VẦU ĐẮNG
Indosasa angustata McClure, 1942
Tên khác: Vầu lá nhỏ
Họ: Hoà thảo – Poaceae
Phân họ: Tre – Bambusoideae Hình thái
Tre mọc tản, thân ngầm lan rộng trong
đất, đường kính 1-3cm. Thân khí sinh cao
17-20m, đường kính 10-12cm; cây to nhất
có thể đến 20cm; thân non màu lục nhạt,
phủ lông mềm, thưa, màu trắng, sau rụng
đi; thân già màu lục xám. Chiều dài lóng
giữa thân 30-50cm, dài nhất 80cm, tủy thân
xèp, giống bọt biển và có dạng màng ngăn;
vòng thân hơi nổi lên, nhất là những lóng từ
giữa thân trở lên; vòng mo không lông.
Cây phân cành muộn, phần không có
cành thường tròn đều, vòng đốt không nổi
rõ. Phần thân tre có cành, thường có vết
lõm dọc lóng, đốt phình to, gờ nổi cao.
Cành thường 3, đôi khi 2 hay 1. Bẹ mo sớm
rụng, hình thang dài và hẹp, lúc non màu
lục hồng, sau khi khô màu nâu nhạt, lưng
có nhiều sọc dọc, giữa các sọc có lông
cứng màu nâu, mép có lông mi rõ; tai mo
Quảng Ninh, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa cũng gặp vầu
đắng mọc rải rác.
Thế giới:
Ở các tỉnh Nam Trung Quốc như Vân Nam, Quảng Tây
cũng gặp vầu đắng.
Đặc điểm sinh học
Cây ưa khí hậu mát, mưa nhiều, độ ẩm cao, nhiệt độ
trung bình 21-22
0
, lượng mưa hàng năm trên 2.000mm, cá
biệt như vùng Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, nơi rất nhiều vầu
đắng, lượng mưa trên 4.000mm/năm, độ ẩm không khí 85-
95%. Thường gặp vầu đắng ở các vùng đồi núi bị chia cắt
mạnh và hình thành nhiều thung lũng ở độ cao 400-1200m.
trên mặt biển. Ở độ dốc trên 30
0
vẫn có vầu mọc.
Vầu đắng ưa đất hình thành từ các loại đá phiến, phong
hóa tương đối kém; thành phần cơ giới là các loại đất thịt có
đá lẫn; tầng đất thường sâu 50-80cm, có màu vàng, pH (LCl) = 3,2-4,6; C/N = 8,3-9,9; mùn
tổng số(%) = 0,7-4,4; đạm tổng số (%) = 0,08-0,32.
Phân bố của vàu đắng
ở Việt NamMột số hóa tính của đất dưới rừng vầu đắng đã được Trần Xuân Thiệp (1994) nghiên cứu
9,9
4,6
4,5
4,2
4,4
4,5
4,2
Rừng vầu
phục hồi sau
khai thác
1-6
10- 20
40-50
3,9
2,3
1,32
0,23
0,15
0,08
9,8
8,8
9,5
4,0
4,2
3,2
4,0
3,7
3,7
Nguồn: Trích dẫn qua Ngô Quang Đê, 2003.
Mùa măng từ tháng 2 đến tháng 5.
Công dụng
Từ lâu thân vầu đắng đã được sử dụng làm nguyên liệu giấy. Trong thân vầu đắng chứa
cellulose (43%), lignin (25%), pentosan (16%). Sợi thường có chiều dài 2,726mm, chiều rộng
22,7µm, vách tế bào 10,34µm. So với một số loài tre khác, vầu đắng có hàm lượng cellulose
hơi thấp, ngược lại tỷ lệ lignin và Pentosan lại cao. Từ năm 1969, nhà máy giấy Hoàng văn Thụ
(Thái Nguyên) và sau này nhà máy giấy Bãi Bằng (thập kỷ 80 của thế kỷ trước) đã dùng vầu
đắng làm nguyên liệu sản xuất giấy.
