MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO - THỰC HIỆN CÓ NỀ NẾP, CÁCH DẠY
HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG NHÓM, NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TOÀN DIỆN Ở BẬC THCS TRÊN ĐỊA BÀN CÓ
HỌC SINH PHẦN LỚN LÀ NÔNG THÔN
A – Đặt vấn đề:
Trong hơn bốn mươi năm qua, trước sự phát triển như vũ bảo của khoa học, giáo dục
nước nhà đã có nhiều cố gắng trong việc tự hoàn thiện mình bằng những giải pháp
như tiến hành cải cách giáo dục (GD), đổi mới chương trình GD phổ thông nhằm
dủ sức đáp ứng nhiệm vụ nhân dân giao phó: trồng người đáp ứng giai đoạn cách
mạng mới.
Trong thời gian qua, dẫu có nhiều nổ lực như thế, nhung nhìn chung giáo dục của ta
vẫn chưa ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng mới: đào tạo con người toàn diện phục
vụ sự nghiệp CNH – HĐH của đất nước. Hay nói cách khác GD-ĐT phải bằng mọi
cách đáp ứng mục tiêu mà Đảng ta đề ra: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài cho đất nước.
Tuy vậy, chất lượng GD hiện nay nói chung là thấp, chưa đáp ứng được mục tiêu mà
Đảng ta đã chỉ ra. Nguyên nhân dẫn đến chất lượng không được như mong muốn như
thế có nhiều. Song vấn đề mấu chốt hiện nay vẫn là Phương pháp dạy học.
Chính vì lẽ đó, cho nên NQ TW 4 (khoá VII) đã xác định “Khuyến khích tự học”,
phải “Áp dụng những phương pháp hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực
tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” và điều đó lại được NQ TW 2 (khoá
VIII) tiếp tục khẳng định “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục
lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học.
Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá
trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học
sinh”.
Từ sự lãnh đạo - định hướng đổi mới giáo dục PT của Đảng (NQ TW 4 và NQ TW 2)
đã được Quốc Hội pháp chế hóa trong luật giáo dục “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
trên thế giới đánh giá cao và được áp dụng một cách phổ biến, thành thạo trong
trường học. Đối với họ, hiện nay tổ chức hoạt động nhóm đã trở thành một nhu
cầu từ cả phía người dạy-người học.
Còn nước ta phương pháp tổ chức hoạt động nhóm trước đây tuy đã có áp dụng nhưng
còn rất mờ nhạt. Đặc biệt, từ khi thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
theo NQ 40/QH-10, thì PPDH hoạt động nhóm không những khuyến khích, vận động
áp dụng, mà còn coi đây là một tiêu chí đánh giá mực độ hoàn thành nhiệm vụ của
người giáo viên khi lên lớp.
