Tài liệu Đề tài " Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với vấn đề tạo việc làm cho người lao Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa " - Pdf 10


BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) với vấn đề tạo việc làm cho người
lao Việt Nam trong tiến trình toàn cầu
hóa


Phần I: Ý nghĩa của đầu tư trực tiếp nước ngoài và tạo việc làm
cho người lao động Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hoá
Phần II: Phân tích trực trạng về hiệu qủa đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) với vấn đề tạo việc làm cho người lao động Việt Nam trong
tiến trình toàn cầu hoá.
Phần III: Các giải pháp nhằm đẩy mạnh đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) để tạo việc làm cho người lao động Việt Nam trong tiến trình
toàn cầu hoá
Để hoàn thành đề án này em xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô
trong khoa Kinh tế Lao động và dân số trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân và
đặc biệt với sự giúp đỡ tận tình của GS. TS Phạm Đức Thành đã giúp em
hoàn thành đề án này.
Em xin chân thành cảm ơn.
NỘI DUNG
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VỚI
VẤN ĐỀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRONG
TIẾN TRÌNH TOÀN CẦU HOÁ.

Trong các nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp
FDI có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng khá lớn (khoảng 30% số vốn đã
thực hiện), hiện nay tỷ trọng này đang có xu hướng ngày một tăng lên. Sự gia
tăng này đang có xu hướng ngày một tăng lên. Sự gia tăng này không chỉ bắt
nguồn từ sự hùng mạnh của các công ty đa quốc gia và chiến lược phát triển
mở rộng đầu tư của các công ty này mà còn ở chỗ nó là hình thức đầu tư được
thực tế xác nhận là có hiệu quả cao và phù hợp với nhu cầu tăng trưởng nhanh
của các nước nghèo, trong đó có Việt Nam.
Theo quan niệm của OECD (tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) thì
các nguồn tài trợ của nước ngoài bao gồm:
- Tài trợ phát triển chính thức: ODF (Official Development Finance)
bao gồm viện trợ phát triển chính thức ODA (Offical Development
Assistance) và các hình thức ODF khác, song phương cũng như đa phương.
- Tín dụng xuất khẩu
- Tài trợ tư nhân bao gồm vay từ ngân hàng quốc tế, vay tín phiếu, đầu
tư trực tiếp, các nguồn tài trợ tư nhân khác, viện trợ cho không của các tổ
chức phi chính phủ.
Như vậy, theo quan niệm của tổ chức này đầu tư trực tiếp là một trong
những nguồn tài trợ tư nhân. Nhưng trong thực tế đầu tư thời gian qua chúng
ta thấy rằng, chủ thể của FDI không chỉ có duy nhất tư nhân mà còn có nhà
nước và các tổ chức phi chính phủ khác.
Xét về bản chất đầu tư nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một
hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá và đây là hai hình thức xuất khẩu
bổ xung và hỗ trợ cho nhau trong chiến lược thâm nhập và chiếm lĩnh thị
trường của các công ty, tập đoàn kinh tế nước ngoài. Nhiều trường hợp, hoạt
động buôn bán hàng hoá tại nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, tìm
hiểu luật lệ để đi đến quyết định đầu tư trực tiếp là điều kiện để xuất khẩu

máy móc, nguyên vật liệu và khai thác tài nguyên, tạo việc làm cho các lao
động của nước chủ nhà.

