MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
6. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
7. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
TIẾNG ANH TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 5
1.1.1. KHÁI NIỆM PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 5
1.1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM 8
1.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA PHƯƠNG PHÁP VỚI MỤC TIÊU, NỘI DUNG,
PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 17
1.2.1. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VỚI MỤC TIÊU DẠY HỌC 18
1.2.2. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VỚI NỘI DUNG DẠY HỌC 19
1.2.3. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VỚI PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 20
1.3. SỰ CẦN THIẾT VÀ BẢN CHẤT CỦA VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TIẾNG ANH TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 21
1.3.1. VỊ TRÍ VÀ MỤC TIÊU CỦA MÔN TIẾNG ANH TRONG CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 21
1.3.2. SỰ CẦN THIẾT ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 25
1.3.3. BẢN CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
TIẾNG ANH 29
1.3.4. NHỮNG BIỂU HIỆN QUAN SÁT ĐƯỢC CỦA VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG
ANH VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ SỰ ĐỔI MỚI 66
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TIẾNG ANH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 71
3.1. ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỂ THỰC HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG ANH MỚI 72
3.2. CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC TIẾNG ANH TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 75
3.2.1. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG
ANH VỚI SỰ THAM GIA CỦA GIÁO VIÊN 75
3.2.2. TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG VÀ TƯ VẤN NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC SƯ
PHẠM CHO GIÁO VIÊN 78
3.2.3. ĐÁNH GIÁ VÀ KHUYẾN KHÍCH GIÁO VIÊN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC 86
3.2.4. TẠO MÔI TRƯỜNG VÀ ĐẦU TƯ TRANG THIẾT BỊ PHỤC VỤ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 91
KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP
ĐƯỢC ĐỀ XUẤT 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, việc dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục
quốc dân đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy vậy, trình độ ngoại
ngữ của học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức nước ta nhìn chung còn thấp,
hiệu quả sử dụng ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp còn hạn chế, khả năng
nghiên cứu, làm việc độc lập trong môi trường hội nhập quốc tế còn yếu.
hóa, chính trị, khoa học và kinh tế của cả nước chắc chắn sẽ lựa chọn và
quyết định bắt đầu thực hiện ngay khi đề án được triển khai.
Giáo dục Trung học phổ thông thành phố Hà Nội đã phát triển
nhanh cả về quy mô, mạng lưới và từng bước nâng chất lượng và hiệu
quả giáo dục. Để các trường Trung học phổ thông ngày càng năng động,
hiệu quả hơn trong việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và
phương pháp dạy học tiếng Anh nói riêng, thì vai trò của quản lý đối với
quá trình thay đổi này có tầm quan trọng đặc biệt. Đề tài "Các biện pháp
quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Anh tại các
trường Trung học phổ thông thành phố Hà Nội" nhằm đáp ứng những
đòi hỏi cấp thiết hiện nay của thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học
tiếng Anh trong các trường Trung học phổ thông ở thành phố Hà Nội.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh của các trường Trung
học phổ thông (THPT) công lập ở thành phố Hà Nội.
Đối tượng nghiên cứu
3
Công tác quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh trong
các trường THPT ở thành phố Hà Nội
4. Phạm vi nghiên cứu
- Tập trung khảo sát và nghiên cứu 4 trường THPT (tại các quận khác
nhau ở thành phố Hà Nội).
- Quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường
THPT liên quan đến nhiều chủ thể quản lý: Sở giáo dục và đào tạo, lãnh đạo
trường, tổ bộ môn, giáo viên, học sinh; đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về
quản lý của cấp trường (Hiệu trưởng).
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị , danh mục các tài liệu
tham khảo , phụ lục; luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đổi mới phương pháp dạy học
tiếng Anh trong trường Trung học phổ thông.
Chương 2: Thực trạng quản lý sử dụng phương pháp dạy học tiếng
Anh của các trường Trung học phổ thông công lập ở thành phố Hà Nội.
Chương 3: Một số biện pháp quản lý nhằm đổi mới phương pháp dạy
học tiếng Anh trong các trường Trung học phổ thông ở thành phố Hà Nội.