Thế nhưng thực tế trong ba năm học qua (02-03, 03-04, 04-05) ở trường THCS
Huỳnh Thúc Kháng chúng tôi, việc áp dụng PPDH hoạt động nhóm còn lắm điều
đáng bàn và trung thực khách quan mà nói thì việc sử dụng PPDH được khẳng định
định là tiên tiến nhất như trên vẫn còn mang hình thức đối phó, chưa mang lại hiệu
quả như mong muốn. Chính vì lẽ đó, cho nên bản thân tôi thời gian qua (khi thực hiện
thay sách) đã có nhiều băn khoăn, trăn trở làm thế nào để có cách chỉ đạo thực
hiện có nề nếp việc dạy học theo phương pháp hoạt động nhóm, nhằm góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện theo NQ 40 cỉa Quốc hội. Và trong suốt quá
trình ấy bản thân đã có một số việc làm tại đơn vị xin được bày tỏ dưới đây với mục
đích trao đỗi, ngõ hầu có được sự góp ý bổ sung của quý lãnh đạo, đồng nghiệp để
kinh nghiệm thêm phong phú, nhằm góp phần tốt trong việc chỉ đạo chuyên môn,
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
B- Giải quyết vấn đề:
1- Nghiên cứu hồ sơ, sổ sách của CBGV và HS để thu thập thông tin cần thiết:
Như chúng ta đã biết, cốt lõi của việc đổi mới PPDH ở trường THCS là giúp HS
hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Khi nghiên
cứu về nhóm PPDH tích cực thì tổ chức hoạt động nhóm không những nó hoàn toàn
có khả năng đó mà còn vượt trội hơn các phương pháp khác và bản thân nó còn tiềm
ẩn một sức mạnh cực kỳ to lớn – có nhiều khả năng phát huy được tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của người học. Cho nên việc vận dụng phương pháp tổ
chức hoạt động nhóm trong tiết học không còn là vấn đề nên hay không nên, mà
chúng ta phải làm sao để mọi giáo viên thực hiện một cách tự giác và học sinh
những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện một số công tác lớn. Trầm trọng hơn là
việc sơ, tổng kết đáng giá việc thực hiện tổ chức hoạt động nhóm còn chung chung,
thiếu mạnh dạn chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến. Do đó, chưa có bài học
kinh nghiệm hữu hiệu.
* Qua trao đổi, thăm dò CBGV: nổi lên một nguyên nhân khiến người dạy chưa “hít”
với phương pháp dạy học này (hoạt động nhóm), bởi vì nó đòi hỏi công phu và tốn
thời gian – kinh phí (tối thiểu 3 nghìn – 4 nghìn đồng/tiết) nhiều hơn khi khi không áp
dụng nó; mặt khác ngay sau tiết học, người học có cảm nhận tức thời về tính hiệu
quả không cao hơn so với các phương pháp truyền thống mà họ đã sử dụng
trước đây. Họ chưa thấy được tác dụng tích cực, tính bền vững lâu dài của nó
trong hoạt động nhận thức của con người. Hơn nữa đây là việc đổi mới quan niệm,
một thói quen trong dạy học cho nên sẽ gặp những khó khăn cả về nhận thức và
hành động Bởi lẽ, đây là phương pháp mới, HS-GV không quen, còn bỡ ngỡ với
cách học như thế và dẫn tới không ham thích. Đó là chưa nói tới những học sinh yếu,
lười học lợi dụng sự sơ hở, quản lý của giáo viên làm mất trật tự, ồn ào, làm cho
người dạy bực mình, chán nản. Thực tế có những tiết học khi đến phần hoạt động
nhóm HS rất ồn, thậm chí có cả quậy phá. Và điều này cũng dễ hiểu, vì các em HS
yếu ít có khả năng và không ham thích tham gia giải quyết những nhiệm vụ nhóm
phân công. Hơn nữa khi cái “mới” ra đời thường thường ít được chấp nhận, ít được
ủng hộ. Và để khắc phục những hạn chế này, là cán bộ quản lý chúng ta phải tác động
bằng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp không thể thiếu đó là phải tiến hành đồng
bộ, kiên trì, thường xuyên trên cả chỉ đạo thực hiện về nội dung, quy trình trên tất cả
đối tượng. Bởi vì, nếu để mỗi đơn vị (tổ chuyên môn), mỗi cá nhân GV làm theo cách
riêng của mình thì không bao giờ có nền nếp và như thế sẽ không bao giờ có hiệu quả
cao.
* Nhận thức của GV về tổ chức hoạt động nhóm chưa sâu, họ chưa thực sự giác ngộ
về nó, đặc biệt chưa nắm được cơ sở lý luận mang tính khoa học làm nền tảng khi áp
dụng, dẫn tới độ tin tưởng chưa cao. Làm cho họ thiếu quyết tâm, thiếu kiên trì chịu
khó trong việc làm.
2- Mở hội thảo bàn về cách tổ chức hoạt động nhóm có hiệu quả (tháng 11/05), nhằm
học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và cả lớp.
