Bán đảo Ả rập thời thượng cổ ( chương 2 )
Miền bắc bán đảo Ả Rập, dọc theo bờ Địa Trung Hải, từ sông Nil
tới Syrie rồi vòng qua lưu vực hai con sông Tigre và Euphrate là
nơi phát tích của hai nền văn minh cổ nhất thế giới: nền văn minh
cổ Ai Cập và nền văn minh Mésopotamie; cũng lại là nơi phát tích
của hai Tôn giáo có ảnh hưởng lớn tới nhân loại: Do Thái giáo và
Ki Tô giáo; còn giữa bán đảo là âm phát tích của một nền văn
minh thời Trung cổ, văn minh Ả Rập, và của một Tôn giáo thứ ba:
Hồi giáo.
Văn minh cổ Ai Cập
Phát sớm nhất là nền văn minh cổ Ai Cập.
Chúng ta chưa rõ gốc tích dân tộc Ai Cập, chỉ biết từ hồi tiền sử họ
ở sa mạc phía Tây (tức miền Bắc Phi: Libye, Somalie ), di cư tới
bờ sông Nil, thấy đất cát phì nhiêu, bèn cắm trại cất chòi. Nhưng
rồi có lẽ cách đây 7.000 năm, đã có một số dân tộc châu Á:
Sémitique hay Suméro Indou tới xâm chiếm lần lần thượng lưu
sông Nil. Những dân tộc này văn minh hơn, có chữ viết, biết nấu
đồng, tổ chức gia đình, xã hội, đồng hóa thổ dân còn dã man chỉ
biết dùng đồ đá, và khoảng 4.000 năm TCN, sự đồng hóa đã hoàn
thành, mà dân tộc Ai Cập xuất hiện trên lịch sử thế giới.
Mới đầu dân tộc đó chia làm nhiều tiểu bang rồi một vị anh hùng
thống nhất các tiểu bang, lên ngôi vua (khoảng 3.200 TCN), tức
vua Ménès, lập đô ở Memphis, trên hạ lưu sông Nil. Các vua sau lo
mở mang, bình trị đất đai, xây dựng các kim tự tháp, được coi là
một trong những kỳ quan của thế giới. Kim tự tháp cao nhất cất
trong đời vua Kheops, khoảng 2.800 TCN.
được con số p = 3,16, tạo được một thứ chữ viết dùng 24 chữ cái
để ghi âm. Còn công trình kiến trúc của họ thì quán tuyệt cổ kim,
chúng tôi khỏi phải nhắc tới.
Thịnh cực thì bắt đầu suy. Dân chúng sinh ra lười biếng, không
muốn đi lính, lính trong nước đều là người ngoại quốc đánh thuê.
Vua chúa sống một đời cực kỳ ủy mị, xa xỉ.
Mới đầu bị Ba Tư xâm chiếm; người Ba Tư lập nhiều đồn trên
khắp lưu vực sông Nil, từ Địa Trung Hải tới Assouan. Ai Cập chịu
nhiều nỗi điêu đứng, mấy lần nổi lên, mất hai thế kỷ mới đuổi
được họ đi, nhờ những lính đánh thuê gốc Liby và Hy Lạp.
Vì vậy mà khi Alexandre đại đế (thế kỷ thứ 4 TCN.) chiếm được
Ba Tư, rồi Syrie, Palestine, tới bờ sông Nil thì dân chúng Ai Cập
hoan hô ông như một vị ân nhân giải thoát cho họ, coi ông như một
vị Pharaon chính thống. Hy Lạp đô hộ Ai Cập ba thế kỷ. Họ đi thì
La Mã tới.
Nữ hoàng Cleopatre, xinh đẹp tuyệt trần, muốn dùng làn sóng
khuynh thành để cứu quốc, thắng được vị anh hùng La Mã là
César, nhưng rồi không lay chuyển được Auguste và phải tự tử để
khỏi bị nhục.
Từ đó, trong non 2.000 năm, Ai Cập không lúc nào được tự chủ.
