn
Bằng việc chuyển giao rủi ro lãi suất sang bộ phận cấp vốn trong ngân hàng, hệ
thống FTP giúp trưởng các bộ phận kinh doanh tập trung vào các quyết định kinh
doanh cơ bản (bao gồm cả các quyết định về rủi ro tín dụng), chuyển giao việc
quản lý đầu cơ lãi suất cho các nhà quản lý rủi ro lãi suất chuyên nghiệp. Tách
bạch rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng là một trong những mục tiêu chủ yếu của quy
trình FTP.
Rất nhiều nguyên tắc chung đã được phát triển nhằm hướng dẫn xây dựng một hệ
thống FTP trong ngân hàng, trong đó có cả việc hướng dẫn số dư loại nào cần phải

- Tách bạch rủi ro lãi suất khỏi bộ phận kinh doanh và tập trung việc quản lý rủi ro
lãi suất tại một đơn vị riêng;
- Nâng cao chất lượng các quyết định định giá TSC và TSN;
- Hỗ trợ bộ phận quản lý TSC/TSN và tách bạch rủi ro tín dụng với rủi ro lãi suất;
- Định lượng ảnh hưởng của chênh lệch vốn lên thu nhập thuần từ lãi;
- Đánh giá về từng bộ phận trong ngân hàng dựa theo ảnh hưởng kinh tế của từng
bộ phận đó lên tổng thu nhập của ngân hàng;
- Sử dụng FTP để điều chỉnh hoạt động của các bộ phận nhân viên được đo lường
hiệu quả hoạt động.
Rất khó, nếu không muốn nói là không thể xây dựng được một hệ thống FTP đạt
được tất cả các mục đích có thể nghĩ ra. Tuy nhiên, việc quan trọng là phải xem
xét mục tiêu nào là quan trọng nhất. Hệ thống xây dựng khác nhau sẽ khuyến
khích các trưởng bộ phận trong ngân hàng có những hành vi phản ứng khác nhau.
Do đó, hệ thống chọn để xây dựng phải nhằm mục đích gợi ra được những hành vi
phản ứng mong muốn đối với các bộ phận. Quan trọng là ban lãnh đạo vẫn nắm
bắt được và phân loại được các hành vi phản ứng đó. Một tiền đề quan trọng là hệ
thống FTP phải thực sự phản ánh được các chi phí cơ hội của từng hoạt động cung
cấp vốn và sử dụng vốn.
Hình 1

Hình 1 trình bày tổng quan về quy trình FTP. Trong mô hình, trung tâm quản lý
vốn tập trung sẽ “mua” vốn từ các bộ phận tạo TSN của ngân hàng và “bán” vốn
cho các bộ phận tạo TSC (có nhu cầu vốn) của ngân hàng. Trung tâm quản lý vốn
tập trung này tiến hành mua và bán vốn theo những mức lãi suất phù hợp với
những đặc điểm về định giá lại của TSC đã đầu tư hoặc TSN đã mua, qua đó cân
đối vốn cho mỗi giao dịch. Trong trường hợp thừa hoặc thiếu vốn, trung tâm quản
lý vốn tập trung sẽ giải quyết trên thị trường tiền tệ. Theo cách này, mọi tác động
của rủi ro chênh lệch lãi suất sẽ được tập trung vào bộ phận quản lý vốn và từng
đơn vị kinh doanh sẽ tập trung vào xử lý rủi ro tín dụng của bộ phận mình. Chênh
lệch lãi suất thuần của bộ phận tạo TSC (ví dụ: cho vay) phản ánh mức chênh lệch