. Hoạt động trong tập thể nhóm sẽ làm cho từng thành viên được bộc lộ những suy
nghĩ hiểu biết của mình, qua đó được tập thể uốn nắn, điều chỉnh phát triển tình bạn, ý
thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tương trợ, ý thức cộng đồng.
. Từ xưa bên cạnh câu “Không thầy đố mày làm nên”, cha ông ta đã có câu “Học thầy
không tầy học bạn”
. Thoạt nhìn, tưởng như học tập theo cách hoạt động nhóm mâu thuẫn với học tập cá
thể, hạn chế mức độ tích cực của mỗi cá nhân; nhưng thực ra trong hoạt động nhóm,
mục tiêu hoạt động là chung của toàn nhóm, nhưng mỗi cá nhân đều phải nổ lực
không thể ỷ lại vào người khác, toàn nhóm phải phối hợp với nhau để cùng đạt mục
tiêu chung. Kết quả làm việc của từng nhóm được trình bày thảo luận trước lớp sẽ tạo
được không khí thi đua giữa các nhóm, đóng góp tích cực vào kết quả chung của bài
học. Mô hình hợp tác trong XH đưa vào đời sống học đường có tác dụng chuẩn bị cho
học sinh thích ứng với đời sống XH, trong đó mỗi người sống và làm việc theo sự
phân công hợp tác với tập thể cộng đồng. Trong xu hướng toàn cầu hoá, xuất hiện nhu
cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia thì năng lực hợp tác thực sự trở thành mục
tiêu đào tạo của giáo dục nhà trường.
. Việc tổ chức hoạt động nhóm phải chú ý đến trang thiết bị, ĐDDH nhất là bàn ghế
học sinh. Cụ thể ở đơn vị Huỳnh Thúc Kháng: bàn ghế HS là loại 2 chỗ ngồi đóng
liền (không xoay được) nên việc phân công nhóm có thể là: 2-4-8 (hợp lý nhất là
nhóm 4).
3- Chỉ đạo 5 tổ chuyên môn xây dựng - dạy minh hoạ chuyên đề “Tổ chức có hiệu quả
hoạt động nhóm” đối với 4 môn ở lớp 9: Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh và địa lý theo
hướng sau (lần I cấp trường: vào tháng 12/2004 và rút kinh nghiệm, bổ sung hoàn
chỉnh, để thực hiện lần II ở quy mô toàn Thị xã: vào ngày 7/4/2005; có mời Phòng
GD Thị xã dự):
3.1 Cấu trúc của chuyên đề:
3.1.1- Về cơ sở pháp lý:
3.1.2- Đặt vấn đề: (nêu cho được thực trạng của đối tượng và yêu cầu vè nó)
3.1.3- Giải quyết vấn đề: (mỗi bộ môn đều có ví dụ minh hoạ cụ thể trong mỗi bước).
ngày 07/4/2005; nhằm tranh thủ sự góp ý của trường bạn, mặt khác để tự khẳng định
mình; cụ thể:
. Năm tổ chuyên môn (Toán, Hoá-sinh, Tiếng Anh, Ngữ văn và Sử -địa) theo định
hướng của toàn trường như đã nói ở trên; mỗi tổ xây dựng- báo cáo chuyên đề vè dạy
minh hoạ 1 tiết. Sau đó họp tổ, rút kinh nghiệm chung ở cấp toàn Thị xã.
Qua buổi sinh hoạt chuyên môn với chuyên đề tren, mặc dù có nhiều ý kiến tham gia
phân tích và bổ sung thêm của lãnh đạo, GV các trường trong Thị đối với việc xây
dựng – áp dụng chuyên đề trên vào từng môn học, song nhìn chung vẫn thống nhất
đánh giá cao giá trị về cả 2 mặt lý luận và thực tiễn của nó.