-Phần góp vốn của bên hoặc các bên nước ngoài không hạn chế mức tối
đa nhưng tối thiểu không được dưới 30% vốn pháp định thông thường bên
nước ngoài là 70% và bên Việt Nam là 30% vốn pháp định.
-Cơ quan lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp liên doanh là hội đồng
quản trị mà thành viên của Hội đồng quản trị do mỗi bên chỉ định tương ứng
với tỷ lệ góp vốn của các bên nhưng ít nhất phải là 2 người, Hội đồng quản trị
có quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong hoạt động của doanh
nghiệp theo nguyên tắc nhất trí.
-Các bên tham gia liên doanh phân chia kết quả kinh doanh theo tỷ lệ
góp vốn của mỗi bên trong vốn pháp định hoặc theo thoả thuận giữa các bên.
Thời hạn hoạt động không quá 50 năm trong trường hợp đặc biệt được kéo
dài không quá 20 năm.
*Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:
Theo điều 26 nghị định 12/CP qui định:"Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư
nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đàu tư nước ngoài thành lập
tại Việt nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh
doanh ". Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt nam.
Thời hạn hoạt động không quá 50 năm kể từ ngày được cấp giấy phép.
*Hợp đồng xây dựng - kinh doanh- chuyển giao (BOT):
Theo điều 12 khoản 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam: "Hợp đồng
xây dựng- kinh doanh- chuyển giao là văn bản kí giữa cơ quan có thẩm quyền
của Việt nam và nhà đầu tư nước ngoài đề xây dựng kinh doanh công trình
kết cấu hạ tầng trong thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài
chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt nam"
*Hợp đồng xây dựng -chuyển giao -kinh doanh là văn bản kí kết giữa cơ
quan nhà nước có thẩm quyền của Việt nam và nhà đầu tư nước ngoài xây
dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt nam. Chính phủ Việt nam


Theo nghị quyết Đại Hội Đảng Bộ toàn quốc IX thì: “ Toàn cầu hoá là
sự tự do hoá thương mại, thị trường. Toàn cầu hoá đó là tiến trình toàn cầu
toàn cầu hoá về kinh tế, chính trị, văn hoá- xã hội được đẩy nhanh bởi công
nghệ tin học và viễn thông”.
Như vậy, toàn cầu hoá trước hết nó phải là một mối quan hệ kinh tế,
chính trị, văn hoá- xã hội nhưng những mối quan hệ này phải vượt ra khỏi
biên giới một quốc gia, nghĩa là nó phải có sư thông thương về một trong các
lĩnh vực trên với các nước khác. Nếu nó chỉ đơn thuần ở một quốc gia thì đây
không thể gọi là toàn cầu hoá được. Trước kia, thời kỳ kế hoạch hoá tập trung
bao cấp, nền kinh tế nước ta gần như đóng cửa hoàn toàn hầu như không giao
lưu buôn bán với một nước nào (ngoài một số nước XHCN). Do vậy ngoại
thương nước ta phát triển ở một mức độ cực kỳ thấp và đây chính là nguyên
nhân khiến nền kinh tế nước ta trì trệ, chậm phát triển. Nhưng với quá trình
phát triển của thế giới yêu cầu về giao lưu buôn bán, trao đổi trên thế giới đã
phá bỏ cơ chế cũ và thay vào đó là cơ chế quản lý theo kiểu cơ chế thị trường.
Thực tế từ năm 1986 đến nay nước ta đang ngày một đổi mới và phát triển,
tuy với tốc độ phát triển chưa cao xong cũng đã đáp ứng phần nào yêu cầu
của quá trình hội kinh tế trong khu vực và trên thế giới hiện nay.
1.2. Tính tất yếu của quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá đã và đang là một xu hướng tất yếu trong quá trình phát
triển của thế giới. Với quá trình phân công lao động quốc tế càng ngày đi vào
chiều sâu và sự phát triển nhanh chóng của khoa học- công nghệ đã đẩy
nhanh quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới. Quá trình này được thể hiện
rất rõ trong sự gia tăng rất nhanh của trao đổi quốc tế về thương mại, dịch vụ
tài chính. Cùng với sự hình thành các khu thương mại tự do và các khối liên
kết trên thế giới như các tổ chức WTO, OECD, APEC, WB (ngân hàng thế
giới), IMF (quỹ tiền tệ quốc tế).Thế giới đang sống trong quá trình toàn cầu
hoá mạnh mẽ.
Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra những quan hệ kinh tế gắn bó, tác động lẫn
nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc

- Năm 1995, Việt Nam chính thức đề nghị gia nhập WTO, và hiện nay
đang thực hiện nhiều biện pháp để mau chóng trở thành thành viên của WTO.
- Ngày 15/12/1995,Việt Nam chính thức tham gia tổ chức AFTA (khu
mậu dịch tự do ASEAN) bằng việc ký Nghị định thư tham gia hiệp định về
Chương trình thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (CEPT). Hiệp định CEPT quy