giá trị thị trường có thể là thước đo hiệu quả hơn giá trị ghi sổ. Và trong việc quản
lý TSC/TSN, những thay đổi của giá trị thị trường khi lãi suất thay đổi có thể được
sử dụng bổ trợ trong phân tích thu nhập thuần từ lãi của ngân hàng. Tuy nhiên,
trên quan điểm của quản lý vốn, những số dư không ghi sổ không ảnh hưởng gì tới
báo cáo thu nhập của ngân hàng và do đó, có thể bỏ qua một bên trong quản lý
FTP.
Các mức lãi suất FTP sẽ do bộ phận quản lý vốn tính toán xác định. Bộ phận quản
lý vốn (thường là một bàn giao dịch thị trường tiền tệ hoặc một bộ phận thuộc
ngân quỹ) thường hiểu rõ những giá trị thị trường (hay chi phí cơ hội) của vốn. Do
vậy, bộ phận này có trách nhiệm xác định tỷ suất lãi FTP và tỷ suất thu nhập FTP.
Tuy nhiên, việc định giá vốn điều chuyển phải được Ủy ban quản lý TSC/TSN rà
soát lại định kỳ xem nó có được xác định chính xác hay không.
Các mức lãi suất FTP áp dụng phải giúp các bộ phận kinh doanh trong ngân hàng
tránh được rủi ro chênh lệch. Rủi ro chênh lệch phải được định giá tập trung và
quản lý bởi bộ phận quản lý vốn. Các bộ phận kinh doanh phải nhận được/trả phần
thu nhập FTP/phí FTP phản ánh được giá trị kỳ hạn của vốn. Các mức lãi suất phải
được lựa chọn từ đường cong lợi suất FTP để phù hợp với kỳ hạn tái định giá của
các TSC bị tính phí hoặc các TSN được trả phí. Bộ phận quản lý vốn sẽ đưa ra
đường cong lợi suất FTP của mình. Các mục hạch toán trong bảng cân đối kế toán
trong kỳ hạn của đường cong lợi suất sẽ được định giá theo mức lãi suất tương
ứng với kỳ hạn tái định giá của nó.
Có nhiều phương pháp để xây dựng đường cong lợi suất FTP. Một số ngân hàng
sử dụng đường cong lợi suất trái phiếu Kho bạc (rủi ro bằng 0) cộng với một phần
chênh lệch để bù đắp rủi ro thị trường và rủi ro lớn mang tính tổ chức. Một số
ngân hàng khác sử dụng đường cong lợi suất giao dịch hoán đổi thay cho chi phí
vay vốn trên thị trường. Xét theo khía cạnh quan điểm, tất cả các phương pháp này
đều nhằm lượng hoá chi phí bán vốn và chi phí mua vốn trên thị trường mở.
Việc định giá vốn sử dụng đầu tư và vốn huy động được phải bám sát nguyên lý
trùng hợp thời gian đáo hạn (thời hạn tái định giá hoặc kỳ hạn) đảm bảo có lãi.
Việc định giá phải phản ánh được đường cong lợi suất và các mức lãi suất mà

tổng tài sản cũng như giàu truyền thống kinh nghiệm nhất) đều chưa thực sự nắm
rõ vai trò của việc áp dụng “khái niệm” công cụ FTP trong quản lý TSC/TSN. Tất
nhiên, về mặt đặc thù, mỗi ngân hàng đang hoạt động đều có những hệ thống quản
lý riêng (ví dụ: Ủy ban ALCO), nhưng thực sự công tác quản lý TSC/TSN mới
dừng ở cấp độ khớp kỳ hạn.
Một cách điển hình, mô hình tổ chức của các NHTM Việt Nam hiện nay là trụ sở
chính và các chi nhánh, trong đó mỗi chi nhánh hoạt động độc lập tương đối. Chi
nhánh đó có bảng cân đối riêng, trong đó có phân loại TSC và TSN theo kỳ hạn và
theo mức độ rủi ro. Nếu như tách biệt vấn đề về hạch toán, có thể coi mỗi chi
nhánh như một ngân hàng độc lập. Và nếu như trên cùng một địa bàn có nhiều hơn
một chi nhánh của một ngân hàng, thì bản thân các chi nhánh đó cũng cạnh tranh
với nhau tương tự như đối với một ngân hàng khác.
Thực tiễn quản trị dễ dàng đối với trụ sở chính của các NHTM Việt Nam là giao
chỉ tiêu kế hoạch cho các chi nhánh của mình, trong đó yêu cầu các chi nhánh của
mình phải đạt các chỉ tiêu về TSN, TSC và theo đó là lợi nhuận. Thông thường
kèm theo đó không bao gồm các hỗ trợ về quản trị rủi ro, đặc biệt rủi ro thanh
khoản. Một số ngân hàng thường yêu cầu chi nhánh của mình làm luôn việc tự cân
đối TSN và TSC, mà phần lớn là nguồn vốn huy động và cho vay tín dụng. Trong
khi đó, ở cấp độ chi nhánh, việc quản lý rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản là
không thể thực hiện hiệu quả. Chính việc phi tập trung hóa công tác quản lý vốn
này khiến cho bản thân ngân hàng gặp phải rủi ro cực lớn. Thứ nhất, rủi ro lãi suất:
Do các chi nhánh được yêu cầu tự cân đối vốn kinh doanh theo nghĩa tự huy động
TSN chi nhánh (tiền gửi dân cư và tiền gửi doanh nghiệp) để dùng làm nguồn cho
các TSC của chi nhánh (chủ yếu là cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, tài trợ
thương mại ); một biến động tương đối lớn trong lãi suất áp dụng cho TSN trong
khi mức lãi suất của TSC có độ trễ lớn hơn sẽ tạo ngay lập tức một áp lực lên hoạt
động kinh doanh của chi nhánh gây ra rủi ro lãi suất. Đối với loại rủi ro này, một
số NHTM Việt Nam áp dụng cơ chế khống chế trần lãi suất huy động và sàn lãi
suất cho vay như một hình thức quản trị kiểu “song sắt”. Cơ chế này dẫn đến hậu
quả tất yếu là cạnh tranh trong chính nội bộ các chi nhánh của ngân hàng đối với