5- Chỉ đạo xây dựng kế hoạch và quy trình sinh hoạt chuyên môn tổ:
Thực tế đã khẳng định, sự thành công của mỗi công việc đều bắt nguồn từ khâu làm
việc có kế hoạch (KH). Do vậy, ngay từ đầu năm hoc chúng tôi đã có sự chỉ đạo việc
xây dựng KH với những mục tiêu, nội dung, chỉ tiêu, biện pháp cụ thể: Yêu cầu nội
dung ngắn gọn bám sát nhiệm vụ năm học của Bộ, nhưng phải đảm bảo tính cân đối
toàn diện; có mục tiêu rõ ràng và biện pháp khả thi; có phân công nhiệm vụ cụ thể; có
thời gian khởi đầu và kết thú. Bên cạnh việc chỉ đạo xây dựng KH theo tinh thần đổi
mới chương trình GD phổ thông, áp dụng- tăng cường phương pháp dạy học tích cực,
sử dụng ĐDDH; BGH còn xây dựng và chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn hằng tuần bằng
một Quy trình cụ thể, gồm 3 phần:
Phần 2: B/c 1 chuyên dề hay thao giảng- thực tập 1 tiết có gắn với một chuyên đề cụ
thể.
Phần 2: Họp, thảo luận rút kinh nghiệm nội dung phần 1, kể cả nội dung chuyên môn
theo sự phân công cho các thành viên ở buổi sinh hoạt chuyên môn liền trước. Nhất
thiết, tổ trưởng phải dành 2/3 thời lượng sinh hoạt cho việc đánh giá, rút kinh nghiệm
tình hình thực hiện nhiệm vụ (chẳng hạn như xác định trước tổ mục tiêu, nội dung
trọng tâm cần truyền đạt, tổ chức hoạt động nhóm, đổi mới PP giảng dạy, ĐDDH đối
với tiết dạy cụ thể, để tập thể tổ tham gia- thống nhất và cả tổ cùng thực hiện). Ngoài
ra mỗi tổ còn có trách nhiệm nghiên cứu trước bài dạy từ 2-3 tuần để chắt lọc những
vấn đề mà mình băn khoăn, lúng túng, khi thiết kế bài dạy cả biện pháp khắc phục
hoặc làm sáng tỏ ý đồ của người viết sách. Sau khi trao đổi, bàn bạc có thể còn nhiều
“làm bảng phụ bằng bao ni lông trong, có lót nền bằng giấy roky trắng hoặc mặt sau
tờ lịch tập cũ” của cô giáo (Nguyễn Thị Thu Hương- GV toán) ở trường. Việc áp
dụng SKKN này thì chỉ tốn khoảng 200à300đ và rất ít tốn thời gian (chỉ cần 4 đến 5
mảnh giấy Roky trắng quy cách lớn - nhỏ hợp lý và 3kg bao ni lông trong - đủ loại
kích cở thì đủ áp dụng cho việc làm bảng phụ 1 năm học/1GV). Việc làm này rõ ràng
giảm được rất nhiều sự tốn kém về tiền bạc của nhà trường, cá nhân GV.
7- Cải tiến và đẩy mạnh công tác kiểm tra nội bộ: ngoài việc đảm bảo đúng các văn
bản chỉ đạo của Bộ về công tác thanh kiểm tra nội bộ trường học, nhà trường còn tăng
cường công tác kiểm tra HS để đánh giá việc giảng dạy của GV. Đặc biệt việc tự học
tập nâng cao trình độ; việc tự làm và sử dụng ĐDDH thông qua hồ sơ sổ sách của thư
viện, thiết bị. Coi trọng khâu tổng kết, rút kinh nghiệm sau kiểm tra. Chính việc làm
này đã góp phần tích cực trong việc xây dựng đội ngũ và tạo nên một nền nếp, một ý
thức tự giác coi trọng việc đảm bảo quy chế chuyên môn nâng cao nghiệp vụ tay
nghề.
