Tài liệu Luận văn:"Một số biện pháp Chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh ở Công ty TNHH Thái Dương " - Pdf 10


TRƯỜNG
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP Đề tài Một số biện pháp Chủ
yếu nhằm nâng cao
hiệu quả kinh doanh ở
Công ty TNHH Thái
Dương
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

1
LỜI NÓI ĐẦU

Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở một nền
sản xuất hàng hoá. Thị trường luôn mở ra các cơ hội kinh doanh mới cho các doanh
nghiệp, nhưng đồng thời cũng chứa đựng những mối nguy cơ đe doạ cho các doanh
nghiệp. Để các doanh nghiệp có thể đứng vững trước qui luật cạnh tranh khắc
nghiệt của cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải vận động, tìm tòi
hướng đi cho phù hợp. Việc doanh nghiệp đứng vững chỉ có thể khẳng định bằng
cách hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù có ý nghĩa rất quan trọng trong mọi nền
kinh tế, là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp. Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là
quá trình so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về với mục đích đã được đặt ra
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP

I. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ VỀ VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH Ở
CÔNG TY.
1. Khái niệm về việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

3
Từ trước đến nay các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Hiệu quả kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất tức là giá trị
sử dụng của nó (hoặc là doanh thu và nhất là lợi nhuận thu được sau quá trình sản
xuất kinh doanh). Khái niệm này lẫn lộn giữa hiệu quả và mục tiêu kinh doanh.
- Hiệu quả kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế phản ánh nhịp độ tăng của các

đa với chi phí tối thiểu, hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định
hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu
theo nghĩa rộng là chi phí để tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng
thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là giá trị của việc lựa chọn tốt
nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của sự hy sinh công việc kinh doanh khác để thực
hiện hoạt động kinh doanh này. Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kế
toán và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ lợi ích kinh tế thật sự. Cách tính
như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt
nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả cao hơn.
3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị
thực hiện các chức năng của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh
không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà
quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai
phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả. Với
tư cách là một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ
được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp đầu
vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng
từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp.
Ngoài ra, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh còn là sự biểu hiện của việc lựa
chọn phương án sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp phải tự lựa chọn phương án sản
xuất kinh doanh của mình cho phù hợp với trình độ của doanh nghiệp. Để đạt được
mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp buộc phải sử dụng tối ưu nguồn lực sẵn
có. Nhưng việc sử dụng nguồn lực đó bằng cách nào để có hiệu quả nhất lại là một
bài toán mà nhà quản trị phải lựa chọn cách giải. Chính vì vậy, ta có thể nói rằng
việc nâng cao hiệu quả kinh doanh không chỉ là công cụ hữu hiện để các nhà quản
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

5

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

6
phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh. Chấp nhận cơ chế thị
trường là chấp nhận sự cạnh tranh. Song khi thị trường ngày càng phát triển thì cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn. Sự cạnh tranh lúc
này không còn là sự cạnh tranh về mặt hàng mà cạnh tranh về mặt chất lượng, giá
cả mà cò phải cạnh tranh nhiều yếu tố khác nữa. mục tiêu của doanh nghiệp là phát
triển thì cạnh tranh là yếu tố làm cho doanh nghiệp mạnh lên nhưng ngược lại cũng
có thể là cho doanh nghiệp không tồn tại được trên thị trường. Để đạt được mục tiêu
là tồn tại và phát triển mở rộng thì doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh
trên thị trường. Do đó doanh nghiệp cần phải có hàng hóa, dịch vụ chất lượng tốt,
giá cả hợp lý. Mặt khác hiệu quả lao động là đồng nghĩa với việc giảm giá thành,
tăng khối lượng hàng hóa, chất lượng, mẫu mã không ngừng được cải thiện nâng
cao
Thứ ba, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là nhân tố cơ bản tạo ra sự
thắng lợi cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị trường.
Muốn tạo ra sự thắng lợi trong cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải không
ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Chính sự nâng cao hiệu quả kinh
doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của mỗi
doanh nghiệp.
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA MẶT HÀNG LÂM SẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ
KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH THÁI DƯƠNG

