TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài: Các biện pháp quản lý quá trình đào tạo hệ trung học
chuyên nghiệp tại Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng
cán bộ thuộc Trường Đại học Hải Phòng
1
MỤC LỤC
Các bi n pháp qu n lý quá trình o t o h trung h c chuyên nghi p t i Trung ệ ả đà ạ ệ ọ ệ ạ
tâm o t o b i d ng cán b thu c Tr ng i h c H i PhòngĐà ạ ồ ưỡ ộ ộ ườ Đạ ọ ả 1
Các bi n pháp qu n lý quá trình o t o h trung h c chuyên nghi p t i Trung ệ ả đà ạ ệ ọ ệ ạ
tâm o t o b i d ng cán b thu c Tr ng i h c H i PhòngĐà ạ ồ ưỡ ộ ộ ườ Đạ ọ ả 2
Danh m c các ch vi t t t trong lu n v nụ ữ ế ắ ậ ă 4
M uởđầ 4
1. Lý do ch n t i:ọ đề à 4
Ch ng 1: C s lý lu n v qu n lý quá trình o t o h trung h c chuyên nghi pươ ơ ở ậ ề ả đà ạ ệ ọ ệ
6
T i li u tham kh oà ệ ả 53
Ph l cụ ụ 56
Các biện pháp quản lý quá trình đào tạo hệ trung học
chuyên nghiệp tại Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng cán bộ
thuộc Trường Đại học Hải Phòng
Thư cảm ơn!
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Các thầy giáo, cô giáo, cán bộ công nhân viên trong Khoa Sư phạm, Khoa Sau đại học, Trung
tâm thư viện - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện.
14 TCCN trung cấp chuyên nghiệp
15 THCN trung học chuyên nghiệp
16 XHCN xã hội chủ nghĩaMở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, vấn đề nguồn nhân lực có trí tuệ và tay
nghề cao đã trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước. Đảng và
Nhà nước ta đã đề ra các chủ trương, chính sách đổi mới giáo dục; thực sự coi giáo dục là quốc
4
sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài phù hợp với
sự phát triển của khoa học công nghệ.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII, Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động
lực quan trọng nhất thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, là điều kiện tiên
quyết để phát triển nguồn nhân lực con người”.
Muốn đưa đất nước phát triển, thực hiện được công nghiệp hóa - hiện đại hóa cần chú trọng đào
tạo nguồn nhân lực. Quá trình đào tạo nguồn nhân lực nước ta sau nhiều năm cải cách, đặc biệt
mạnh mẽ từ năm 1996 trở lại đây đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào. Số dân biết chữ đạt
tới 90% trong tổng dân số. Chương trình phổ cập giáo dục Tiểu học được hoàn thành vào năm
2005. Đa số người dân có tinh thần hiếu học và trọng đạo học. Song để đất nước đạt được nhiều
bước tiến hơn nữa, ngành giáo dục và đào tạo cần điều hòa quá trình đào tạo nguồn nhân lực
giữa "thầy" và "thợ". Thực tế chúng ta đang rất cần và rất thiếu những người lao động trực tiếp
có tay nghề cao. Vẫn còn tình trạng lãng phí nguồn nhân lực đã được đào tạo trình độ cao bởi
thiếu tay "thợ" giỏi. Sự lãng phí nguồn lực con người đồng thời kéo theo sự hao tốn tiền bạc,
công của, thời gian và tiềm ẩn nguy cơ làm mất đi cơ hội phát triển đất nước.
Khắc phục bất cập trên Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28
tháng 12 năm 2001 về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 20010”. Chiến lược
ghi rõ: “Đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý thức kỷ luật lao
- Khách thể: Quá trình đào tạo hệ THCN ngành HCVT và TBTN trường học do Trung
tâm ĐTBDCB thuộc Trường ĐHHP tổ chức.
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý quá trình đào tạo hệ THCN ngành HCVT và
TBTN tại Trung tâm ĐTBDCB - Trường ĐHHP.
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản lý quá trình đào tạo hệ THCN ngành HCVT và
TBTN trường học ở Trung tâm ĐTBDCB - Trường ĐHHP giai đoạn 2002 - 2007.
5. Giả thuyết khoa học:
Tác động vào khâu quản lý không chỉ dừng lại ở nội dung quản lý mà sẽ tác động lên tất cả các
nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Trong đó bao gồm: hệ thống chương trình, giáo
trình, giáo viên cũng như môi trường và phương pháp giảng dạy - học tập, v.v Vì vậy cải tiến
khâu quản lý quá trình đào tạo sẽ tác động quyết định tới chất lượng đào tạo hệ THCN.
Nếu đổi mới và hoàn thiện khâu quản lý quá trình đào tạo thì sẽ nâng cao được chất lượng đào
tạo hệ THCN.
6. ý nghĩa của luận văn:
Luận văn làm sáng tỏ công tác quản lý quá trình đào tạo hệ THCN
Đề xuất những biện pháp quản lý quá trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo hệ THCN
tại Trung tâm ĐTBDCB - Trường ĐHHP.
Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu bổ ích cho các cơ sở đào tạo hệ THCN trong thành phố Hải
Phòng nói riêng, trên cả nước nói chung.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, quan điểm về quản lý giáo dục của Đảng và Nhà nước ta.
Đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể là:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp thống kê, tập hợp và phân tích tư liệu
- Phương pháp khảo sát thực tế (thăm dò, phỏng vấn)
- Phương pháp chuyên gia
8. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được
cấu trúc thành 3 chương:
1.1.1.2. Đào tạo:
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì: Từ "đào" có nghĩa là sự giáo hóa, tôi luyện. Từ "tạo" có
nghĩa là làm nên, tạo nên. Và từ "đào tạo" có nghĩa là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu
biết, có nghề nghiệp.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường trong đề tài KX07-14 có nêu: "Đào tạo là quá trình hoạt động
có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,
thái độ… để hình thành và hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào
đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả". [18, tr.11]
Theo tác giả Mạc Văn Trang thì: "Đào tạo là hình thành kiến thức, thái độ, kỹ năng nghề nghiệp
bằng một quá trình giảng dạy, huấn luyện có hệ thống theo chương trình quy định với những
chuẩn mực nhất định (chuẩn quốc gia hay quốc tế)". [49]
Với các cách hiểu như vậy thì đào tạo chính là một phạm trù của giáo dục để chỉ riêng lĩnh vực
giáo dục nghề nghiệp, với một trình độ nghề nghiệp nhất định. Thời gian đào tạo tùy vào mức độ
đạt được của kỹ năng nghề nghiệp đề ra. Trình độ đào tạo nghề ở nước ta được phân cấp thành
các bậc như: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng.
1.1.1.3. Dạy học:
* Khái niệm dạy học:
"Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội
đã tích luỹ được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất năng lực cá nhân".
[38, tr.18]
* Quá trình dạy học:
Dưới góc độ của lý thuyết hoạt động, quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn bao gồm hoạt
động dạy và hoạt động học. Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, cái
này chế ước và là tác động quan trọng của cái kia. Sự tương tác giữa dạy và học mang tính cộng
tác (cộng đồng và hợp tác) trong đó hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo. Quá trình dạy-học có thể
được lược hóa thành sơ đồ như sau:
Sơ đồ1.1: Quá trình dạy - học cộng tác
7
Trong đó:
- Hệ thống khái niệm khoa học là nội dung dạy-học, là đối tượng của sự lĩnh hội
- Theo F.W.Taylor thì: "Quản lý là biết chính xác điều người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã
hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất".
- Theo H.Koontz thì: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực
hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức)".
- Theo PGS.TS. Đặng Quốc Bảo thì: " "Quản" là giữ gìn, "lý" là chỉnh sửa. "Quản lý" là quá
trình chủ thể tác động vào khách thể nhằm giữ cho hệ không bị lạc hậu (trì trệ) và rối ren (phát
triển không bền vững)". [27, tr.1]
8
Nếu xét quản lý với tư cách là một hành động thì có thể có định nghĩa như sau:
Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý (người quản lý) để chỉ huy, điều khiển,
hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của khách thể quản lý (người bị quản lý)
theo đúng ý chí của nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan và nhằm đạt tới mục đích
chung của tổ chức.
Trong định nghĩa này cần lưu ý một số đặc điểm cơ bản sau:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động mang tính hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Mối
quan hệ là này là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
- Quản lý là hoạt động của con người.
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan.
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại.
Ngày nay cùng với sự tiến bộ trong nhận thức của con người, tầm quan trọng của quản lý đã
được nâng lên thành một nghệ thuật (nghệ thuật quản lý), thành một nghề (nghề quản lý). Trong
quản lý vừa có tính tất yếu khách quan, vừa có tính chủ quan; vừa có tính giai cấp, vừa có tính
kỹ thuật; vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật; vừa có tính pháp luật, vừa có tính xã hội
rộng rãi; v.v Chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất. Đồng thời đó cũng là những
yêu cầu đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục phải nắm bắt và điểu khiển để duy trì hoạt động của tổ
chức một cách có hiệu quả nhằm góp phần làm tăng tiến trình phát triển xã hội.
1.1.2.2. Quản lý giáo dục:
Nếu xét trong một quá trình giáo dục - đào tạo cụ thể (tầm vi mô) có thể hiểu quản lý giáo dục là
một chuỗi các hoạt động theo một hệ thống toàn vẹn bao gồm các yếu tố: mục tiêu, nội dung,
1.1.3. Chất lượng quá trình đào tạo hệ THCN:
1.1.3.1. Chất lượng:
Cũng giống như thuật ngữ "quản lý", thuật ngữ "chất lượng" cho tới nay vẫn còn tồn tại nhiều
cách hiểu khác nhau. Nhưng tựu chung lại thì thuật ngữ "chất lượng" là để phản ánh thuộc tính
đặc trưng cho giá trị, bản chất của sự vật và tạo nên sự khác biệt (về chất) giữa sự vật này với sự
vật khác. [39, tr.257]
Thuật ngữ "chất lượng" được dùng cho cả ý nghĩa chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối.
Trong đề tài này thuật ngữ chất lượng mà chúng ta hướng tới là chất lượng tuyệt đối. Chất lượng
tuyệt đối thường được dùng với ý để chỉ chất lượng hàng đầu, chất lượng cao. Chất lượng tuyệt
đối cũng có khi dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta gán cho đồ vật, sản phẩm, dịch vụ
(có chất lượng cao nhất theo kỳ vọng). Theo quan điểm này thì một đồ vật, một sản phẩm hay
một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng một cách thỏa mãn được những yêu cầu
của người tiêu thụ và người sản xuất đặt ra.