nghiệp đều cao hơn bộ phận khách hàng cá nhân, do một dự án tín dụng của một
khách hàng doanh nghiệp có thể lên nhiều trăm tỷ đồng; trong khi đó, hoạt động
tín dụng cá nhân thường ở mức dưới một tỷ đồng. Và như vậy, hầu như các ngân
hàng tập trung nguồn lực chủ yếu phục vụ khu vực khách hàng doanh nghiệp,
trong khi khu vực khách hàng cá nhân lại không được chú trọng. Việc đánh giá
hiệu quả ở đây chủ yếu căn cứ vào các số liệu tài chính phản ánh trên hệ thống tài
khoản sổ cái và báo cáo thu nhập chi phí mà không tính toán được một cách thực
tế khu vực nào đóng góp bao nhiêu vào tổng lợi nhuận của ngân hàng.
3. Ví dụ minh họa về công cụ FTP trong phân tích hiệu quả bộ phận kinh
doanh
Bảng 1: Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh không có mô hình FTP
Mục
Khách
hàng
doanh
nghiệp
Lãi suất áp
dụng cho
KH doanh
nghiệp
Khách
hàng cá
nhân
Lãi suất
áp dụng
cho KH
cá nhân
Tổng
cộng
trong

Lãi suất
hoặc tỷ
suất
FTP
Khách
hàng cá
nhân
Lãi suất
hoặc Tỷ
suất
FTP
Ngân
quỹ nội
bộ
Tổng
cộng
trong
NH
Thu nhập từ
lãi
8.000 10% 5.600 14% 13.600
Chi phí
nhận vốn
(6.400) 8% (2.800) 7% 9.200
FTP
(Chênh
lệch)
1.600 2.800 9.200 13.600
Chi phí lãi 0% (3.500) 5% (3.500)
Thu nhập

- Lợi nhuận bộ phận khách hàng doanh nghiệp làm ra không chênh lệch nhiều so
với lợi nhuận bộ phận khách hàng cá nhân làm ra. Do vậy, quyết định phân bổ
nguồn lực phải tương ứng.
- Tổng lợi nhuận của ngân hàng không thay đổi nhưng bộ phận ngân quỹ nội bộ
cũng là bộ phận tạo ra lợi nhuận do thực hiện nghiệp vụ quản lý rủi ro lãi suất.
- Rủi ro lãi suất được chuyển từ bộ phận không có chuyên môn quản lý rủi ro lãi
suất là khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân sang bộ phận chuyên
nghiệp là ngân quỹ nội bộ.
- TSC/TSN được quản lý tập trung và không nhất thiết theo phương thức cũ là
khớp kỳ hạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status