1. Đặc điểm về sản phẩm
Là một công ty chuyên khai thác và chế biến mặt hàng lâm sản, trước hết sản
phẩm của công ty sẽ có đặc điểm là đồ gỗ, sản phẩm của công ty sản xuất ra sẽ cung
cấp cho các các thị trường trong nước cũng như nước ngoài. Tuỳ theo tính chất và
đặc điểm của từng loại sản phẩm mà khách hàng yêu cầu công ty sẽ có những kế
hoạch phân công tới từng bộ phận thực hiện.

cầu ngày càng cao của khách hàng. Việc doanh thu của loại hình sản xuất này mang
lại lợi nhuận rất cao nên nó ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Ngoài ra khi sản xuất loại sản phẩm này đều không gây mất nhiều chi phí
bảo quản dẫn đến giảm chi phí sản xuất kinh doanh và tăng hiệu quả kinh doanh cho
doanh nghiệp.
- Một đặc điểm nữa về sản phẩm là được sản xuất theo nhu cầu thị trường và
đơn đặt hàng của khách hàng, đặc điểm này có thuận lợi là không có nhiều hàng tồn
kho ứ đọng hay thất thoát vốn, nhưng cũng chính đặc điểm này làm cho doanh
nghiệp không chủ động được nhiều trong việc sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu
quả cũng như tiết kiệm được nguyên vật liệu.
2. Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật.
Để phục vụ tốt hơn trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp, mỗi công ty,
doanh nghiệp phải có những bước đi đúng đắn trong quá trình đầu tư máy móc thiết
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

8
bị, cũng như nguyên vật liệu để đảm bảo cho sự hoạt động liên tục của dây chuyền
sản xuất cũng như tiếp cận với những công nghệ mới để nâng cao chất lượng, hiệu
quả cho sản phẩm của mình. Đó là yếu tố mang tính tất yếu cho sự sống còn của
mỗi doanh nghiệp sản xuất. Hiện nay, công ty TNHH Thái Dương có hệ thống cơ
sở vật chất kỹ thuật như sau: Thống kê hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty.
Đơn vị: 1000đ
Các chỉ tiêu Nguyên giá Giá trị còn lại
Hệ thống văn phòng làm việc 750.000

550.000

Hệ thống xưởng sản xuất
Hệ thống kho bãi

Máy bào 20 45 1998 Đài Loan
Máy đánh bóng 15 40 1996 Đài Loan
Máy chạm, khảm 28 35 1991 Trung Quốc
Máy sơn 12 35 1991 Nhật
Máy khoan 16 45 1996 Đài Loan
(Theo nguồn: Phòng kỹ thuật tháng 12/2005)
Ảnh hưởng của cơ sở vật chất kỹ thuật đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Như trên đã trình bày ta thấy rằng giá trị còn lại của hệ thống cơ sở vật chất
của công ty là rất thấp so với nguyên giá ban đầu, do nhiều hệ thống đã khấu hao và
các hệ thống đầu tư mới chưa có nhiều. Điều này đã gây nhiều bất lợi cho công ty
trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật
thấp kém, thứ nhất ảnh hưởng đến việc phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. Hệ
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