Như vậy xét từ góc độ quản lý, có thể quan niệm chất lượng là sự thực hiện được mục tiêu và
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
1.1.3.2. Chất lượng đào tạo:
Chất lượng đào tạo được hiểu là mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đề ra đối với một chương
trình đào tạo. [39, tr.259]
Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng với đặc trưng sản phẩm là "con người lao động" chính là kết
quả của quá trình đào tạo. Chất lượng được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và
giá trị sức lao động (hay năng lực hành nghề) của người tốt nghiệp tương ứng với một mục tiêu,
chương trình theo các ngành nghề cụ thể. Bên cạnh đó, quan niệm về chất lượng đào tạo còn
phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động. Ví dụ
như: tỉ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc, khả năng phát
triển nghề nghiệp được đào tạo, v.v
1.1.3.3. Chất lượng quá trình đào tạo hệ THCN:
Chất lượng quá trình đào tạo hệ THCN có thể hiểu là mức độ đạt được mục tiêu đề ra của
chương trình đào tạo hệ THCN. Trong giai đoạn CNH, HĐH và hội nhập hiện nay nó được thể
hiện thông qua giá trị con người lao động XHCN mới. Đó là những Con Người với đúng ý nghĩa
viết hoa của từ, bao gồm đủ cả: đức, trí, thể, mĩ. Con người có lý tưởng độc lập và XHCN; có
triển thêm cả hình thức đào tạo không chính quy như học hàm thụ, học buổi tối dành cho các
công nhân được học tập không thoát ly sản xuất. Sự phát triển này được thể hiện cụ thể ở con số
thống kê trong năm 1960 và năm 1965 dưới bảng sau:
Bảng 1.1: Quy mô đào tạo hệ THCN trong những năm 60 của thế kỷ XX
Năm thống kê Số trường Số học sinh Số giáo viên Ngành học
1960 65 30000 1631 79
1965 112 42626 3000 140
Nguồn: Số liệu thống kê giáo dục - đào tạo
của Trung tâm thông tin Quản lý giáo dục - Bộ Giáo dục và đào tạo
Cho đến năm 1970 hệ thống giáo dục chuyên nghiệp lâm vào cuộc khủng hoảng. Có sự giảm
mạnh về quy mô đào tạo và số lượng giáo viên. Nguyên nhân là do tình hình chiến tranh căng
thẳng và ác liệt diễn ra trên toàn miền Bắc nên không có điều kiện đầu tư phát triển giáo dục.
Trước thực tế đó, ngày 24-07-1970 Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết 183/CP đề cập việc cải
tiến công tác đào tạo bồi dưỡng hệ THCN. Nhờ đó hệ thống giáo dục THCN khôi phục lại được
thế ổn định. Sự ổn định này được thể hiện ở con số cụ thể trong bảng thống kê sau:
Bảng 1.2: Quy mô đào tạo hệ THCN sau đợt khủng hoảng năm 70 của thế kỷ XX
Năm thống kê Số trường Số học sinh Số giáo viên
1973 186 70000 7000
1954 300 42626 3000
Nguồn: Số liệu thống kê giáo dục - đào tạo
của Trung tâm thông tin Quản lý giáo dục - Bộ Giáo dục và đào tạo
11
Sang đến năm học 1985 - 1986, giáo dục THCN lại bước vào khủng hoảng. Học sinh đào tạo ra
không được sử dụng hoặc không được bố trí đúng trình độ và mục tiêu đào tạo. Giáo viên thiếu
việc làm. Nhiều trường THCN bị giải thể hoặc bị sáp nhập.
Đứng trước nguy cơ đó Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra 3 chương trình (chương trình:I, II và
III), Bộ Giáo dục và đào tạo đề ra 2 chương trình (chương trình: IV, V) cho hành động đổi mới
hệ thống giáo dục đại học, THCN và dạy nghề. Nhờ đó mà các trường THCN trên toàn quốc vẫn
tồn tại và phát triển.
- Giáo dục THPT: 3 năm từ 15 - 18 tuổi
3. Giáo dục nghề nghiệp bao gồm hai loại:
- Trung học chuyên nghiệp: 1 - 4 năm
- Dạy nghề gồm:
+ Trung cấp nghề: 1-3 năm
12
+ Cao đẳng nghề: 1-3 năm
+ Đào tạo trình độ sơ cấp < 1 năm
4. Giáo dục đại học gồm:
- Cao đẳng: 2-3 năm
- Đại học: 4-6 năm
- Đào tạo trình độ thạc sĩ: 1-2 năm
- Đào tạo trình độ tiến sĩ: 2-4 năm
Song song với hệ thống giáo dục chính quy là loại hình giáo dục thường xuyên bao gồm nhiều
chương trình đào tạo từ chương trình xóa mù chữ, bồi dưỡng cập nhật nâng cao trình độ kiến
thức, kỹ năng thường xuyên đến các chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống GDQD
theo hình thức vừa làm vừa học, học từ xa, học có hướng dẫn. Về loại hình trường có các loại
hình trường công lập và ngoài công lập như dân lập, tư thục ở các bậc mầm non, phổ thông,
GDNN và đại học. Bên cạnh đó còn có các cơ sở đào tạo trẻ thiểu năng, giáo dục chuyên biệt
cho người tàn tật, các cơ sở giáo dưỡng cho nhiều đối tượng khác nhau.