định các nước thành viên ASEAN sẽ thực hiện lịch trình cắt giảm thuế nhập
khẩu hàng hoá có xuất xứ ASEAN theo lộ trình trong vòng 15 năm với mức
thuế xuất cuối cùng là 0-5%. Việt Nam bắt đầu thực hiện CEPT từ ngày
1/11996 và hoàn thành 1/12006.
Nhật thấy được tính tất yếu và vai trò quan trọng của toàn cầu hoá như
vậy nước ta đã chủ động tích cực khi tham gia và hội nhập, khi tham gia vào
quá trình toàn cầu hoá sẽ tạo cơ hội cho các nhà kinh tế, nhà khoa học Việt
Nam tiếp thu tiến bộ khoa học của thế giới, tiếp cận tác phong lao động công
nghiệp từ đó chúng ta có thể nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực khi
tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế, rút ngắn khoảng cách
về trình độ chuyên môn kỹ thuật. Khi các nhà đầu tư nước ngoài vào thì số
lượng lao động chất lượng cao này sẽ đáp ứng phần nào yêu cầu của họ và tất
nhiên sẽ tạo thêm một số công ăn việc làm cho người lao động
Ngoài ra hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì thị trường lao động sẽ
được mở rộng thông qua việc xuất khẩu lao động sang các nước như: Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan làm cho thị trường lao động của nước ta sôi động
hẳn lên. Bởi xuất khẩu lao động vừa tạo ra công ăn việc làm cho người lao
động vừa góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của xã hội. Tính đến năm
2001 đã có 310.000 lao động và chuyên gia Việt Nam sang làm việc làm việc
tại 40 và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm nghề khác nhau. Năm 2002 đã đưa
46.120 người đi làm việc tại nước ngoài, tăng 24,46% so với năm trước và
tăng 21,37% so với kế hoạch, trong đó có 13.200 lao động sang Đài Loan,
20.000 lao động sang Hà Quốc. Xuất khẩu lao động ra thị trường đã trở thành
động lực quan trọng thúc đẩy phát triển hệ thống đào tạo việc làm, nâng c0ao

những hạn chế như: vấn đề quản lý vốn, do chủ đầu tư có nhiều kinh nghiệm
nểntánh được sự quản lý của nước sở tại, tình trạng gian lận thuế, buôn lậu
thuế, ô nhiễm môi trường Tuy nhiên với vai trò to lớn của FDI để phát huy
những tích cực và khắc phục hạn chế các nước đang phát triển cần đưa ra
chính sách phù hợp đồng thời thu hút nhiều FDI vào hơn.
2.2. Tác động của FDI với tạo việc làm.
2.2.1 Lý thuyết về lợi ích của đầu tư nước ngoài
Hợp tác đầu tư nước ngoài chỉ có thể thành công khi có sự gặp gỡ về lợi
ích của cả hai bên. Sử dụng sản phẩm cận biên của vốn đầu tư nước ngoài làm
công cụ chính, ngay từ năm 1960 Mác Dougall đã chỉ ra rằng sự tăng vốn đầu

tư FDI vừa làm tăng sản phẩm đầu ra vừa phân phối lại thu nhập giữa nhà đầu
tư trong nước và người lao động.
y
G

F E D
H I J K

A B C L x

Hình 1: Mô hình Mác Dougall về FDI.
Trong hình 3 vốn cổ phần đầu tư là AC, trong đó AB là vốn cổ phần
của nhà đầu tư trong nước và BC là của nhà đầu tư nước ngoài. Gía trị đầu ra
là GDCA; thu nhập của chủ đầu tư trong nước là FEBA, của chủ đầu tư nước
ngoài là EDCB, của người lao động là GDF. Khi vốn FDI tăng từ BC đến BL
sẽ có những tác dụng sau đây: Thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài bây giờ là
IKLB (phần đầu tư mới nhận JKLC và đầu tư cũ giảm đi EDJI do tỷ xuất lợi
nhuận giảm dần được biểu hiện qua sản phẩm cận biên của vốn Ay). Nhà đầu
tư trong nước giảm thu nhập FEHI và người lao động hưởng phần FDKH.