5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TIẾNG ANH TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Phương pháp dạy học
1.1.1. Khái niệm phương pháp dạy học
Nói đến phương pháp dạy học là nói đến một bộ phận quan trọng trong cấu
trúc của quá trình dạy học, là một phạm trù của lý luận dạy học.
Để xây dựng khái niệm về phương pháp dạy học, cần hiểu khái quát về
định nghĩa phương pháp. Ba định nghĩa về "phương pháp" dưới đây được xem
như xuất phát điểm để từ đó dẫn tới định nghĩa phương pháp dạy học:
(1). Thuật ngữ “ phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp (methodos) có
nghĩa là con đường để đạt mục đích.
(2). Phương pháp là cách chức, con đường, phương tiện làm biến đổi đối
tượng, nhằm đạt mục đích dự kiến;
(3). Phương pháp là ý thức về các hình thức tự vận động bên trong của nội
dung (Hêgel).
Với 03 định nghĩa nêu trên có thể rút ra:
- Tính mục đích là dấu hiệu cơ bản của phương pháp;
- Phương pháp có tính cấu trúc;
- Phương pháp gắn liền với nội dung;
Trò
(chủ thể)
Thầy
(tác nhân)
7
- Trò: chủ thể, trung tâm tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính
mình (theo chiều mũi tên);
- Khách thể: do người học tự tìm ra với sự hợp tác của các bạn và thầy;
Dạy học là một quá trình điều khiển, tự điều khiển và là một quá trình có
thể điều khiển được.
Theo PGS. Lê Khánh Bằng mỗi phương pháp dạy học thường gồm các yếu
tố sau đây:
- Mục đích định trước;
- Hệ thống những hành động liên tiếp tương ứng;
- Phương pháp hành động (ngôn ngữ, thao tác trí tuệ, thao tác vật chất );
- Quá trình biến đổi của đối tượng bị tác động;
- Kết quả thực tế đạt được;
Theo lý luận dạy học của Nguyễn Ngọc Quang về phương pháp dạy học, sự
hợp tác giữa thầy và trò được khái quát thành: Hai mặt của phương pháp dạy
học (xem sơ đồ 1.2).
P. truyền dạy
P. điều khiển
Pháp…) từ đầu thế kỷ XX và được phát triển mạnh từ nửa sau của thế kỷ, có ảnh
hưởng sâu rộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chúng ta đã
biết thế nào là tính tích cực nhận thức theo định nghĩa của I.F. Khalamop.
Nhưng phương pháp dạy học tích cực là gì? Trong từ điển giáo dục học Bùi
Hiển, 2001 định nghĩa: “Phương pháp (sư phạm) tích cực, phương pháp dạy học
9
theo cách trình bày những chủ đề dạy học như là những vấn đề phải giải quyết,
có cung cấp cho người học tất cả các thông tin và phương tiện cần thiết để giải
quyết vấn đề. Phương pháp này đặt người học vào những điều kiện để khám
phá, tìm ra kết quả. Trong phương pháp này, vai trò của người thầy chủ yếu là
giúp người học tìm ra những giải pháp hơn là những lời giải đáp có sẵn”. Hay
nói cách khác, đó là cách thức dạy học theo lối phát huy tính tích cực, chủ động
của người học. Vì thế phương pháp này thường được gọi là phương pháp dạy
học tích cực; ở đó, giáo viên là người giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp
cho người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận,
hội thảo theo nhóm. Người thầy có vai trò là trọng tài, cố vấn điều khiển tiến
trình giờ dạy. Phương pháp dạy học này rất đáng chú ý đến đối tượng học sinh,
coi trọng việc nâng cao quyền năng cho người học.
Từ xa xưa, người phương Đông đã có câu: “ Tôi nghe thì tôi quên, tôi nhìn
thì tôi nhớ, tôi làm thì tôi hiểu”. Những kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại
cũng đã cho thấy, học sinh chỉ nhớ được 5% nội dung kiến thức thông qua đọc
tài liệu. Nếu ngồi thụ động nghe thầy giảng thì nhớ được 15% nội dung kiến
thức. Nếu quan sát có thể nhớ 20%. Kết hợp nghe và nhìn thì nhớ được 25%.