9
thống văn phòng làm việc xuống cấp, không đầy đủ trang thiết bị cần thiết cho hoạt
động quản lý của công ty. Sự sắp xếp giữa các phòng ban chưa tạo nên điều kiện
thuận lợi cho việc trao đổi thông tin và thành một tổng thể thống nhất nên không tạo
ra được một bầu không khí, một môi trường làm việc thoải mái khuyến khích người
lao động làm việc hăng say hơn. Hệ thống kho tàng các phân xưởng đã xuống cấp
rất nhiều, thậm chí những nơi không còn đủ điều kiện đảm bảo cho việc sản xuất
kinh doanh. Sự xuống cấp này đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động và an
toàn lao động, người lao động chưa yên tâm thoải mái làm việc và không đảm bảo
cho bảo quản nguyên vật liệu, sản phẩm và hàng hoá. Mặc dù công ty đã có nhiều
biện pháp để khắc phục giảm bớt những khó khăn về cơ sở hạ tầng nhưng vẫn chưa
đáp ứng được nhu cầu của sản xuất kinh doanh. Phương tiện vận tải dùng để vận
chuyển hàng hoá có số lượng hạn chế đôi khi chưa đáp ứng đủ nhu cầu vận chuyển
hàng hoá của công ty. Nó gây ảnh hưởng trì trệ, không kịp thời và ảnh hưởng đến
hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Ảnh hưởng thứ hai của cơ sở vật chất hạ tầng như hiện nay của công ty ngày

1. Lao động gián tiếp: 21 21%
- Quản lý 9 9%
- Ký thuật 12 12%
2. Lao động trực tiếp: 79 79%
- Phân xưởng sản xuất 60 60%
- Kho bãi 10 10%
- Phân xưởng KCS 9 9%
Tổng 100 người 100%

(Theo nguồn: Phòng tổ chức lao động tiền lương tháng 12/2005)
Nhìn vào bảng trên ta thấy với 100 cán bộ công nhân viên của công ty, lao
động gián tiếp chiếm tỷ trọng nhỏ (21%) trong đó có 9% là lao động quản lý, đây là
một bộ máy quản lý đã được tinh giảm, gọn nhẹ, chứng tỏ ban giám đốc chú trọng
đến chất lượng lao động hơn là số lượng lao động. Công ty cũng là doanh nghiệp
làm việc theo chế độ một thủ trưởng. Vì vậy, cũng hạn chế tối đa được sự chồng
chéo trong khâu quản lý trong công ty.
Cơ cấu trong lao động các phân xưởng cũng được sắp xếp một cách hợp lý,
đối với các khâu thiết kế mẫu mã đến khâu cuối cùng là KCS, đảm bảo một cách
tối đa công suât, năng lực của từng bộ phận. Với cơ cấu nhân sự như vậy công ty đã
phần nào đáp ứng được nhu cầu sản xuất tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
- Cơ cấu lao động theo trình độ:

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

11
Chỉ tiêu lao động
Đại v
à sau
đại học

nghề đã quen với nếp sống kỷ luật của công ty nhưng nó cũng khó khăn về sức khoẻ
và tuổi tác của công nhân này đã cao, sắp hết tuổi lao động. Nhiều người trong số
họ sức khỏe đã giảm đi làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động. Vì vậy
công ty cần phải chuẩn bị tuyển người và đào tạo nâng cao tay nghề của các lớp
công nhân trẻ, kịp thời thay thế cho các lớp thế hệ trước.
4. Đặc điểm về nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là một trong 3 yếu tố của quá trình sản xuất trực tiếp cấu
thành nên thực thể sản phẩm. Thiếu nguyên vật liệu thì quá trình sản xuất bị gián
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