hoặc khi người dân có sự thay đổi trong tiêu dùng.
Những kết luận như “mũi kim chỉ nam” đã giúp cho các thế hệ sau này
có những đường đi đúng hướng khi nhận thấy vai trò quan trọng của đầu tư (
nhất là đầu tư trực tiếp từ nước ngoài) trong vấn đề tạo và giải quyết việc làm
cho người lao động. Hiện nay FDI đã tạo ra khoảng 73 triệu việc làm trên
toàn thế giới, chiếm 3% tổng lực lượng lao động trên toàn thế giới. Người ta
cũng xác định rằng đối với mỗi việc làm do FDI trực tiếp tạo ra thì lại gián
tiếp tạo ra một đến hai việc làm gián tiếp khác. Trên cơ sở này tổng số việc
làm do FDI tạo ra ít nhất vào khoảng 150 triệu. Tuy nhiên ở các nước đang
phát triển FDI tạo ra 12 triệu việc làm chiếm 2% lực lượng lao động cộng
thêm với 12 triệu lao động gián tiếp nữa làm cho tỷ lệ này tăng lên 4%. Rõ
ràng sự đóng góp của FDI hiện nay trong tạo việc làm về mặt số lượng hầu
như không lớn. Tuy nhiên nhiều nhà kinh tế lạc quan về triển vọng của FDI
trong tạo việc làm.( theo TS. Bùi Anh Tuấn).
Tóm lại, qua những nghiên cứu của các nhà học thuyết kinh tế học từ
trước tới nay ta thấy được tầm quan trọng của FDI đối với vấn đề tạo việc
làm, nhất là đối với các nước đang phát triển. Mặc dù FDI không trực tiếp tạo
ra nhiều việc làm nhưng ta cũng có thể khai thác nó để phục vụ cho quá trình

giải quyết công ăn việc làm cho người lao động nhất là trong quá trình toàn
cầu hoá hiện nay. Qua nghiên cứu cũng có thể thấy được rằng: chỉ cần tăng
lượng vốn đầu tư và mức vốn đầu tư /việc làm thì có thể tăng được cơ số việc
làm. Do đó vấn đề đặt ra là phải thu hút được nhiều vốn FDI thì mới tạo ra
được nhiều việc làm, để làm được điều này thì không phải là vai trò của Nhà
nước, các cơ quan đoàn thể từ Trung Ương tới địa phương mà cả bản thân
những người lao động phải không ngừng nâng cao trình độ tay nghề và
chuyên môn nghiệp vụ thì mới đáp ứng được yêu cầu của các chủ đầu tư nước
ngoài.
PHẦN II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TRỰC

Hàn Quốc
Về cơ cấu các nghành kinh tế: các dự án công nghiệp chiếm một tỷ
trọng lớn cả về số vốn đầu tư và số dự án, trên cả các dự án khách sạn, căn hộ,
văn phòng cho thuê là lĩnh vực thời kỳ đầu chiếm tỷ trọng cao nhất, trong khi
các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông lâm nghiệp chiếm chiếm một tỷ trọng rất
nhỏ. Nhưng từ năm 1996 trở đi, các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp đã tăng
đáng kể và công nghiệp FDI năm 1997 đạt mức tăng trưởng 23,5% cao hơn
nhiều mức tăng trưởng của công nghiệp nói chung là 14%. Trong năm 1998
và 6 tháng đầu năm 1999 công nghiệp FDI vẫn đạt mức tăng trưởng trên 20%
trong khi cả ngành công nghiệp chỉ đạt mức tăng trưởng gần 13%.
Về cơ cấu vùng, lãnh thổ, đứng đầu là Thành phố Hồ Chính Minh, sau
đó là Hà Nội, Đồng Nai (ba tỉnh thành phố này có tỷ trọng vốn đầu tư FDI
chiếm tới 61,31 tổng số vốn đầu tư FDI của cả mức), tỷ trọng đầu tư vào các
tỉnh phía Bắc chiếm khoảng 35%, vào các tỉnh phía Nam chiếm khoảng 50%
và các tỉnh miền Trung chiếm khoảng 15%.
2.Quá trình thực hiện vốn đầu tư FDI và tình hình tạo việc làm do
FDI tạo ra.
2.1. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (1993-
1998)
Trong hơn một thập kỷ qua, đầu tư FDI đã đóng góp quan trọng vào sự
phát triển của các ngành công nghiệp trong nước. Từ năm 1992, lượng vốn