Hết La Mã, tới Byzance. Ki Tô giáo lần lần lan vào lưu vực sông
Nil. Rồi lại bị Ba Tư xâm chiếm một lần nữa (đầu thế kỷ thứ 7
SCN.). Ba Tư này chỉ chiếm được mươi năm, nhưng tàn phá, vơ
vét dữ dội; Byzance mới đuổi họ đi được thì quân đội Ả Rập do
tướng Amrou Ibn El As chỉ huy (dưới trào vua Ả Rập Omar) quét
Nhờ hai con sông đó mà đất đai phì nhiêu, cho nên Thánh kinh đã
đặt vườn Thiên Đàng (Eden). Ở đó, cũng theo Thánh kinh, thủy tổ
của loài người, ông Adam, do Thượng Đế nặn bằng đất sét. Cũng
theo Thánh kinh, hồng thủy dâng lên chắc cũng ở đây, trước hết là
vì Mésopotamie rất thường bị nạn lụt. Vì thường bị nạn lụt nên kỹ
thuật đào kinh, thông ngòi, dẫn nước, tháo nước ở đây phát triển
rất sớm. Và vì đất là đất sét, cho nên nhà cửa, lâu đài toàn bằng
gạch chứ không phải bằng đá như Ai Cập, còn chữ thì không viết
trên giấy như Ai Cập mà trên những phiến đất sét bằng một cây
que, viết xong rồi phơi nắng cho khô mà cứng lại.
Mésopotamie chia làm hai khu vực: khu đông nam gọi là Chaldée,
khu tây bắc gọi là Assyrie.
Ai Cập gần như cô lập: bốn mặt là biển và sa mạc, chỉ có mỗi một
đường ở phía đông bắc thông qua châu Á, nên hồi đầu ít bị các dân
tộc khác xâm chiếm và văn minh của họ khá lâu bền, truyền được
hàng ngàn năm.
Mésopotamie trái lại là nơi giao nhau của nhiều con đường từ đông
qua tây, từ nam lên bắc, dân miền núi phương bắc thấy nó phì
nhiêu mà ham, dân sa mạc phương nam thấy nó xanh tốt cũng
thích, Ba Tư ở đông dòm qua, Ai Cập ở tây cũng dòm tới; trước
sau có đến mười dân tộc tranh giành nhau cái vườn Eden đó, nên
các sử gia đã gọi nó là lò đúc nhiều giống người, nhiều văn minh
và văn minh nào, giống người nào cũng chỉ thịnh trong một thời
gian ngắn.
Mới đầu (vào khoảng 2.500 TCN.), là giống Sémite thịnh lên ở
Thời đó, Babylone là kinh đô của cả miền Tây Á, có một bức
thành bao bọc, dài 45 cây số, gồm một trăm cửa bằng đồng đen;
phía trong, cung điện nguy nga, có những vườn treo trồng đủ các
giống cây lạ.
Luôn luôn như vậy, thịnh cực rồi thì suy, vua cuối cùng của
Babylone là Belschatsar bị Cyrus, vua Ba Tư, bắt làm tù binh và
Mésopotamie sáp nhập vào đế quốc Ba Tư.
Văn minh Mésopotamie cũng rực rỡ như văn minh Ai Cập. Môn
thiên văn rất tiến bộ. Mới đầu người ta ngắm sao để đoán vận
mạng (khoa chiêm tinh), sau nghiên cứu tinh tú, làm ra lịch, tính
trước được nguyệt thực và nhật thực.
Họ đặt ra đơn vị để đo thời gian, không gian và sức nặng. Biết nấu
sắt, đắp đập ngăn nước sông, xây cầu dẫn nước qua thung lũng.
Thư viện của họ có rất nhiều sách về văn học (ngữ pháp, tự điển),
về khoa học (toán học, y học).
Nhưng chữ viết của họ dùng tới 600 dấu vừa ghi âm vừa diễn ý,
không tiện bằng chữ Ai Cập.
Dân tộc Ba Tư, chiếm được Mésopotamie rồi, tiến qua phương tây,
tới Ai Cập, Bắc Phi, Hy Lạp, Tây Ban Nha. Lúc đó Babylone vẫn
còn giữ địa vị quan trọng của nó ở ngã tư các đường từ đông qua
tây.
Ba Tư suy. Vua Hy Lạp Alexandre đại đế lập một đội binh cực tinh
nhuệ, đủ khí giới tốt, rất có kỷ luật và có thể tiến lui một cách chớp
ở tỉnh Our, dắt gia đình di cư qua phương Tây. Sau khi lang thang
nhiều năm, họ tới Ai Cập xin ở nhờ, được tiếp đãi tử tế. Một vài
người Hébreu còn được địa vị cao trong triều đình các Pharaon.