Như vậy hệ thống đào tạo THCN là một bậc đào tạo của giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống
GDQD. Trường THCN có nhiệm vụ đào tạo những cán bộ có trình độ THCN trong các lĩnh vực
giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, y tế, v.v Hiện nay đất nước ta đang tiến hành CNH, HĐH thì
giáo dục nghề nghiệp có vị trí hết sức quan trọng vì nó trực tiếp góp phần đào tạo nguồn nhân
lực cho đất nước. Cùng với việc tạo ra nguồn lực vật chất và nguồn lực tài chính, điều quan trọng
nhất hiện nay cần phải làm là tăng trưởng nguồn lực con người Việt Nam, tạo ra đội ngũ người
lao động có đủ phẩm chất, năng lực và ở một trình độ mới cao hơn nhiều so với trước đây.
Vị trí của giáo dục THCN được thể hiện rõ hơn trong sơ đồ về hệ thống GDQD Việt Nam theo
tinh thần bộ Luật Giáo dục năm 2005:
Sơ đồ1.2: Hệ thống GDQD Việt Nam (theo Luật Giáo dục năm 2005)
các giai đoạn phát triển lịch sử nhất định quy định. Mục tiêu đào tạo tác động để hoàn thiện và
phát triển nhân cách con người nên nó bao gồm các mặt: đức, trí, thể, mĩ. Đối với từng hệ đào
tạo, từng loại hình đào tạo khác nhau sẽ có những mục tiêu đào tạo riêng biệt.
Cụ thể mục tiêu đào tạo hệ THCN là nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề
nghiệp ở trình độ trung cấp, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công
nghiệp, có sức khỏe, nhằm tào điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.
14
Mục tiêu đào tạo có quan hệ biện chứng với các thành tố khác của quá trình đào tạo hệ THCN.
Mục tiêu là định hướng, song muốn thực hiện được mục tiêu cũng phải có một đội ngũ cán bộ
giáo viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng; có điều kiện CSVC hỗ trợ đảm bảo; nội dung
và chương trình đào tạo phải sát thực với mục tiêu đề ra; v.v
1.2.4.2. Đội ngũ giáo viên:
Nhà giáo dục học nổi tiếng Raja Roy Singh đã từng viết trong cuốn "Nền giáo dục cho thế kỷ
XXI"(UNESCO. 1994) về đội ngũ giáo viên rằng: "không có một hệ thống giáo dục nào có thể
vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó".
Quả thực vậy, đội ngũ giáo viên là chủ thể của quá trình đào tạo hệ THCN, giữ trên vai trọng
trách hoàn thành sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực lao động có tay nghề và phẩm chất ở trình độ
trung cấp. Vai trò của họ được thể hiện ở từng vị trí cụ thể như sau:
a) Giáo viên lý thuyết:
- Họ là người quán triệt mục đích quá trình đào tạo và chuyển tải nó tới đối tượng được đào tạo
thông qua bộ môn giảng dạy cụ thể.
- Định hướng sự phát triển và hoàn thiện nhân cách người được đào tạo theo đúng chủ trương,
đường lối của Đảng, của Nhà nước, của ngành và của nhà trường THCN.
- Phát huy được khả năng sáng tạo, ý thức tự học tập, rèn luyện của học sinh trong quá trình đào
tạo.
b) Giáo viên hướng dẫn thực hành:
- Là người tổ chức, điều khiển toàn bộ quá trình truyền thụ và rèn luyện kiến thức, kỹ năng tay
nghề cho người được đào tạo.
- Họ là người lựa chọn nội dung cụ thể (dựa trên chương trình khung đã được duyệt và thông
Nội dung đào tạo chịu sự quy định, chi phối, định hướng của mục đích đào tạo và được thể hiện
cụ thể trong chương trình, kế hoạch đào tạo cũng như là trong một loạt các hoạt động giáo dục
trong và ngoài nhà trường với mục tiêu chung là hoàn thiện nhân cách người lao động mới
XHCN.
Nội dung đào tạo luôn thay đổi, cải tiến cho phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển xã
hội, phù hợp với từng thời điểm lịch sử. Khi nội dung đào tạo thay đổi thì phương pháp, phương
tiện đào tạo cũng phải có sự thay đổi tương ứng.
1.2.4.5. Phương pháp, phương tiện đào tạo:
Phương pháp và phương tiện đào tạo hệ THCN là những thành tố quy định hệ thống những cách
thức, biện pháp, phương tiện tổ chức cho học sinh rèn luyện và tự chiếm lĩnh lấy các nội dung
đào tạo nhằm nắm được một nghề và hoàn thiện nhân cách bản thân theo nghề được đào tạo.
Phương pháp, phương tiện đào tạo càng khoa học, càng hiện đại và tiên tiến thì càng tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình đào tạo đạt chất lượng cao.
Trong phương pháp và phương tiện đào tạo thì phương pháp đào tạo nắm vai trò chủ chốt. Mỗi
một phương pháp đào tạo đòi hỏi có những phương tiện triển khai nhất định phù hợp. Tuy nhiên
phương tiện đầy đủ sẽ tạo điều kiện để đội ngũ giảng dạy sử dụng thành công tối đa các phương
pháp đào tạo của mình.
Ngoài chịu ảnh hưởng của phương tiện đào tạo, phương pháp đào tạo còn chịu sự quy định của
nhiều yếu tố khác như mục đích đào tạo, nội dung đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy, đối tượng
học sinh và các hoàn cảnh điều kiện khách quan khác như thời tiết, điều kiện nhà xưởng, v.v
Đối với các yếu tố nêu trên thì phương pháp đào tạo cũng có sự chi phối ngược lại nhất định
giống như đối với phương tiện đào tạo.
