Tài liệu Tiểu luận:"Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác tổ chức lao động khoa học cho lao động quản lý tại Công ty cơ khí 79” - Pdf 10


TRƯỜNG
KHOA……………………

TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI
Một số ý kiến nhằm hoàn
thiện công tác tổ chức lao
động khoa học cho lao động
quản lý tại Công ty cơ khí 79

Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B
1
LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời đại ngày nay với chính sách đổi mới và mở cửa nền kinh tế.
Đối với bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào việc tổ chức hợp lý hoạt động của
những người lao động làm trong lĩnh vực quản lý sản xuất có vai trò đặc biệt
quan trọng. Vai trò quan trọng xuất phát từ chỗ, những người làm việc trong
lĩnh vực quản lý sản xuất là những người làm công việc chuyển bị và lãnh
đạo sản xuất về mọi mặt (về công nghệ, tổ chức, kỹ thuật, hành chính) cũng
như những công việc để tiêu thụ sản phẩm. Hoạt động lao động của họ có tác
dụng quyết định hiệu quả sản xuất chung của xí nghiệp. Do vậy mọi công ty
dù lớn hay nhỏ muốn tồn tại, đứng vững, cạnh tranh có hiệu quả phải làm tốt
công tác “Tổ chức lao động khoa học trong lĩnh vực quản lý”.
Hiện nay, một vấn đề nan giải của các công ty quốc doanh đó là việc

học cho lao động quản lý tại Công ty cơ khí 79” để viết chuyên đề thực tập
tốt nghiệp. Kết cấu của đề tài gồm 3 phần :
Phần I : Lý luận chung về tổ chức lao động khoa học trong lĩnh vực quản lý
và vai trò của nó trong các đơn vị sản xuất kinh doanh.
Phần II: Phân tích thực trạng công tác tổ chức lao động khoa học cho cán bộ
quản lý ở công ty cơ khí 79 .
Phần III : Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tổ chức
lao động khoa học cho cán bộ quản lý ở công ty cơ khí 79.

Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B
3
CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC
TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ VAI TRÒ C
ỦA NÓ TRONG
CÁC ĐƠN VỊ SẢN XUẤT KINH DOANH

I-KHÁI NIỆM VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC
1-khái niệm về tổ chức lao động


3-Phân biệt tổ chức lao động và tổ chức lao động khoa học.
Tổ chức lao động khoa học và Tổ chức lao động giống nhau ở chỗ nó
đều là sự tổ chức quá trình hoạt động của con người tác động lên đối tượng
lao động.
Nó khác nhau ở phương pháp, cách giải quyết và mức độ phân tích
khoa học các vấn đề, Tổ chức lao động khoa học chính là quá trình đưa vào
Tổ chức lao động những thành tựu đạt được của khoa học và những kinh
nghiệm sản xuất tiên tiến để làm tăng hiệu suất chung của lao động. Tổ chức
lao động khoa học chính là Tổ chức lao động ở trình độ cao hơn tổ chức lao
động hiện hành. Tổ chức lao động khoa học cần phải được áp dụng ở mọi
nơi có hoạt động lao động của con người. Trong các quá trình lao động sản
xuất, trong lĩnh vực lãnh đạo và quản lý sản xuất, trong công tác thiết kế vận
chuyển, sửa chữa vv cũng như đối với cả những hoạt động ngoài lĩnh vực
sản xuất vật chất (y tế, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật )
4-Mục đích, ý nghĩa và nhiệm vụ của tổ chức lao động khoa
học.
a-Mục đích

Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B
5
Tổ chức lao động khoa học nhằm đạt được kết quả lao động cao đồng
thời cải thiện được điều kiện làm việc cho người lao động nhằm bảo đảm
sức khỏe, an toàn cho người lao động và phát triển toàn diện người lao động,
góp phần củng cố các mối quan hệ xã hội giữa người lao động và phát triển
các tập thể lao động.
Mục đích này được xuất phát từ việc đánh giá cao vai trò của con
người trong quá trình tái sản xuất xã hội. Với tư cách là lực lượng sản xuất
chủ yếu, người lao động chính là sáng tạo nên những thành quả kinh tế- kỹ
thuật của xã hội và cũng chính là người sử dụng những thành quả đó. Do đó,
mọi biện pháp cải tiến Tổ chức lao động, cải tiến tổ chức sản xuất đều phải

nhất những yếu tố gây trở ngại lao động, bằng mọi cách nâng cao mức độ
hấp dẫn của lao động tiến tới hướng biến lao động thành nhu cầu thiết yếu
của con người.
Về mặt tâm lý :
Tổ chức lao động khoa học có nhiệm vụ đảm bảo cố gắng tạo ra
những điều kiện thuận lợi để hạn chế tới mức thấp nhất những bất lợi của
môi trường và của tính chất công việc để bảo vệ sức khỏe, duy trì khả năng
làm việc của người lao động.
II-NGUYÊN TẮC CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC
CHO CÁN BỘ QUẢN LÝ

Cũng như tổ chức lao động khoa học cho lao động trực tiếp việc áp
dụng tổ chức lao động khoa học cho cán bộ quản lý cũng tuân thủ các
nguyên tắc sau.
1-Nguyên tắc về tính khoa học của các biện pháp.
Đòi hỏi các biện pháp tổ chức klao động khoa học trước hết phải được
thiết kế và áp dụng trên cơ sở vận dụng các kiến thức khoa học (thể hiện ở sự

Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B
7
sử dụng các nguyên tắc khoa học, các tiêu chuẩn, các quy định, các phương
pháp và công cụ đo hiện đại ). Đồng thời, các biện pháp tổ chức lao động
khoa học phải đáp ứng được yêu cầu của các quy luật kinh tế của chủ nghĩa
xã hội, phải có tác dụng phát hiện và khai thác các khả năng dự trữ để nâng
cao năng xuất lao động, phải là cơ sở quyết định để thoả mãn nhu cầu ngày
càng tăng của con người thông qua việc làm cho người lao động thích ứng
với con người và tạo nên những điều kiện thuận lợi cho con người.
2-Nguyên tắc về tính tổng hợp của việc áp dụng các biện pháp
Đòi hỏi các sự việc và vấn đề phải được nghiên cứu, xem xét trong
mối quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, trong quan hệ giữa bộ phận với toàn

những hình thức phương án và phương pháp tiến hanh phù hợp với điều kiện
cụ thể của doanh nghiệp. Bất cứ một sự sao chép, vận dụng cứng nhắc nào
đều có thể dẫn đến những sai lầm hoặc làm giảm hiệu quả của những biện
pháp.
III-LAO ĐỘNG QUẢN LÝ, NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG LAO
ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NÓ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN CÔNG TÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG.
1-Lao động quản lý, sự phân loại lao động quản lý.
Nếu xét theo quan điểm của lý thuyết hệ thống và lý thuyết quản lý thì
bất cứ xí nghiệp công nghiệp nào cũng là một hệ thống được tạo thành từ hai
hệ thống bộ phận là hệ thống bộ phận quản lý và hệ thống bộ phận bị quản
lý.
Hệ thống quản lý bao gồm : Hệ thống các chức năng quản lý, hệ thống
các bộ phận quản lý (các phòng, ban) và những cán bộ, nhân viên làm việc

Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B
9
trong đó ; Hệ thống các mối quan hệ quản lý và hệ thống các phương tiện vật
chất - kỹ thuật, các phương pháp quản lý cần thiết để giải quyết các công
việc quản lý.
Hệ thống bị quản lý là hệ thống sản xuất bao gồm các phân xưởng, bộ
phận sản xuất và toàn bộ lực lượng lao động, vật tư máy móc, phương tiện
kỹ thuật và phương pháp công nghệ được bố trí và sử dụng trong đó.
Nhờ có hoạt động lao động của lao động quản lý mà các chức năng
quản lý được thực hiện, làm cho quản lý trở thành quá trình.
Trong xí nghiệp, lao động quản lý được phân loại theo 2 tiêu thức sau
:
+ Theo chức năng : Vai trò của họ đối với việc quản lý toàn bộ quá
trình sản xuất (tức là theo tính chất của các chức năng mà họ phải thực hiện)
+ Theo vai trò của họ đối với việc thực hiện chức năng quản lý.

b-Theo vai trò đối với việc thực hiện chức năng quản lý, lao
động quản lý được phân loại thành :
- Cán bộ lãnh đạo.
- Các chuyên gia.
- Nhân viên thực hành kỹ thuật.
Sự phân loại này xuất phát từ cơ sở thực tế là : Bất kỳ một chức năng
quản lý nào cũng được tạo thành từ những công việc lãnh đạo (tức là những
công việc tổ chức - hành chính) và những công việc chuyển bị thông tin cần
thiết cho việc thực hiện các công việc lãnh đạo đó (tức các công việc kỹ
thuật).
*Cán bộ lãnh đạo :
Là những người lao động quản lý trực tiếp thực
hiện chức năng lãnh đạo, bao gồm : Giám đốc, phó giám đốc, quản đốc và
phó quản đốc, các trưởng nghành, đốc công, trưởng phó các phòng ban trong
bộ máy quản lý xí nghiệp.
* Các chuyên gia :
Là những lao động quản lý không thực hiện chức
năng lãnh đạo trực tiếp mà thực hiện các công việc chuyên môn . Bao gồm :
Các cán bộ kinh tế, kỹ thuật viên, cán bộ thiết kế và công nghệ và những

Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B
11

người cộng tác khoa học ( nếu có ) như : Nhà toán học, tâm lý học, xã hội
hoc.
*Nhân viên thực hành kỹ thuật
: Là những người lao động quản lý
thực hiện các công việc đơn giản, thường xuyên lập đi lập lại, mang tính chất
thông tin -kỹ thuật và phục vụ bao gồm :
Các nhân viên hoạch toán và kiểm tra, các nhân viên làm công tác

hoàn thành công việc.
Yếu tố thực hành giản đơn
thể hiện ở sự thực hiện các công việc đơn
giản, được thực hiện theo các quy định, hướng dẫn có sẵn như các công việc
có liên quan đến thu nhập và sử lý thông tin, truyến tin và các công việc
phục vụ.
Yếu tố hội họp và sự vụ
thể hiện ở việc tham gia các cuộc hội họp về
chuyên môn hoặc giải quyết các các công việc có tính chất thủ tục (ví dụ : ký
duyệt giấy tờ).
Nôi dung lao động của cán bộ, nhân viên quản lý đều chứa đựng 5
thành phần này sự khác nhau chỉ là ở tỷ trọng thành phần các yêu tố đó.
Tuy nhiên, hoạt động lao động của tất cả các cán bộ, nhân viên quản
lý đều mang tính chất giống nhau. Những tính chất đó hợp thành những đặc
điểm chung của hoạt động lao động quản lý, quy định tính chất đặc thù của
các biện pháp TCLĐKH được áp dụng.
Những đặc điểm đó bao gồm như sau:
1
.Hoạt động lao động quản lý là hoạt động lao động trí óc và
mang nhiều tính sáng tạo

Đặc trưng chung của hoạt đông lao động quản lý là lao động trí óc.
Đặc trưng chung đó chính là đặc điểm cơ bản mà từ đó dẫn đến những đặc
điểm khác của hoạt động lao động quản lý và những yêu cấu cần được lưu ý
trong quá trình tổ chức lao động cho lao động quản lý các loại.

Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B
13

Lao động trí óc được định nghĩa là : Sự tiêu hao sức lao động dưới tác

.
Trong quá trình lao động quản lý, đối tượng lao động không phải là
các yếu tố vật chất thông thường mà là các thông tin kinh tế. Bằng hoạt động
lao động của mình, lao động quản lý thu nhận và biến đổi các thông tin để
phục vụ mục đích quản lý ở các cấp quản lý trong xí nghiệp.
Những thông tin kinh tế chưa được xử lý là đối tượng lao động của lao
động quản lý còn những thông tin đã được xử lý chính là kết quả của hoạt
động lao động quản lý của họ. Mặt khác, thông tin kinh tế l
à
phương tiện để
hoàn thành nhiệm vụ của tất cả lao động quản lý các loại.
4. Nhìn chung hoạt động lao động quản lý có nội dung đa dạng,
khó xác định và kết quả lao động không biểu hiện dưới dạng vật chất
trực tiếp.
Đây là một đặc điểm nổi bật của hoạt động lao động quản lý và là một
khó khăn cho công tác tỏ chức lao động.
Do nội dung công việc đa dạng, khó xác định và kết quả lao động
không biểu hiện dưới dạng vật chất trực tiếp (không tính được bằng các số
đo tự nhiên như chiếc, cái ) Nên hoạt động lao động quản lý khó theo dõi,
khó đánh giá và khó định mức.
5. Hoạt động lao động quản lý là các thông tin các tư liệu thực
hiện cho việc hình thành và thực hiện các quyết định quản lý
: Một
sai sót nhỏ trong hoạt động quản lý có thể dẫn tới ảnh hưởng lớn trong sản
xuất, nên đòi hỏi các cán bộ, nhân viên quản lý phải có tinh thần trách nhiệm
cao.
3- Phân loại thời gian làm việc của lao động quản lý.

Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B
15

lao động
Thời gian
làm việc không
thuộc nhiệm vụ
lao động
Thời
gian
dnh
cho nghỉ
ngơi v
nhu cầu
c

n thi
ế
t
Thời gian
ngưng việc
do vi phạm
kỷ luật lao
động

Thời gian
ngưng
việc do
nguyên
nhân tổ
ch

c k

việc, thời gian công tác chính (hay thời gian tác nghiệp) và thời gian phục vụ
nơi làm việc.
Thời gian chuyển bị và kết thúc công việc
là thời gian giành cho
việc chuyển bị và kết thúc một nhiệm vụ lao động. Loại thời gian này xảy ra
Thời
gian
chuyển
bị kết
thúc
công
Thời
gian
công
tác
chín
h

Thời
gian
phục
vụ nơi
lm
vi

c

Hao phí th

i gian không

17

trước khi bắt đầu và sau khi kết thúc việc thực hiện nhiệm vụ lao động, ví dụ
như : Nhận nhiệm vụ, báo cáo công việc đã hoàn thành, chuyển bị các tài
liệu, phương tiện kỹ thuật cần thiết trước khi làm việc và thu dọn chúng sau
khi hoàn thành công việc
Thời gian phục vụ nơi làm việc
là thời gian giành cho việc chyển bị
và chăm sóc thường xuyên nơi làm việc, đảm bảo các điêu kiện tổ chức, vật
chất- kỹ thuật cần thiết để công việc có thể tiến hành bình thường. Ví dụ :
Nhận và bàn giao ca, chuẩn bị các tài liệu, phương tiện cần thiết vào đầu ca
và thu dọn chúng vào cuối ca.
Thời gian làm công tác chính
(thời gian tác nghiệp) là thời gian cần
thiết trực tiếp để giải quyết nhiệm vụ lao động.
Do đặc điểm của hoạt động quản lý là hoạt động trí óc có nội dung rất
phong phú và đa dạng, đồng thời để giải quyết nhiệm vụ lao động, người lao
động phải thực hiện nhiều loại công việc khác nhau nên thời gian tác nghiệp
của lao động quản lý không được phân chia ra thời gian tác nghiệp chính và
thời gian tác nghiệp phụ, như đối với công nhân sản xuất mà được phân chia
ra thành các loại thời gian thực hiện các tác nghiệp lao động cần thiết để giải
quyết nhiệm vụ lao động.