12
đoạn hoặc không thể tiến hành được. Vì vậy, nguyên vật liệu có ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu, đến
hiệu quả của việc sử dụng vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Nguyên vật liệu của công ty có đặc điểm là nguyên vật liệu thuộc về lâm sản.
Như chúng ta đã biết nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện nay ngày càng ít đi, nhiều
khu rừng ở nước ta đã cạn kiệt và nhất là chính phủ đã ra lệnh cấm khai thác gỗ bừa
bãi. Nguyên vật liệu chủ yếu được nhập khẩu từ các nước như: Lào, Campuchia,
Inđônêxia Vì thế, doanh nghiệp phải lên một kế hoach thật cụ thể trong khâu
nhập nguyên vật liệu sao cho chất lượng, số lượng và giá cả cho phù hợp với bến
bãi cũng như quá trình sản xuất. Chú trọng nhất là làm sao có đủ nguyên vật liệu để
đáp ứng cho khâu sản xuất kịp thời, để xuất hàng cho khách đùng thời hạn Do đó
công ty phải làm tốt các khâu trên, tránh ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
5. Đặc điểm về thị trường .
5.1. Về thị trường cung ứng nguyên vật liệu và hàng hoá kinh doanh.
Đối với thị trường cung ứng nguyên vật liệu cho công ty như các công ty khai
thác gỗ ở Tây nguyên, các công ty nhập gỗ từ các nước như Lào, Campuchia,
Inđônêxia đều là những thị trường đầu vào. Đặc điểm này có ảnh hưởng tích cực
và tiêu cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh như sau:

thủ cạnh tranh lớn kìm hãm công ty trong việc mở rộng thị trường, ảnh hưởng tiêu
cực đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.
II. HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP
1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Khi xem xét hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, cần phải dựa vào
một hệ thống các tiêu chuẩn, các doanh nghiệp phải coi các tiêu chuẩn là mục tiêu
phấn đấu. Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là mốc xác định ranh giới có
hay không có hiệu quả. Nếu theo phương pháp so sánh toàn ngành có thể lấy giá trị
bình quân đạt được của ngành làm tiêu chuẩn hiệu quả. Nếu không có số liệu của
toàn ngành thì so sánh với các chỉ tiêu của năm trước. Cũng có thể nói rằng, các
doanh nghiệp có đạt được các chỉ tiêu này mới có thể đạt được các chỉ tiêu về kinh
tế. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

14
1.1. Nhóm chỉ tiêu tổng hợp.
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, bao gồm:
- Chỉ tiêu doanh thu trên 1 đồng chi phí
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm
trong kỳ
Chỉ tiêu doanh thu trên 1 đồng chi phí =
Tổng chi phí sản xuất và tiêu
thụ trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ tạo ra được
bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này cao khi tổng chi phí thấp, do vậy nó có ý
nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tìm ra các biện pháp giảm chi phí để tăng
hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Chỉ tiêu doanh thu trên một đồng vốn sản xuất (sức sản xuất của vốn):

1.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cơ bản.
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động.
- Chỉ tiêu năng suất lao động:
Tổng giá trị sản xuất tạo ra trong kỳ
Chỉ tiêu năng suất lao động =
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một lao động sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản
xuất.
- Chỉ tiêu kết quả sản xuất trên một đồng chi phí tiền lương:
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Chỉ tiêu kết quả sản xuất trên 1
đồng chi phí tiền lương =
Tổng chi phí tiền lương trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí tiền lương trong kỳ tạo ra được bao nhiêu
đồng doanh thu.
- Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân tính cho một lao động:
Lợi nhuận trong kỳ
Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân tính
cho một lao động =
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết bình quân một lao động trong kỳ tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
- Hệ số sử dụng lao động:
Tổng số lao động được sử dụng
Hệ số sử dụng lao động =
Tổng số lao động hiện có
Chỉ tiêu này cho biết trình độ sử dụng lao động của doanh nghiệp.
- Hệ số sử dụng thời gian lao động:
Tổng thời gian lao động thực tế
Hệ số sử dụng thời gian lao động =

Hệ số đổi mới tài sản cố định =
Tổng tài sản cố định hiện có
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn lưu động:
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Sức sản xuất của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
- Sức sản xuất của vốn lưu động:
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động trong kỳ sẽ tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
- Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động:
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết cần bao nhiêu đồng vốn lao động đảm nhiệm để tạo ra
một đồng doanh thu.
- Số vòng quay của vốn lưu động:
Số vòng quay cảu vốn lưu động =
Doanh thu thuần
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

17
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả và
ngược lại.
- Thời gian của một vòng quay:
Thời gian của kỳ phân tích
Thời gian của một vòng quay =
Số vòng quay của vốn lưu động