1.2.4.6. Kết quả quá trình đào tạo:
Kết quả quá trình đào tạo là thành tố biểu hiện tập trung sự vận động và phát triển của quá trình
đào tạo hệ THCN nói chung và sự vận động, tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa các
thành tố của quá trình đào tạo hệ THCN nói riêng.
Nếu mục đích đào tạo là dự kiến của mô hình kết quả đào tạo, thì kết quả đào tạo lại là cái có
thực, đã đạt được thể hiện ở sản phẩm những người lao động được đào tạo. Kết quả quá trình đào
tạo hệ THCN được thể hiện cụ thể ở sự vững vàng về lý luận chuyên môn nghiệp vụ và sự thành
thạo trong kỹ năng thực hành cũng như ở sự trưởng thành về nhân cách người lao động mới
trường học, các cơ sở giáo dục và đào tạo. Quá trình đào tạo kỹ năng thực hành rèn luyện cho
người cán bộ trong tương lai thao tác một cách chính xác và có hiệu quả kinh tế cao những
nghiệp vụ của nghề. Cuối cùng, trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh cũng
là hoàn thiện nhân cách cụ thể của nhân viên văn thư và thiết bị thí nghiệm trường học.
2. Nhiệm vụ đào tạo bị chi phối bởi nhu cầu của thực tiễn xã hội:
Đặc điểm quan trọng thứ hai trong quá trình đào tạo hệ THCN là nhiệm vụ đào tạo bị chi phối
bởi nhu cầu của thực tiễn xã hội về sử dụng nguồn nhân lực lao động.
Hệ THCN sẽ đào tạo ra những nhân viên, những người lao động trực tiếp cho xã hội. Họ là
những người "thợ" với lao động phổ thông bằng chân tay. Họ khác với những người được đào
tạo ra để làm "thầy" ở các trình độ cao hơn. Những người "thợ" tham gia trực tiếp trong sản xuất
thể hiện tay nghề, trình độ đào tạo của mình ở chính sản phẩm mà họ tạo ra. Đó là những sản
phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Đương nhiên nếu không đáp ứng được yêu
cầu của thực tiễn họ sẽ lập tức bị sa thải. Chính vì vậy mà Bộ Giáo dục và đào tạo đã xác định rõ
chức năng, nhiệm vụ đào tạo của hệ THCN rõ ràng như sau: "…đào tạo ra người lao động đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh". [4]
Quá trình đào tạo hệ THCN cần phải dành một khoảng thời gian tương đối trong cơ cấu chương
trình để rèn luyện kỹ năng thực hành nghề nghiệp. Thao tác thực hành nghề nghiệp phải đảm bảo
được hướng dẫn một cách tỉ mỉ và cụ thể đến từng chi tiết nhỏ. Yêu cầu đặt ra đối với người
được đào tạo là phải tiến hành cho kỳ được các thao tác thực hành nghề nghiệp. Nếu không làm
được sẽ phải làm lại cho đến lúc thực hiện được các thao tác thực hành nghề nghiệp đó. Thậm
chí phải tiến hành các thao tác thực hành nghề nghiệp nhiều lần để người được đào tạo từ chỗ
biết cách làm phải biến nó thành kỹ năng, kỹ xảo của bản thân.
3. Việc truyền thụ và tiếp thu kiến thức, kỹ năng phải tùy thuộc vào từng đối tượng cụ thể:
Quá trình đào tạo hệ THCN có đặc điểm thứ ba cần lưu ý đó là việc truyền thụ và tiếp thu kiến
thức, kỹ năng nghề nghiệp tuy có phương pháp chung nhưng phải tùy thuộc vào từng đối tượng
cụ thể. Đối tượng được đào tạo ở hệ THCN rất đa dạng và có sự cách biệt nhau khá lớn về mọi
mặt: từ tuổi tác, tâm lý cho đến trình độ nhận thức. Chương trình đào tạo sẽ được thực hiện từ 1
đến 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp THPT, từ 3 đến 4 năm đối với người có bằng tốt
nghiệp THCS. Như vậy là chỉ có giới hạn về trình độ học vấn tối thiểu mà không loại trừ bất kỳ
một độ tuổi nào hoặc một trình độ nào cao hơn. Động cơ, mục đích học tập ở các đối tượng đào
quả của quá trình vận hành tổ chức.
Các chức năng này gắn bó với nhau, đan xen lẫn nhau. Khi thực hiện một chức năng nhất định,
thường cũng có mặt các chức năng khác ở các mức độ cụ thể khác nhau. Trong mọi hoạt động
quản lý giáo dục, thông tin quản lý giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như
mạch máu của hoạt động quản lý giáo dục.
Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý giáo dục được thể hiện cụ thể qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.3: Mối quan hệ giữa các chức năng của quản lý giáo dục
Tương ứng với 4 chức năng chung này, công tác quản lý quá trình đào tạo hệ THCN bao gồm có
các nội dung cụ thể sau:
1.3.1. Lập kế hoạch (Planning):
- Xác định các chức năng, nhiệm vụ và các công việc cụ thể cho cơ sở đào tạo hệ THCN trong
từng giai đoạn cụ thể.