C- Kết thúc vấn đề:
I- Kết quả đạt được:
1. Trên 70% các tiết lên lớp, ở tất cả các môn học việc tổ chức hoạt động nhóm được
chủ động diễn ra theo KH của người dạy. Đặc biệt, cách dạy học này (tổ chức hoạt
động nhóm) của GV đều đảm bảo quy trình chỉ đạo của Hiệu trưởng. Khi trình bày ở
bài soạn về vấn đề này có những lúc GV chẻ nhỏ thêm, nhưng nhìn chung qua thực tế
dự giờ và hồ sơ kiểm tra của BGH, tổ chuyên môn ở năm học 2005-2006 đều có
chung đánh giá- kết luận về tổ chức hoạt động nhóm của GV như sau:
+ Khi tiến hành đảm bảo đúng 3 bước: làm việc chung cả lớp, làm việc theo nhóm và
thảo luận tổng kết trước tập thể lớp.
+ Các thao tác của thầy, trò thành thạo, đặc biệt đa số ham thích thể hiện ở việc thảo
luận sôi nổi, mạnh dạn trình bày ý kiến của mình; biết tranh luận - chủ động chiếm
lĩnh kiến thức mới, dưới sự tổ chức của GV. Hiện tượng lười biếng, không tham gia
cùng nhóm để hoàn thành nhiệm vụ học tạp, hay quậy phá đã được giảm thiểu nhiều.
Cả thầy lẫn trò đều có sự chuẩn bị tốt cho tiết học, nhất là phần hoạt động nhóm.
2. Từ cơ chế chỉ đạo ấy, buộc mọi GV phải chấp hành và dần dần đã tập cho họ có
có được niềm tin. Đồng thời trên tinh thần phát huy dân chủ của CBGV, người thủ
trưởng phải xây dựng cho được một “cơ chế” để buộc mọi thành viên phải tuân theo.
Và chính việc làm nầy dần dần tạo cho hộ một nền nếp, thói quen tốt.
- Phải thường xuyên kiểm tra, nhất là kiểm tra đột xuất và có sự đối chiếu giữa hồ sơ
với thực tế để đánh giá, xếp loại. Qua kiểm tra phải có sơ-tổng kết và nhất thiết phải
có kiến nghị bằng văn bản; mặt khác không được xem nhẹ việc phúc tra.
- Đối với bất kỳ một công việc gì muốn thành công, người đứng đầu đơn vị phải
nghiên cứu, khảo sát, tìm ra nguyên nhân cơ bản và tác động bằng nhiều biện pháp
tích cực, khả thi đồng thời phải có quyết tâm cao. Kinh nghiệm thực tế cho thấy ở
chúng ta phải tác động cùng một lúc bằng nhiều biện pháp. Tuy nhiêm, không phải
dàn trãi mà phải xác định cho được đâu là biện pháp đột phá, để có sự đầu tư tập
trung- hợp lý. (Muốn nâng cao chất lượng GD toàn diện, nhất thiết GV phải đổi mới
PPDH).
I- Kiến nghị:
- Cần giảm bớt định mức lao động GV THCS từ 20 tiết/người/tuần xuống còn 18
tiết/người/tuần, vì áp dụng PPDH tích cực đòi hỏi người GV phải có thêm thời gian
hơn để nghiên cứu, soạn bài, làm ĐDDH…
- Đáp ứng đủ, kịp thời các trang thiết bị phục vụ dạy học mà cơ sở không có khả năng
tự làm hoặc mua sắm.
Trên đây là một số việc ở cơ sở trong thời gian qua và thực tế đã mang lại một số hiệu
quả nhất định. Qua bài viết này rất mong quý lãnh đạo và đồng nghiệp góp ý để bả
nthân có thêm những kinh nghiệm quý báu về công tác quản lý chỉ đạo của Hiệu
trưởng ở trường THCS vùng ven đô, nhằm góp phần thắng lợi trong việc thực hiện
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo QN 40 của Quốc hội khoá 10./.
Người thực hiện: Phạm Quang Thanh