Chỉ tiêu này cho biết số ngày để vốn lưu động quay được một vòng. Thời gian
2. Quá trình phát triển và cơ cấu tổ chức của công ty TNHH Thái Dương.
2.1. Quá trình phát triển của công ty.
Trong những năm đầu hoạt động công ty TNHH Thái Dương gặp rất nhiều
khó khăn, nền kinh tế nước ta mới chuyển hướng từ cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì thế, với công
ty còn non trẻ như công ty TNHH Thái Dương sẽ không tránh khỏi những khó khăn
và thách thức. Nhưng với sự nỗ lực của ban Giám đốc cũng như toàn thể cán bộ
công nhân viên. Công ty đã phát triển và ngày càng đứng vững hơn trong cơ chế thị
trường vô cùng khắc nghiệt đó. Nhưng trong những năm hoạt động kinh doanh công
ty TNHH Thái Dương vẫn luôn hoàn thành tốt mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước,
trong những năm đầu hoạt động, công ty chuyên khai thác và chế biến lâm sản cung
cấp cho những khách hàng truyền thống trong nước cũng như ngoài nước. Hiện nay
công ty TNHH Thái Dương mở rộng và đầu tư sang nước bạn Lào để khai thác và
luyện khoáng sản. Với từng bước phát triển và mở rộng thêm thị trường công ty
TNHH Thái Dương quyết tâm sẽ ngày càng vững mạnh hơn trong nền kinh tế thị
trường hiện nay cũng như mai sau.
Với khẩu hiệu “Chữ Tín ” là sức mạnh. Công ty TNHH Thái Dương đang vư-
ợt qua những khó khăn chung trong nền kinh tế kinh tế thị trường để phát triển,
không những giữ vững thị trường trong nước mà còn tăng cường mở rộng thị trường
ra bên ngoài.
2.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty.
Hiện nay Công ty TNHH Thái Dương gồm 100 cán bộ, nhân viên, công nhân
lao động trong đó có 15 kĩ sư tốt nghiệp các trường đại học: Ngoại thương, Kinh tế
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

19
quốc dân, Tài chính, Bách khoa, Xây dựng, Giao thông, Nông nghiệp, Mỏ địa chất
cùng 6 nhân viên trung cấp tài chính kế toán và 79 công nhân.

Phòng
kế toán
Phòng
dự án
Bộ
phận
Văn
Phòng
Phòng
kinh
doanh
Kho và
phòng
mẫu
Phòng
máy
móc,
thiết bị
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

20
Chuyên về bộ phận xe, máy và thiết bị để phục vụ cho khái thái và sản xuất.
Bảo trì lại những máy móc và thiết bị để phục vụ cho sản xuất.
* Bộ phận văn phòng: Tổ chức mau sắm phương tiện việc làm, văn phòng
phẩm phục vụ cho quá trình làm việc của các phòng ban:
- Tổng hợp truyền đạt các quyết định của giàm đốc cho các phòng ban.
- Chuẩn bị thông báo các cuộc họp cho các bộ phận trong công ty.
- Chuẩn bị tiếp khách và liên hệ xe đi lại cho các đoàn khách .
* Kho và phòng mẫu:
- Kho: Cất trữ hàng hoá và sản phẩm của công ty là kho chính.