18
- Dự báo, đánh giá triển vọng của công tác đào tạo hệ THCN và đề ra mục tiêu, chương trình
phát triển trong tương lai.
- Lập kế hoạch chương trình đào tạo phù hợp với sự phát triển theo dự báo
- Nghiên cứu xác định tiến độ, xác định ngân sách cho quá trình đào tạo, xây dựng cách thức và
thể thức làm việc cụ thể.
1.3.2. Tổ chức thực hiện (Organi3ing):
- Xây dựng cơ cấu các nhóm làm việc; tạo sự hợp tác liên kết giữa các nhóm trong quá trình đào
tạo hệ THCN.
- Xây dựng các yêu cầu của quá trình đào tạo hệ THCN, phân công nhóm và cá nhân trong tổ
chức thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của quá trình đào tạo hệ THCN.
- Lựa chọn, sắp xếp, bồi dưỡng, bổ sung các nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ của quá trình đào
tạo hệ THCN.
1.3.3. Chỉ đạo, lãnh đạo (Leading):
- Kích thích, động viên đội ngũ cán bộ, giáo viên thực hiện quá trình đào tạo hệ THCN.
- Đảm bảo có sự trao đổi thông tin hai chiều trong quá trình hợp tác thực hiện nhiệm vụ quá trình
đào tạo hệ THCN.
- Bảo đảm sự hợp tác giữa các nhóm phân công trong thực tế.
19
Cụ thể trong quá trình triển khai hoạt động quản lý của một nhà trường THCN, công tác chỉ đạo
cần đề ra những quy định chung cho mọi thành viên tuân theo. Nhưng tuyệt đối không được áp
đặt, cần tạo điều kiện cho từng thành viên trong quá trình đào tạo hệ THCN phát huy quyền chủ
động, sáng tạo, phát huy tính tích cực của bản thân. Người quản lý trong quá trình hoạt động
thực tiễn luôn phải đặt ra cho mình câu hỏi: "làm thế nào để giải quyết tốt mối quan hệ giữa chế
độ thủ trưởng và thực hiện dân chủ trong đơn vị mình nắm quyền?"
1.4.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học trong quản lý:
Quá trình đào tạo hệ THCN nói riêng, quá trình giáo dục nói chung là một hiện tượng xã hội hết
sức phức tạp. Nó đòi hỏi cần phải có một bộ máy tổ chức và một cơ chế vận hành với nhiều yếu
tố cấu thành. Muốn giảm bớt độ bất định để chỉ huy, điều khiển được quá trình đào tạo hệ THCN
người quản lý phải biết sắp xếp một cách khoa học và phù hợp mọi hoạt động của đơn vị. Cán bộ
lãnh đạo cần phải có cách thức làm việc khoa học, hợp lý thì các khâu trong quá trình đào tạo hệ
THCN mới được thực hiện một cách chuẩn xác, và đạt hiệu quả cao. Ngược lại nếu không có sự
sắp xếp mang tính lôgic trình tự, khoa học thì cả bộ máy đào tạo hệ THCN sẽ hoạt động không
có hiệu quả.
1.4.4. Nguyên tắc quan tâm đến yếu tố con người trong quản lý:
Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt
động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động để đi đến mục tiêu một cách hiệu
quả nhất. Như vậy, trong công tác quản lý quá trình đào tạo hệ THCN, phần tử quan trọng nhất,
có tính chất quyết định nhất luôn luôn là con người.
Con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của hoạt động quản lý. Với cương vị chủ thể của hoạt
động quản lý, người lãnh đạo, chỉ huy với năng lực, trình độ và nghệ thuật quản lý của bản thân
sẽ tạo ra diện mạo một cơ chế vận hành, một cơ cấu bộ máy tổ chức cụ thể cho đơn vị. Còn ở
cương vị đối tượng của hoạt động quản lý, những người bị quản lý luôn có sự tác động phản hồi
gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của các hoạt động quản lý. Chính vì vậy trong công tác
quản lý quá trình đào tạo hệ THCN, điều quan trọng là phải bồi dưỡng, đào tạo được đội ngũ cán
bộ lãnh đạo có năng lực, có trình độ và phẩm chất chính trị đảm bảo. Bên cạnh đó trong các hoạt
động quản lý cụ thể, người lãnh đạo luôn phải tính đến các đặc điểm về tâm sinh lý, trình độ,
chuyên môn, v.v của đội ngũ cán bộ giáo viên để có cách thức quản lý phù hợp nhất.
học sinh được tuyển vào. Đầu vào có chất lượng sẽ tạo nhiều ưu thế, thuận lợi, dễ dàng cho công
tác quản lý. Trình độ kém, mức sống ảnh hưởng chất lượng đầu vào sẽ làm tăng khó khăn cho
công tác quản lý.
- Điều kiện tự nhiên phù hợp với quá trình đào tạo ngành nghề sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình đào tạo.
1.5.3. Văn hóa tổ chức nhà trường:
Nhà trường là một tổ chức với một cộng đồng người nhất định. Trong quá trình hoạt động của
nhà trường, giữa con người với con người bao giờ cũng nảy sinh nhiều mối quan hệ. Mối quan
hệ này được gìn giữ, truyền đạt tới nhiều người, nhiều thế hệ tạo thành nếp văn hóa truyền thống
riêng của tổ chức nhà trường.