FDI đăng ký đã gia tăng một cách nhanh chóng mà đỉnh điểm là năm 1996
với tổng số vốn đầu tư đăng ký lên tới 8,6 tỷ USD. FDI trong những năm gần
đây đã chiếm hơn1/4 tổng số vốn đầu tư của cả nước, đóng góp 34% vào tổng
sản lượng công nghiệp và 23% kim ngạch xuất khẩu. Tính đến cuối 2002 các
nhà đầu tư từ hơn 50 quốc gia khác nhau đã có mặt tại Việt Nam bao gồm cả
Châu á, châu Âu và châu Mỹ. Đây là một cơ hội thuận lợi cho Việt Nam trong
vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động trong tiến trình toàn cầu hoá.
Số vốn đầu tư thực hiện từ 1998 đến nay đạt gần 15 tỷ USD, đưa tỷ lệ

chuyển đáng kể về mọi mặt.
Cũng qua bảng 3 trên ta cũng thấy được sau năm 1996 tình hình đầu tư
của nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng giảm, điều đó cũng thật dễ hiểu
bởi cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực (năm 1998) ít nhiều cũng ảnh
hưởng tới tâm lý các nhà đầu tư không muốn đầu tư vào các thị trường thiếu
ổn định, đặc biệt là khi có sự khủng hoảng trong kinh tế.
Thật đáng mừng, chỉ sau 2 năm kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài
chính- kinh tế ở Thái Lan thì đến năm 2000 đầu tư FDI vào Việt Nam đã được
phục hồi. Điều đó được thể hiện qua bảng 4 sau:
Bảng 2: Tình hình thu hút vốn FDI năm 200 so với năm 1999.
Đơn vị: triệu đồng
STT
Chỉ tiêu 1999 2000
1 Tổng vốn đăng ký 2190 2398
2
Lĩnh vực đầu tư

+ Công nghiệp xây đựng - 1795

+ Nông- Lâm-Ngư- Nghiệp - 55,4

+ Dịch Vụ - 122
(Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư).

Như vậy năm 2000 tổng vốn FDI đăng ký đạt 2.398 triệu USD, tăng
hơn 200 triệu USD (tương đương 9,49%) so với năm 1999.Trong năm 2000
chủ yếu đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực vật chất, công nghệ xây dựng đạt
1795 triệu USD. Nông lâm ngư nghiệp đạt 55,4 triệu USD, dịch vụ đạt 122
triệu USD.Về doanh thu năm 2000 đạt 650 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu
là 3320 triệu USD (tăng 28%) chưa kể doanh thu và xuất khẩu dầu khí. Số

Đồng Nai từ đó có thể rút ra kinh nhiệm cho việc thu hút FDI trong vấn đề
tạo việc làm cho người lao động là: cần phải tạo dựng một môi trường đầu tư
thích hợp, hấp dẫn và an toàn cho các chủ đầu tư có thế thì họ mới “thích thú”
khi bỏ vốn đầu tư.
2.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng, phát triển kinh tế
Việt Nam
+ FDI- nguồn vốn đầu tư phát triển quan trọng
Chỉ tính riêng năm 1996, số vốn FDI được sử dụng là 2,4 tỷ USD
tương đương với 26.400 tỷ đồng Việt Nam, đóng góp trên 37,5% tổng đầu tư
phát triển toàn xã hội năm đó. Nếu trừ đi phần vốn góp trong nước, tỷ lệ này
vẫn còn là 26%. Đây là nguồn vốn to lớn kết hợp với các nguồn lực trong
nước, đặc biệt là lao động, đã và đang tạo ra việc làm và thu nhập cho người
lao động, tạo ra các tiềm lực mới cho nền kinh tế.
+FDI với việc đa dạng hoá và nâng cấp thiết bị, công nghệ
+ Tác động qua lại giữa FDI- tăng trưởng- việc làm