Thông qua thảo luận với nhau, học sinh có thể nhớ được 55%. Nhưng nếu học
sinh được trực tiếp tham gia vào các hoạt động để qua đó tiếp thu kiến thức thì
có khả năng nhớ tới 75%. Còn nếu giảng lại cho người khác thì có thể nhớ tới
được 90%. Điều này cho thấy tác dụng tích cực của việc dạy học theo hướng
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Ở phương pháp này, giáo viên là người nêu tình huống, kích thích hứng
và xử lý thông tin… tự hình thành hiểu
biết, năng lực và phẩm chất.
BẢN
CHẤT
Truyền thụ tri thức, truyền
thụ và chứng minh chân lý
của giáo viên.
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học
sinh. Dạy học sinh cách tìm ra chân lý.
MỤC
TIÊU
Chú trọng cung cấp tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo. Học
để đối phó với thi và kiểm
tra. Sau khi thi xong
những điều đã học thường
bị bỏ quên hoặc ít dùng
đến.
Chú trọng hình thành các năng lực (sáng
tạo, hợp tác…) dạy phương pháp và kỹ
thuật lao động khoa học, dạy cách học.
Học để đáp ứng những yêu cầu của
cuộc sống hiện tại và tương lai. Những
điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản
thân học sinh và cho sự phát triển xã hội.
NỘI
DUNG
Từ sách giáo khoa + giáo
viên.
Từ nhiều nguồn khác nhau: sách giáo
(b) thay đổi ph-ơng pháp để kích thích sự tích cực trong học tập của trò;
(c) phù hợp với mục tiêu, nội dung của từng bài học/ môn học.
Tùy theo mục tiêu, cách tập hợp có thể giới thiệu nhiều ph-ơng pháp dạy
học cụ thể khác nhau. Theo tài liệu của Dự án đào tạo giảng viên (Việt - c) ó
lit kờ ra khong 30 phng phỏp dy hc c th hin ang c s dng. Theo
nhng nghiờn cu v i mi phng phỏp dy hc theo hng tớch cc hoỏ
hot ng hc tp ca hc sinh ca Vin Khoa hc giỏo dc thng hay cp
n cỏc phng phỏp dy hc c th nh: vn ỏp (phỏt vn, m thoi), phỏt
hin v gii quyt vn , hp tỏc trong nhúm nh, minh ha cho mi
phng phỏp dy hc c th u cú u, nhc im nht nh, lun vn xin h
thng hoỏ mt s c tớnh ca 05 phng phỏp dy hc (thng c s dng
nhiu v cn thit cho vic xõy dng cụng c iu tra ca ti v vic s dng
phng phỏp dy hc ting Anh cỏc trng THPT) nh sau:
(1). Thuyt trỡnh: cỏc bi ging nhỡn chung l núi khụng ngng. Thng l phn
trỡnh by hỡnh thc/ cu trỳc ni dung v mt ch c thự.
- Cỏc mc tiờu tiờn quyt: truyn t thụng tin; cung cp tng quan v ch ;
khi dy nhúm; kớch thớch s suy ngh.
- Cỏc u im: núi c vi nhiu ngi; bao quỏt thụng tin nhanh chúng; d
t chc.
- Cỏc nhc im: ngi nghe th ng; thụng tin ch cú mt chiu; cú th tr
nờn nhm; hc sinh khụng th chng minh kin thc hay k nng. 13
(2). Luyện tập và thực hành.
- Các mục tiêu tiên quyết: Phát triển các kỹ năng quan sát; nâng cao các kỹ
năng nghe, nói, đọc, viết và kỹ năng sử dụng tay, chân; cải tiến tư duy phê phán
và phân tích; cải tiến các kỹ năng áp dụng và kiểm chứng lý thuyết; nâng cao
các kỹ năng về trình bày kết quả.
- Các ưu điểm: Tạo nên kinh nghiệm động nhờ huy động nhiều giác quan
toàn; có thể sao lục các tình huống đời sống thực và quản lý để mô phỏng cho
học tập; các học sinh có thể thực hành các kỹ năng họ cần có trong một tình
huống thực; khuyến khích các học sinh giải quyết vấn đề; khuyến khích quan hệ
tương tác giữa các học sinh.