"Văn hóa" ở đây là tập hợp các giá trị, niềm tin, hiểu biết, chuẩn mực cơ bản được các thành viên
trong tổ chức cùng chia xẻ. [8, tr.54]. Khái niệm văn hóa giúp cho người quản lý hiểu được
những khía cạnh phức tạp, ẩn tàng bên trong một tổ chức. Văn hóa tổ chức được hiểu là mẫu
hình những giá trị và giả định về những sự việc đã được thực hiện như thế nào trong một tổ
chức. Các thành viên của tổ chức học hỏi được những mẫu hình này khi họ phải đối diện với
những vấn đề bên trong và bên ngoài tổ chức. Rồi chính họ lại "dạy" cho những thành viên mới.
Theo điều tra xã hội học khoảng 80-90% số người được phỏng vấn tin chắc rằng bổn phận của
họ là hoàn thành các yêu cầu, đòi hỏi cũng như "mệnh lệnh" của tổ chức. [8, tr.54]. Điều này
nhấn mạnh ảnh hưởng của văn hóa tổ chức đến hành vi đạo đức của các thành viên trong tổ
chức.
Nếu xét quá trình đào tạo hệ THCN trong một thời điểm nhất định khi nhà trường đã xây dựng
được bản sắc văn hóa tổ chức riêng thì công tác quản lý quá trình đào tạo của hệ cũng bị chính
văn hóa tổ chức của nhà trường chi phối. Nơi nào xây dựng được một truyền thống tốt như có
tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, chia sẻ đùm bọc nhau trong công tác, chấp hành ý
thức kỷ luật một cách tự giác thì nơi đó công tác quản lý sẽ không phải đánh nặng về khâu kiểm
tra, giám sát. Hay nói theo thuyết Y của quản lý thì: tổ chức đó có các thành viên được giả định
là những người chăm chỉ và tự giác làm việc. Do đó họ được ủy quyền rất nhiều, độ tự do lớn và
họ tin cậy lẫn nhau trong công việc, không đòi hỏi sự giám sát, kiểm tra đôn đốc quá ngặt nghèo.
[8, tr.10]. Ngược lại, nơi nào chưa xây dựng được một bản sắc văn hóa tổ chức nhà trường tốt thì
ở nơi đó công tác quản lý còn gặp nhiều khó khăn.
năm 1989 - 1999 trường được sáp nhập với Trạm ĐHSP và trở thành Trường Cán bộ quản lý
giáo dục và bồi dưỡng giáo viên Hải Phòng với 4 nhiệm vụ cơ bản là:
- Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý các trường Mầm non, Tiểu học, phổ thông trung học cơ
sở, các trung tâm dạy nghề, các trường bổ túc văn hóa của thành phố.
- Bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên các cấp trong thành phố.
- Đào tạo và bồi dưỡng nhân viên nghiệp vụ phục vụ trường học và văn thư.
- Nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm, sáng kiến về quản lý giáo dục góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục đào tạo.
Đến ngày 20 tháng 04 năm 2000, theo quyết định số 48 của Thủ tướng Chính phủ trường được
sáp nhập với 3 đơn vị khác là: Trường Cao đẳng sư phạm đa hệ, Trường Đại học tại chức và
Trung tâm Ngoại ngữ trở thành Trung tâm Bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục thuộc
trường ĐHSP Hải Phòng. Sau khi trường ĐHSP Hải Phòng mở rộng quy mô và được đổi tên
thành Trường ĐHHP, ngày 09 tháng 4 năm 2004 theo quyết định số 60 của Thủ tướng Chính
phủ trung tâm được đổi tên thành Trung tâm ĐTBDCB như hiện nay.
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình trung tâm luôn hoàn thành các sứ mệnh được
giao. Trung tâm đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Ba; được UBND
thành phố Hải Phòng tặng cờ "35 năm năm xây dựng và trưởng thành góp phần vào sự nghiệp
Giáo dục - đào tạo của thành phố". Chính bề dày lịch sử ấy đã tiếp thêm sức mạnh, niềm tin và
niềm tự hào cho mỗi cán bộ đương nhiệm trong trung tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của trung tâm:
2.1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ của trung tâm trong giai đoạn hiện nay:
22
Trung tâm là một trong những đơn vị có vị trí quan trọng và đóng góp nhiều công sức cho sự
nghiệp giáo dục của thành phố Hải Phòng. Trong lịch sử phát triển của trung tâm có rất nhiều
bước son rất đáng tự hào như đã trình bày ở phần trên. Ngày nay, khi được sáp nhập vào trường
ĐHHP (trước là trường ĐHSP Hải Phòng) chức năng, nhiệm vụ của trung tâm đã có nhiều thay
đổi.
Theo quyết định số 50 ngày 23/02/2005 của Hiệu trưởng Trường ĐHHP, trung tâm ĐTBDCB có
các chức năng chính cụ thể như sau:
- Tổ chức nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện, chuẩn hóa chương trình, giáo trình đề cương bài
giảng.
- Tổ chức thực hiện công tác NCKH của trung tâm
- Tổ chức, quản lý hoạt động giảng dạy - học tập của trung tâm theo chương trình kế hoạch đề ra.
(2) Tổ Hành chính - tổng hợp: chức năng chung của tổ là:
Tổ chức thực hiện công tác quản lý nhà nước của trung tâm trên các lĩnh vực: tổ chức cán bộ, tài
chính, hành chính, quản trị.
(3) Tổ giảng viên:
Nhiệm vụ chính của tổ là bố trí giáo viên giảng dạy; nghiên cứu, soạn đề cương, bài giảng phục
vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng theo chương trình, kế hoạch đã đề ra.