Như vậy hơn 10 năm qua FDI không những thay đổi về số lượng dự án
mà tổng vốn đầu tư và chất lượng đầu tư cũng thay đổi đáng kể. Nó góp phần
rất lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, thúc đẩy quá trình hội nhập
kinh tế khu vực và thế giới. Đây là dấu hiệu khả quan cho FDI Việt Nam
minh chứng rằng các nhà đầu tư nước ngoài đã nhận ra một miền đất hứa hẹn
nhiều lợi nhuận và an toàn. Tuy nhiên chúng ta phải có một nhìn nhận và
đánh giá đúng đắn về FDI ở Việt Nam trong những năm qua, phân tích lợi thế
và những bất lợi của đất nước để có những biện pháp kịp thời nhằm thu hút
FDI vào Việt Nam ngày càng nhiều hơn nhất là chúng ta đang trong quá trình
hội nhập kinh tế hiện nay.
II. Thực trạng FDI với vấn đề tạo việc làm ở Việt Nam.
1. Số lượng việc làm
1.1. Số lượng việc làm trực tiếp
Việc làm trực tiếp là việc làm được trực tiếp tạo ra trong hệ thống của

Nguồn: Báo cáo tổng hợp về FDI, Vụ Quản lý các Dự án, Bộ kế hoạch
và đầu tư.
Qua bảng trên cho ta thấy tổng lao động làm việc trong các doanh
nghiệp có FDI năm 1993: 49.892 lao động chiếm 0,15% tổng lao động trong
nền kinh tế quốc dân và đến năm 1994 con số này 88.054 lao động chiếm
0,26% tăng 1,76 lần và cứ như thế tốc độ tăng lao động liên hoàn qua các năm

từ 1993 đến 1997 là 5,01 lần chiếm 0,76%, đây là con số đáng mừng cho nền
kinh tế nước ta khi mới đang giai đoạn mở cửa. Tuy nhiên đến năm 1998 tốc
độ tăng giảm đi do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực
nên số lượng vốn FDI chỉ đạt 35.464 triệu USD, số lượng lao động tăng 1,13
lần so với năm trước đó. Như vậy, việc làm trực tiếp trong khu vực có vốn
FDI tăng theo số vốn đầu tư nhưng hạn chế về số lượng lao động được thu
hút. Trong các doanh nghiệp có vốn FDI, các doanh nghiệp liên doanh sử
dụng nhiều lao động nhất sau đó đến các doanh nghiệp có 100% vốn nước
ngoài và hợp đồng hợp tác doanh. Bởi với đội ngũ lao động có trình độ ở
nước ta hiện nay không có nhiều mà đây chính là lực lượng lao động mà các
nhà đầu tư nước ngoài cần nhiều. Vì vậy, song song với việc tạo việc làm cho
người lao động bởi FDI thì chúng ta cần phải liên tục đào tạo, nâng cao đội
ngũ lao động có trình độ quản lý, chuyên môn kỹ thuật cao để từ dó sẽ thu hút
được nhiều lao động trong các doanh nghiệp có vốn FDI.
1.2. Số lượng việc làm gián tiếp.
Cùng với sự xuất hiện và lớn mạnh của khu vực có FDI, một số khu
vực sản xuất và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho khu vực có FDI cũng
phát triển theo và tạo ra một số việc làm đáng kể trong các khu vực này. Các
hình thức sử dụng của các doanh nghiệp có FDI là: tiếp thị, quảng cáo, bán
hàng
Như vậy, số lượng việc làm gián tiếp được xác định là việc làm tạo ra
trong các hoạt động của các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp khác nhau khu
vực có FDI. Để xác định kết quả tạo việc làm gián tiếp thông qua FDI 10