Khi Ai Cập bị dân tộc Hyksos xâm lăng, người Hébreu bắt buộc
phải cộng tác với kẻ thắng. Ai Cập khi đuổi được kẻ thù, oán họ đã
phản bội, bắt họ phải làm nộ lệ. Từ đó họ cực khổ trăm chiều, chỉ
tìm cách trốn.
Một vị thiếu niên anh tuấn, đau lòng cho nòi giống, nhất quyết cứu
đồng bào, dắt họ vào chân núi Sinai sống đời lang thang, cực khổ
nhưng tự do của tổ tiên. Vị trẻ tuổi đó tên Moise. Ông dạy cho
đồng bào tôn thờ Jahvé, sau cùng đưa họ tới một miền đất cát phì
nhiêu, miền Canaan (tức Palestine ngày nay), đất mà họ tin rằng
Jahvé đã hứa cho họ.
Ông lại dạy đồng bào theo mười mệnh lệnh của Jahvé, không
ngoài mục đích khuyên thiện răn ác. Nhờ ông, dân tộc Hébreu bắt
đầu văn minh, được thống nhất, và Do Thái giáo thành lập.
Sau ông, có vài vị anh quân như David (lên ngôi năm 1013 TCN)
và Salomon, con của David. Dưới thời Salomon, quốc gia Israel
thịnh nhất (từ đó dân tộc Hébreu có tên là Israel). Ông cho cất một
ngôi đền thờ Jahvé, tức là đền Jérusalem (đền Bình trị).
Nhưng năm 930 TCN., Salomon băng, nước chia làm hai tiểu
quốc: Israel ở phương Bắc và Judée ở phương Nam. Từ đó họ suy
lần, phương bắc bị ASSYRIE chiếm năm 722 TCN; phương nam
bị Babylone chiếm năm 586 TCN. Thành Jérusalem bị
Nabuchodonosor phá, vua Sédécias bị chọc đui mắt, một số dân bị
hủy hẳn, mà dân tộc Do Thái đã phiêu bạt khắp châu Âu, châu Á,
chỉ đạo Do Thái là vẫn còn.
Đạo đó do Moise thành lập, thờ một vị thần duy nhất, tức Thượng
Đế mà họ gọi là Jahvé. Vị thần đó vạn trí vạn năng, chí công chí
nhân, tạo ra trời đất và là cha sinh ra muôn vật; mà dân tộc Do
Thái là con cưng của Jahvé, được Jahvé hứa cho riêng đất Israel
(tức Palestine).
Theo thánh kinh của họ, ông tổ loài người bị một lỗi, nên loài
người phải chịu khổ, nhưng một ngày kia, một vị cứu thế sẽ sinh
trong dân tộc Do Thái và sẽ hòa giải Jahvé với nhân loại.
Người trong đạo tin có linh hồn và linh hồn bất diệt khi thể xác
tiêu tan. Tín đồ phải theo đúng điều thập giời, như chỉ thờ một
Chúa thôi, tức Jahvé, phải kính trọng cha mẹ, không được giết
người, cướp của, nói dối, phải giữ linh hồn và thể xác trong sạch,
vân vân. Chính đạo Ki Tô gốc ở đạo Do Thái mà ra, và sau này
Hồi giáo cũng chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Do Thái.
Nhờ giữ được tôn giáo mà dân tộc Do Thái mặc dầu phiêu bạt
khắp nơi non hai ngàn năm nay, tiếng nói đã thành một từ ngữ,
huyết thống gần như mất hẳn vì pha đi pha lại trong bao nhiêu thế
hệ, mà vẫn giữ được liên lạc với nhau, tình thân với nhau, vẫn hoài
bão một mộng chung là một ngày kia được về Jérusalem, thánh địa
của họ, để gây dựng lại tổ quốc; và trong khi chưa gây dựng được
tổ quốc thì người nào cũng mong mỏi được về thăm thành địa, quì
xuống cầu nguyện trước Bức Tường Than Khóc (Mur des
Lamentations) di tích duy nhất của đền Jérusalem. Dù gặp nhau ở
chân trời gốc bể nào, khi chia tay, họ cũng chúc nhau: “Sang năm