23
Trong mỗi tổ, người đứng đầu chịu trách nhiệm cao nhất về nhiệm vụ của tổ là các tổ trưởng. Tổ
trưởng trong giới hạn thẩm quyền của mình lại giao trách nhiệm chuyên trách cho từng cán bộ cụ
thể. Tổ giáo vụ có người quản lý mảng đào tạo THCN riêng, mảng bồi dưỡng riêng và mảng đào
tạo tại chức, từ xa riêng. Tổ Hành chính - tổng hợp dưới tổ trưởng còn có tổ phó. Đây là tổ duy
nhất có tổ phó giúp việc cho tổ trưởng. Trong tổ có thành viên chịu trách nhiệm công tác văn thư
riêng, công tác thư viện riêng, công tác thủ quỹ, kế toán, phục vụ và bảo vệ. Tổ giảng viên được
chi thành các nhóm theo chuyên môn được đào tạo cụ thể như: nhóm Văn, Toán, Tin, Tâm lý,
Ngoại ngữ, Trong mỗi một nhóm nhỏ này đều có nhóm trưởng chịu trách nhiệm về sự phân
giao lao động cụ thể và duy trì hoạt động sinh hoạt nhóm chuyên môn.
Cơ cấu tổ chức bộ máy của trung tâm ĐTBDCB có sự phụ thuộc đối với Trường ĐHHP. Sự phụ
thuộc tạo ra nhiều hạn chế về thẩm quyền quyết định. Song mặt khác cũng đem lại lợi thế về
nhân sự giảng dạy cũng như là nguồn cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có của toàn trường
ĐHHP. Cơ chế cộng tác giữa trung tâm và nhà trường là cùng chung trách nhiệm và có sự thỏa
thuận đôi bên cùng có lợi. Công tác đào tạo hệ THCN ngành HCVT và TBTN trường học là do
trung tâm chủ động, sáng tạo trong quá trình tìm hiểu nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực cũng như
là khả năng đào tạo của đơn vị. Vì thế trung tâm có toàn quyền quyết định về công tác tổ chức,
chỉ đạo mọi hoạt động quá trình đào tạo hệ THCN.
Toàn bộ cơ câu tổ chức bộ máy của trung tâm có thể được hình dung khái quát qua sơ đồ dưới
đây:
2004 - 2005 5 245 8 350 13 595
2005 - 2006 4 238 6 279 10 517
2006 - 2007 5 261 7 313 12 574
Tổng số: 26 1308 34 1522 60 2830
Nguồn: Tổ Giáo vụ - Trung tâm ĐTBDCB
Con số này so với một nhà trường THCN độc lập thì có phần còn khiêm tốn. Tuy nhiên xét trong
bối cảnh một cơ sở đào tạo đa chức năng như trung tâm ĐTBDCB thì đó quả là một con số rất
đáng tự hào. Đặc biệt nếu xét trong mối tương quan về công tác đào tạo hệ THCN trong toàn
trường ĐHHP thì riêng một mình trung tâm hàng năm đã tuyển sinh và đào tạo chiếm tới 70% số
lượng học sinh hệ trung cấp trong toàn trường ĐHHP.
Điều đáng nói ở đây là quy mô đào tạo hệ THCN tại trung tâm không ngừng tăng và giữ được
con số ổn định cao. Với phương châm vươn ra xa khỏi giới hạn về mặt địa lý hành chính của
thành phố Hải Phòng, quy mô đào tạo hệ THCN của trung tâm ngày càng sẽ được mở rộng và
phát triển hơn nữa.
2.2.2. Đội ngũ cán bộ giảng viên:
Đây là chủ thể của toàn bộ quá trình đào tạo hệ THCN. Họ là những "kỹ sư" vừa thiết kế, vừa
trực tiếp tham gia thi công trong từng khâu, từng giai đoạn của quá trình đào tạo hệ THCN ngành
HCVT và TBTN trường học. Đây là nhân tố cơ bản nhất quyết định tới sự thành công và phát
triển của công tác đào tạo hệ THCN. Do giới hạn về mặt quy mô của trung tâm nên ngoài đội
ngũ giáo viên cơ hữu của trung tâm, quá trình đào tạo hệ THCN đã phải ký hợp đồng thuê giáo
viên giảng dạy từ các đơn vị khác.
Trước tiên chúng ta hãy cùng xem xét thực trạng đội ngũ cán bộ giáo viên cơ hữu của trung tâm:
a) Đội ngũ cán bộ giáo viên cơ hữu của trung tâm:
Đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức trong trung tâm chủ yếu là giáo viên kiêm nhiệm. Chỉ còn
một bộ phận nhỏ làm công tác hành chính thuần túy với những chức năng mang tính chất đặc
trưng riêng biệt như: kế toán, bảo vệ, phục vụ. Số lượng này là 5/30 người, chiếm 17% tổng số
cán bộ công nhân viên chức trong trung tâm. Lực lượng này có ảnh hưởng không lớn tới chất
lượng quá trình đào tạo và bồi dưỡng của trung tâm. Chính vì vậy khi xét đến thực trạng đội ngũ
cán bộ công nhân viên chức trong trung tâm chúng ta sẽ chỉ đề cập đến đội ngũ giảng viên làm
công tác giảng dạy và đội ngũ cán bộ phòng ban do giáo viên khiêm nhiệm. Số lượng này cụ thể