USD. Những lĩnh vực thu hút đầu tư là công nghệ tin học, bưu chính viễn
thông, chế biến dệt may, gia giày và một số ngành khác. Sở dĩ là như vậy la
do khi chúng ta thu hút đước đầu tư nước ngoài vào càng nhiều thì đồng nghĩa
sẽ tạo ra một cơ số công ăn việc làm cho người lao động mà những ngành,
nghề trên đòi hỏi cần phải có nhiều lao động.
2.2. Xu hướng đầu tư quốc tế trên toàn cầu
Theo báo cáo của LHQ và tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển
(OECD), bức tranh đầu tư quốc tế trên toàn cầu đầu năm 2003 vẫn khá ảm
đạm. Theo OECD thì FDI vào 30 nước thành viên của khối này giảm 20% so

với cùng kỳ năm 2002. Đây là năm thứ ba liên tiếp, đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào OECD nói riêng và toàn thế giới nói chung suy giảm.
FDI bao gồm các hoạt động sát nhập xuyên quốc gia và đầu tư xây
dựng các nhà máy mới, bị tác động mạnh bởi tình trạng bất ổn của nền kinh tế
toàn cầu, các thị trường chứng khoán hoạt động yếu kém làm giảm lòng tin
của giới doanh nghiệp. Mặt khác, sự thay đổi thái độ của các nước đối với các
hoạt động sát nhập cùng với các luật chống độc quyền ở các nước đã làm trì
hoãn các cuộc sát nhập và làm nản lòng các nhà đầu tư. Theo OECD, trong cả
năm 2002và đầu 2003 trong OECD chỉ có sáu cuộc sát nhập trị giá 5 tỷ USD,
trong thời kỳ bùng nổ kinh tế, hoạt động sát nhập công ty diễn ra hầu như
hàng ngày. Trên toàn thế giới các hoạt động sáp nhập xuyên quốc gia chín
tháng đầu năm 2002 giảm tới 45%, chỉ đạt giá trị 250 tỷ USD so với mức 460
tỷ USD cùng kỳ năm 2001. Đáng chú ý là suy giảm FDI diễn ra mạnh nhất ở
các nước phát triển (31%) so với các nước đang phát triển (23%) và khu vực
Trung và Đông Âu ( 1%), theo tổ chức thương mại và phát triển của LHQ
(UNCTAD). Các nhà phân tích kinh tế LHQ cho rằng các nhà đầu tư phải
chấp nhận rủi ro lớn hơn nhiều so với thời kỳ nền kinh tế thế giới tăng trưởng
khá. Mặt khác, các hoạt động khủng bố, chiến tranh và hoạt động kinh tế yếu
kém ở các nước giầu làm cho độ rủi ro trong hoạt động đầu tư càng lớn, nhiều
khi vượt quá khả năng chịu đựng của các nhà đầu tư. Các dự án báo về giảm

nhập khối này vào năm tới.
OECD dự báo xu hướng giảm đầu tư nước ngoài vào các nước OECD
có thể tiếp diễn trong năm 2003 và mức giảm có thể từ 25% đến 30% tuỳ
thuộc sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ. Đối với các nước đang phát triển, nơi
FDI là nguồn lớn nhất trong các nguồn tài chính, sự suy giảm FDI đồng nghĩa
với ít nguồn để phát triển. Sự thận trọng vẫn là xu thế áp đảo trong tính toán
của các nhà đầu tư quốc tế vào thời điểm này.

PHẦN III
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
ĐỂ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRONG TIẾN TRÌNH TOÀN CẦU HOÁ

1. Xây dựng một hệ thống chính sách để cải thiện môi trường đầu
tư.
- Áp dụng mặt bằng giá thống nhất cho một số loại hàng hoá, dịch vụ
đối với doanh nghiệp đầu tư trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
- Xây dựng quy chế quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài ban hành các chuẩn mực kế toán, kiểm toán phù hợp với thông
lệ quốc tế để một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp,
mặt khác đảm bảo sự quản lý của nhà nước về hoạt động tài chính của doanh
nghiệp.
- Các dự án đầu tư về ngành nông- lâm nghiệp và các vùng kinh tế khó
khăn nên có chính sách ưu đãi cao các vùng khác.
- Khuyến khích doanh nghiệp hướng mạnh vào thị trường xuất khẩu từ
sử dụng nguyên liệu trong nước, chế biến thành sản phẩm hoàn chỉnh để xuất
khẩu, hạn chế cấp giấy phép cho các dự án xuất khẩu nguyên liệu hoặc sản
phẩm chỉ qua sơ chế.
- Cần linh hoạt hơn trong việc quyết định các hình thức đầu tư xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status