- Các nhược điểm: một số học sinh không thích mô phỏng; để lập ra thì có
thể mất thời gian; các tình huống cói thể là quá đơn giản hoặc không thực tiễn.
(5). Bài tập lớn
- Các mục tiêu tiên quyết: giới thiệu một tình huống đời sống thực, phát triển
các kỹ thuật giải quyết vấn đề; cho phép học sinh áp dụng các nguyên tắc vào
một tình huống thực tiễn.
- Các ưu điểm: tạo nên các điểm chi tiết thích hợp; xác định ra các giải pháp
xen kẽ; kiểm chứng có hiệu quả các nguyên tắc; là một vấn đề đời sống thực.
- Các nhược điểm: mất thời gian; không phải lúc nào cũng thích hợp; kích
thích những người này, đôi khi lại làm người khác khó chịu.
15
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của
học sinh:
Thực hiện dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh
không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền thống. Muốn thực
hiện tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh thì cần phát triển phương pháp
thực hành, phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu
phát hiện, nhất là khi dạy các môn khoa học thực nghiệm.
Đổi mới phương pháp dạy học cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực
của hệ thống phương pháp dạy học đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận
dụng một số phương pháp dạy học mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy
học ở nước ta để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục một cách vững
chắc.
Môi trường học tập mới khuyến khích hình thành thói quen tự học và tự
đánh giá của học sinh, thói quen học cả đời, thay đổi quan niệm từ “thầy giáo
của học sinh ra sao để đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh. Điều đó phụ
thuộc vào trình độ chuyên môn và nghệ thuật sư phạm của người thầy.
Trong thực tiễn dạy học đã cho thầy, bất kỳ một tiết học nào cũng có
sự phối kết hợp của một vài phương pháp dạy học khác nhau. Hơn nữa, các
phương pháp đều thâm nhập vào nhau để thể hiện một tác động giữa giáo
viên và học sinh. Còn nếu khi vận dụng một phương pháp dạy học ở một
thời điểm nào đó, có nghĩa là phương pháp đó chiếm ưu thế nhằm giải
quyết một nhiệm vụ dạy học cụ thể nào đó, tuyệt nhiên không có nghĩa là
17
chỉ sử dụng một phương pháp mà không kết hợp những phương pháp dạy
học khác.
Giáo viên là người phối hợp các phương pháp dạy học nên hiệu quả
của hoạt động dạy học phụ thuộc một phần quan trọng vào sự phối hợp đó.
Để đảm bảo tính tối ưu trong việc lựa chọn, kết hợp các phương pháp dạy
học, chúng ta cần quán triệt những tiêu chuẩn sau:
- Sự phù hợp các phương pháp với nguyên tắc dạy học.
- Sự phù hợp các phương pháp với nhiệm vụ dạy học cụ thể.
- Sự phù hợp các phương pháp với nội dung của một mục, một tiết học
của môn học nào cụ thể.
- Sự phù hợp các phương pháp với khả năng học tập của học sinh, với đặc
điểm của tập thể lớp.
- Sự phù hợp các phương pháp với những điều kiện phương tiện và thời
gian dành cho học tập.
1.2. Mối quan hệ giữa phương pháp với mục tiêu, nội dung, phương tiện dạy
học
Theo quan niệm đầy đủ, chương trình giáo dục (chương trình môn học)
gồm các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và kiểm tra,
đánh giá. Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đặt trong một
môi trường giáo dục nhất định. Quan hệ giữa các thành tố của chương trình giáo
MÔ HÌNH NHÂN CÁCH
(mục tiêu GD-ĐT khái quát)
Phẩm chất
Năng lực
Phẩm chất
người công
dân
Thái độ
trong các
hoạt động,
các quan hệ
với gia đình,
bạn bè, Tổ
quốc, Dân
tộc, Nhân
loại
Phẩm chất
người lao
động
Thái độ
trong lao
động nghề
nghiệp
Sơ đồ 1.4. Khái quát về mô hình nhân cách
Phương pháp dạy học phụ thuộc vào mục tiêu giảng dạy (tính mục đích của
phương pháp), nói cách khác mục tiêu sẽ quy định nên sử dụng phương pháp nào là
phù hợp. Ví dụ nếu mục tiêu quy định rèn kỹ năng thực hành cho học sinh thì
phương pháp phù hợp hơn cả nên được sử dụng là "luyện tập và thực hành". Thông
qua phương pháp dạy học một mặt mục tiêu giáo dục sẽ được thực hiện (hiện thực
hoá mục tiêu), mặt khác (trong những trường hợp nhất định thường là kết thúc một
chu trình môn học), dựa trên thông tin phản hồi về phương pháp dạy học, phương
tiện dạy học đã được sử dụng và kết quả kiểm tra đánh giá thành tích học tập của
học sinh người ta sẽ điều chỉnh hoặc chính xác hoá lại mục tiêu giảng dạy.