Vầu đắng còn được dùng làm nguyên liệu sản xuất đũa, tăm xuất khẩu. Nhưng công dụng
chủ yếu của loài tre này là vật liệu xây dựng.
Măng vầu đắng được sử dụng làm thực phẩm. Thu hoạch khi mới nhú khỏi mặt đất,măng
có vị ngọt, nếu để măng mọc dài, đặc biệt sau khi có tiếng sấm (kinh nghiệm nhân dân), măng
sẽ có vị đắng, nhưng ăn vẫn ngon. Măng đầu mùa ngon hơn măng cuối vụ. Thường dùng ăn
tươi (luộc hay nướng), nhưng cũng có thể muối chua hoặc phơi khô. Măng vầu đắng khá to,
nặng 1,2- 1,5kg/1 măng; sau khi bóc hết bẹ, phần ăn được nặng 0,5-1kg/ 1 măng.
Theo Nguyễn Danh Minh (2005), thành phần của măng vầu đắng như sau: hàm lượng
nước: 91,10%, protein 2,23%, đường tổng 0,83%, cellulose 1,0% và lipid 0,11%. Măng vầu
đắng tuy có vị đắng nhưng lại hợp khẩu vị nhiều người. Măng nướng chấm muối ớt hoặc luộc
chấm muối vừng là món ăn đặc sản, rất được ưa chuộng.
Kỹ thuật nhân giống, gây trồng
Hiện nay vầu đắng mới được gây trồng ở qui mô nhỏ, trong các vườn nhà hay vườn rừng
của dân địa phương, thường trên diện tích không quá 1ha. Theo tập quán, nhân dân vẫn trồng
+ Xử lý thực bì: Phát dọn theo rạch hoặc quanh hố trồng có đường kính rộng 1m. Theo
đường đồng mức nơi đất dốc.
+ Làm đất:
* Cục bộ theo hố. Hố đào kích thước 50x50x40cm.
* Nơi dốc nhẹ có thể làm đất toàn diện và trồng xen các loại đậu đỗ trong một hai năm
đầu
* Bón lót 2-3kg phân chuồng hoai trộn với 3-7kg phân xanh và 100g phân NPK(2:3:1)
cho mỗi hố.
+ Cách trồng:
* Moi đất đặt hom giống nghiêng 40-50
0
so với mặt đất.
* Lấp đất phủ kín phần gốc giống, dậm chặt
* Phủ cỏ, rác lên mặt hố
+ Chăm sóc:
Năm thứ 1-2 phát quang thực bì xâm lấn và vun xới đất quanh gốc theo đường kính rộng
80cm; 1-2 lần trong 1 năm
Từ năm thứ 3 trở đi, cứ 2-3 năm một lần cuốc xới tơi đất tầng mặt rừng trồng một lần. Chú
ý giữ lại các loài cây thảm tươi chịu bóng, cây gỗ tái sinh có giá trị dưới tán rừng
Khai thác, chế biến và bảo quản
Nếu để xây dựng cần cây trên 3 tuổi, dùng làm nguyên liệu giấy cần thân trên 2 tuổi. Theo
thí nghiệm của Đoàn 5 Viện Điều tra Qui hoạch rừng, kỹ thuật khai thác tốt nhất là chặt 1/3 số
cây hiện có; chu kỳ chặt 4 năm. Cũng có thể áp dụng công thức chặt 1/2 số cây trong rừng vầu
cho lần chặt đầu tiên. Rừng vầu ổn định trong tự nhiên có mật độ 6.000 cây/ha và tỷ lệ cây già
(trên 4 tuổi) là 60-70% tổng số cây của rừng.
Theo Triệu văn Hùng (2002), thân khí sinh của vầu đắng 1-2 tuổi là thân non, 3- 4 tuổi là
Nghiệp - Hà Nội. 4. Academia Sinica (1996).Poales Flora Reipublicae Popularis Sinicae. Tomus (1). Science Press (Trung văn).