Tùy thuộc vào nội dung của chức năng quản lý được đảm nhận mà
thời gian công tác chính của lao động quản lý bao gồm một cơ cấu nhất định
3 loại thời gian sau :
Thời gian tổ chức hành chính
: Là hao phí thời gian cần thiết để tổ
chức quá trình lao động và hướng dẫn kiểm tra công việc cũng như thời gian
để giải quyết các công việc thủ tục - hành chính.

IV-NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG
KHOA HỌC TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ SẢN XUẤT

1-Phân công và hiệp tác lao động.

Một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của TCLĐKH trong lĩnh vực quản
lý sản xuất là thực hiện phân công lao động hợp lý.

Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B
19

Phân công lao động trong lĩnh vực quản lý sản xuất cho thấy sự phân
chia toàn bộ công việc quản lý thành nhưng phần việc nhỏ và trao cho các
lao động quản lý có nghề nghiệp và trình độ phù hợp đảm nhận.
Phân công lao động quản lý được thực hiện trên 3 mặt :
+ Theo vai trò, ý nghĩa của công việc đối với quá trình quản lý sản
xuất.
+ Theo đặc trưng của công việc và nội dung của quá trình lao động -
tức là theo ”công nghệ quản lý”.
+ Theo phức độ phức tạp và tính cách trách nhiệm của công việc.
a-Theo vai trò,ý nghĩa của công việc đối với quá trình quản lý
sản xuất : Thì toàn bộ các công việc quản lý được phân chia thành các
chức năng quản lý (ví dụ : Các
chức năng quản lý trực tuyến, chức năng
chuẩn bị sản xuất về công nghệ, chức năng kế hoạch hoá kinh tế kỹ thuật,
chức năng hoạch toán ) hình thức phân công này biểu hiện dạng tổng quát
nhất về sự phân chia các công việc quản lý trong xí nghiệp, quyết định đặc

thù cấu trúc tổ chức của xí nghiệp cũng như cơ cấu lao động quản lý về nghề
nghiệp và trình độ chuyên môn.

bộ
phận quản lý. ở việc tổ chức hợp lý các
dòng thông tin trong bộ máy quản lý. Điều kiện để đảm bảo hiệp tác lao
động tốt là phải có sự phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm giữa các cá nhân và các bộ phận quản lý cũng như quy định rõ
ràng các mối quan hệ phối hợp công tác, báo cáo, cung cấp thông tin giữa họ
với nhau.
2- Tổ chức nơi làm việc.

Cũng như nơi làm việc của công nhân sản xuất, nơi làm việc của lao
động quản lý là đơn vị thấp nhất về tổ chức trong xí nghiệp mà ở đó xảy ra
hoạt động lao độngcủa họ để thực hiện các chức năng quản lý.
Tổ chức nơi làm việc cho lao động quản lý được phân loại thành :
a. Theo tư thế lao động nơi làm việc của lao động quản lý gồm 2
loại :
+ Nơi làm việc ngồi : Phổ biến ở hầu hết các lao động quản lý.
+ Nơi làm việc đứng - ngồi : Xuất hiện ở một số lao động quản lý thực
hiện những công việc đặc biệt(vẽ kỹ thuật, thiết kế).

Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B
21

b. Theo mức độ chuyên môn ho
á: Là nơi làm việc của lao động
quản lý được chia thành :
+ Nơi làm việc chuyên môn hoá : Là nơi làm việc được thiết kế cho
những loại công việc đặc biệt như nơi làm việc của giám đốc, giám đốc, nơi
làm việc của kỹ sư thiết kế, của nhân viên đánh máy, thư ký vv
+ Nơi làm việc vạn năng là những nơi làm việc không có yêu cầu đặc
biệt về trang bị, bố trí và điều kiện lao động như nơi làm việc của hầu hết các

nhiều đặc tính sáng tạo. Đối với lao động quản lý, mặc dù những đòi hỏi về
thể lực không phải là nhỏ nhưng yếu tố đòi hỏi về thần kinh - tâm lý vẫn trội
hơn.Từ đặc điểm chung đó của hoạt động lao động, lao động quản lý có
những yêu cầu riêng về điều kiện lao động, điều kiện của lao động trí óc.
a. Chiếu sáng và màu sắc
: Hoạt động lao động quản lý là hoạt
động lao động chủ yếu có liên quan đến việc thu nhận và sử lý ,chuẩn bị
thông tin.Các công việc thường được thực hiện dưới dạng, đọc, viết, vẽ,
đánh máy, phân loại Do đó cần phải tổ chức chiếu sáng tốt cho cán bộ
quản lý.
b. Tiếng ồn :
Đối với lao động quản lý vấn đề chống tiếng ồn đặc
biệt quan trọng, vì hoạt đông trí óc đòi hỏi phải được yên tĩnh và tập trung tư
tưởng.
c. Bầu không khí tập thể
là yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới khả năng
lao đông trí óc và do đó tới hiệu quả lao động quản lý. Những tập thể đoàn
kết, thân ái thương yêu nhau, tin tưởng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ thường
là những tập thể có hiệu quả công tác cao ; Trái lại, những mâu thuẫn trong
tập thể, những va vấp trong mối quan hệ bạn bè, gia đình đều có tác dụng
làm giảm sút một cách rõ rệt hiệu xuất của lao động quản lý. Tạo ra một bầu
không khí tốt đẹp trong tập thể là kết qủa của việc thực hiện đồng bộ nhiều
biện pháp về tổ chức, giáo dục và cưỡng bức những biện pháp đó.
4- Định mức các công việc quản lý.

Do những đặc điểm của hoạt động lao đông quản lý nên định mức các
công việc phức tạp hơn định mức các công việc sản xuất. Nhiệm vụ của định
mức lao động quản lý là

Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B

quản lý là số người hay số bộ phận do một người hoặc một nhóm người lãnh
đạo phụ trách với trình độ lành nghề phù hợp trong điều kiện tổ chức kỹ
thuật nhất định.Qu¶n TrÞ Nh©n Lùc 40B
24

V-Ý NGHĨA CỦA VIỆC HOÀN THIỆN TCLĐKH CHO CÁN
BỘ QUẢN LÝ Ở CÔNG TY CƠ KHÍ 79
Việc hoàn thiện công tác tổ chức lao động khoa học ở công ty cơ khí
79 có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc phát triển và khả năng cạnh tranh
trên thị trường.
Hoàn thiện công tác tổ chức lao động khoa học góp phần làm tăng
hiệu quả kinh tế, trong sản xuất và kinh doanh sản phẩm, đảm bảo các sản
phẩm có chất lượng cao phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng làm tăng
khả năng canh tranh của các sản phẩm nhà máy sản xuất ra.
Việc hoàn thiện công tác tổ chức lao động khoa học cho phép nhà máy
sử dụng được hợp lý lực lượng cán bộ quản lý của công ty một cách có hiệu
quả nhất trong điều kiện hiện có của công ty tránh những lãng phí không cần
thiết.
Hoàn thiện công tác tổ chức lao đông khoa học tạo ra sự phân công và
hiệp tác lao động tốt hơn. Làm cho việc phối hợp giữa các phòng ban nhịp
nhàng và linh hoạt hơn tạo điều kiện cho việc ra quyết định được thực hiện
một cách nhanh chóng.
Hoàn thiện công tác tổ chức lao động khoa học còn tạo ra bầu không
khí tâm lý tốt trong nhà máy. Các cán bộ quản lý là
m
việc tro
ng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status