1.2.2. Phương pháp dạy học với nội dung dạy học
Nội dung dạy học là một phần kinh nghiệm của xã hội loài người, một phần
văn hoá của nhân loại cần truyền thụ cho học sinh. Đó là yếu tố trọng tâm của
quá trình dạy học, là sự thể hiện mục tiêu trong những nhiệm vụ dạy học cụ thể
là phương tiện tương tác giữa thầy và trò mà qua đó học sinh nắm được kinh
nghiệm xã hội, nâng cao phẩm chất và năng lực sẵn có.
Nội dung dạy học của các môn phải đảm bảo các yêu cầu: cơ bản, hiện đại,
sát với thực tế các yêu cầu này có tính ổn định khi xét về ngắn hạn và phát
triển khi xem xét về trung và dài hạn.
Để thực hiện mục tiêu dạy học, người học cần phải lĩnh hội một hệ thống
các nội dung dạy học. Các nội dung dạy học được phân chia thành các nhóm nội
dung sau:
20
- Nhóm nội dung chính trị - xã hội.
- Nhóm nội dung khoa học - kĩ thuật - công nghệ.
Nội dung dạy học còn được cụ thể hoá trong các bản kế hoạch, chương
pháp dạy học bao gồm hai hoạt động chủ đạo: hoạt động của thầy và hoạt động
của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học (sẽ trình bày cụ thể ở mục bản chất của
việc đổi mới phương pháp dạy học).
1.3. Sự cần thiết và bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng
Anh trong trường Trung học phổ thông
1.3.1. Vị trí và mục tiêu của môn tiếng Anh trong chương trình giáo dục phổ
thông
Mục tiêu giáo dục THPT
Theo tinh thần của Luật giáo dục, 2005 của nước ta mục tiêu giáo dục phổ
thông và THPT được xác định như sau:
- Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp tục
học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả
của giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu
biết thông thường và kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực
22
cá nhân để lựa chọn phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học
nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Vị trí của môn tiếng Anh trong chương trình giáo dục phổ thông
Từ khi nước nhà dành được độc lập (9/1945) đến nay, do những điều kiện
lịch sử, quan hệ ngoại giao và nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của từng thời
kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, chúng ta đã tổ chức dạy và học một số tiếng
nước ngoài, trong đó phổ biến là bốn thứ tiếng: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga
và tiếng Trung Quốc.
Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của ngoại ngữ trong công cuộc
xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, Đảng và Chính phủ đã có nhiều văn
hóa đa dạng và phong phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập với cộng đồng Quốc tế.
Môn tiếng Anh ở trường phổ thông góp phần phát triển tư duy (trước hết là
tư duy ngôn ngữ) và hỗ trợ cho việc dạy học tiếng Việt. Với đặc trưng riêng,
môn tiếng Anh góp phần đổi mới phương pháp dạy học, lồng ghép và chuyển tải
nội dung của nhiều môn học khác ở trường phổ thông.
Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, môn tiếng Anh góp
phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho việc thực hiện
mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông.
Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông, môn tiếng Anh
Chương trình giáo dục phổ thông hiện nay đã quy định: ngoại ngữ (trong đó
có tiếng Anh) được dạy đại trà (môn học bắt buộc) ở cấp trung học cơ sở và
THPT theo 2 loại chương trình: a) Chương trình chuẩn: 7 năm, với thời lượng