và nỗ lực bản thân thì công ty còn có nhiều khó khăn hạn chế từ môi trường bên
trong cũng như bên ngoài của công ty, đã tác động không nhỏ đến mục tiêu nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Qua quá trình thực tế nghiên cứu tại công ty TNHH Thái Dương, tôi rút ra đ-
ược những nhận xét chung như sau:
- Công ty luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch về doanh thu, lợi
nhuận, giá trị tổng sản lượng.
- Đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng được cải thiện do thu nhập tăng
từ 750.000đ/ người/ tháng năm 2000 lên đến 950.000đ/ người/ tháng trong năm
2001 và đến năm 2005 là 1.450.000đ/ người/ tháng.
- Công ty hàng năm đã đóng góp một phần nhỏ cho ngân sách nhà nước, góp
phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước cũng như tạo công ăn việc làm
cho người lao động cùng với sự phát triển của công nghệ mới trong quá trình tạo
nên một bước mới trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. 1.1. Những điểm mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Công ty TNHH Thái Dương là một công ty tư nhân có dây chuyền công nghệ
mới được đưa vào sản xuất cùng với một loạt các dây chuyền sản xuất phục vụ cho
sự hoạt động của công ty luôn được đảm bảo một cách thông suốt từ trên xuống d-
ưới. Những công nghệ mới được đưa vào sản xuất đã góp phần nâng cao hiệu quả
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Ưu điểm của dây chuyền công nghệ này là do
nhập từ nước ngoài cùng với công nhân kỹ thuật cao được đào tạo cơ bản do các
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

22
chuyên gia hướng dẫn nên đáp ứng được các nhu cầu đặt ra để nâng cao năng suất
lao động, tận dụng được nguồn nhân lực sẵn có và tạo thế chủ động cho công ty.
Với sản phẩm là các loại mặt hàng về đồ thủ công mỹ nghệ, gỗ chất lượng cao
và uy tín của công ty về chất lượng sản phẩm, phương thức sản xuất kinh doanh là

với một doanh nghiệp sản xuất mới ra đời, nhưng công ty đã nhạy bén trong việc
nắm bắt những thông tin về tình hình kinh tế - xã hội rất kịp thời, sự thay đổi trên
thị trường, sự thay đổi trong môi trường kinh doanh và các chính sách của nhà nước
và các ngành nghề kinh doanh của mình.
1.2. Những điểm yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Mặc dù có một số ưu điểm trên, nhưng nhìn chung công ty vẫn còn nhiều khó
khăn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Vấn đề về kỹ thuật công nghệ: Ngoài những dây chuyền máy móc được nhập
từ nước ngoài, còn lại một loạt những máy móc đã quá lạc hậu so với sự phát triển
một cách nhanh chóng của công nghệ hiện nay.
Công tác kinh doanh của công ty gồm những khâu như sau: thu thập thông tin,
xử lý thông tin và ra quyết định kinh doanh. Đối với công ty TNHH Thái Dương thì
các khâu này hoạt động rất thủ công. Các khâu của hoạt động này rất cần có sự hỗ
trợ của các phương tiện hiện đại: dịch vụ mạng và Internet, các phương pháp nghiên
cứu hiện đại, các ứng dụng thương mại điện tử Email Những hạn chế về kỹ thuật
này đã gây ra những tổn thất cho công ty và làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận của
công ty. Ngoài ra còn có những thiệt hại như luôn bị thiếu thông tin về các đối tác
kinh doanh, ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh rất lúng túng và thiếu
chính xác, không xử lý và phân loại được thông tin thứ cấp.
- Về thị trường: do nhu cầu về số lượng, chất lượng của những doanh nghiệp
có sử dụng sản phẩm của công ty đòi hỏi sự thích ứng một cách nhanh nhạy trong
cơ chế thị trường mà thực sự thì trong lĩnh vực này công ty thực sự chưa chú trọng
nhiều, vì vậy gặp rất nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu thị trường cũng như việc
phát triển thị trường. Công việc này nhiều khi còn rất chồng chéo, không hiệu quả
cho nên không tạo nên sự khác biệt nhiều về chất lượng sản phẩm cũng như mẫu mã
sản phẩm.
Hiện nay việc nghiên cứu nhu cầu thị trường của công ty còn rất yếu kém,
công ty không có biện pháp nghiên cứu thị trường riêng của mình, nên việc nắm bắt
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp


đãi cho các doanh nghiệp có tỷ lệ nội địa hoá theo quy định. Do vậy mà hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status