Khảo sát sự hài lòng của sinh viên với hoạt động đào tạo tại trường đại học khoa học tự nhiên, đại học quốc gia thành phố hồ chí minh - Pdf 10

Khảo sát sự hài lòng của sinh viên với hoạt
động đào tạo tại trường Đại học Khoa học Tự
nhiên, Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh Nguyê
̃
n Thi
̣
Thắm Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Đo lươ
̀
ng va
̀
Đa
́
nh gia
́
trong gia
́
o du
̣
c
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Đư
́
c Ngo

nơi, tăng mạnh cả về số lượng lẫn hình thức. Các cơ sở giáo dục thi nhau ra đời để đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng với nhiều mô hình đào tạo khác nhau: từ chính quy, tại chức,
chuyên tu, hoàn chỉnh đến liên thông, đào tạo từ xa… Từ đó nảy sinh các vấn đề như chất
lượng đào tạo kém, sinh viên ra trường không đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, sự xuống cấp
đạo đức học đường, chương trình và nội dung giảng dạy nặng nề và không phù hợp với thực
tế đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn trên mặt báo, trên các chương trình thời sự cũng như
trên các phương tiện thông tin đại chúng khác. Điều này dẫn đến sự hoang mang đối với công
chúng, đặc biệt là khi họ lựa chọn trường cho con em mình theo học.
Nhằm giải quyết các mối lo ngại đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thể hiện nỗ lực của
mình trong việc quản lý chất lượng giáo dục thông qua việc đưa Kiểm định chất lượng giáo
dục vào Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005. Mục đích của việc kiểm định này là giúp cho các
nhà quản lý, các trường đại học xem xét toàn bộ hoạt động của nhà trường một cách có hệ
thống để từ đó điều chỉnh các hoạt động của nhà trường theo một chuẩn nhất định; giúp cho
các trường đại học định hướng và xác định chuẩn chất lượng nhất định và nó tạo ra một cơ
chế đảm bảo chất lượng vừa linh hoạt, vừa chặt chẽ đó là tự đánh giá và đánh giá ngoài [8]
Trong những năm gần đây, đảm bảo chất lượng mà hoạt động chính là đánh giá chất
lượng đã trở thành một phong trào rộng khắp trên toàn thế giới, trong đó có Khu vực Đông
Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Tùy theo từng mô hình giáo dục đại học mà từng
nước có thể áp dụng phương thức đánh giá và quản lý chất lượng khác nhau, tuy nhiên có hai
cách tiếp cận đánh giá chất lượng thường được sử dụng trên thế giới đó là đánh giá đồng
nghiệp và đánh giá sản phẩm [17]. Trong đó, đánh giá đồng nghiệp chú trọng đánh giá đầu
vào và quá trình đào tạo còn đánh giá sản phẩm thì thông qua bộ chỉ số thực hiện và chú
trọng vào sự hài lòng của các bên liên quan. Bộ chỉ số này cho phép giám sát chất lượng giáo
dục đại học hàng năm, không quá tốn nhiều thời gian và phức tạp như đánh giá đồng nghiệp,
có thể thực hiện đồng loạt trên quy mô cả nước. Phương thức đánh giá sản phẩm được sử
dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ, các nước Bắc Mỹ và Châu Âu vì các dữ liệu thu được bằng bộ chỉ
số thực hiện sẽ giúp khẳng định tính hợp lý của các chuẩn mực trong bộ tiêu chuẩn kiểm định
chất lượng.
Riêng ở Đông Nam Á, việc thành lập Tổ chức đảm bảo chất lượng mạng đại học Đông
Nam Á (AUN-QA) vào năm 1998 cho thấy sự nỗ lực trong việc quản lý chất lượng của các

 Giả thuyết nghiên cứu:
 Giả thuyết H
01
: giới tính không có ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với hoạt động đào
tạo tại trường ĐH KHTN
 Giả thuyết H
02
: không có sự khác nhau giữa các ngành học về sự hài lòng của sinh
viên đối với hoạt động đào tạo tại trường ĐH KHTN
 Giả thuyết H
03
: Không có sự khác nhau về sự hài lòng đối với hoạt động đào tạo tại
trường ĐH KHTN theo năm học của sinh viên
 Giả thuyết H
04
: Kết quả học tập của sinh viên không ảnh hưởng đến sự hài lòng đối
với hoạt động đào tạo tại trường ĐH KHTN
 Giả thuyết H
05
: Hộ khẩu thường trú của sinh viên trước khi nhập trường không liên
quan đến sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo tại trường ĐH KHTN
 Giả thuyết H
06
: Không có mối liên hệ giữa sự hài lòng của sinh viên với việc lựa
chọn lại ngành mà sinh viên đang học
 Giả thuyết H
07
: Không có sự liên quan giữa sự hài lòng của sinh viên đối với mức
độ tự tin về khả năng tìm việc làm sau khi ra trường của sinh viên
 Giả thuyết H

gồm 3 ngành có đầu vào là khối A (Toán – Tin, Công nghệ Thông tin, Vật lý) và 2 ngành có
đầu vào là khối B (Khoa học Môi trường, Công nghệ Sinh học). Mẫu được chọn theo phương
pháp ngẫu nhiên, phân tầng và theo cụm.
Mỗi ngành trên chọn ra 160 sinh viên rải đều từ năm thứ nhất đến năm thứ tư (tương
đương khóa 2006, 2007, 2008 và 2009). Trong đó mỗi khóa chọn 40 sinh viên (gồm 20 sinh
viên nam và 20 sinh viên nữ). Tổng cộng, sẽ có tất cả 800 sinh viên của 5 ngành trên tham dự
điều tra khảo sát.
 Chọn mẫu để phỏng vấn sâu
Mỗi khóa học chọn ngẫu nhiên 3 sinh viên của 3 ngành bất kỳ trong 5 được khảo sát, do
đó sẽ có tất cả 12 sinh viên tham gia phỏng vấn sâu. Các sinh viên này có sự khác nhau về
giới tính, hộ khẩu thường trú trước khi nhập trường và khác nhau về kết quả học tập.
References
Tài liệu tiếng Việt
1. Vũ Thị Phương Anh (2008), Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam với yêu
cầu hội nhập, Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo Chất lượng Đào tạo, ĐHQG TP.HCM.
2. Vũ Thị Phương Anh (2010), “Mô hình và các tiêu chí đánh giá hệ thống ĐBCL bên
trong (IQA) của AUN-QA”, Kỷ yếu Hội thảo Xây dựng và đánh giá hệ thống đảm bảo
chất lượng bên trong trường đại học nhằm hình thành văn hóa chất lượng của nhà
trường, trang 102.
3. Trần Thị Tú Anh (2008), Nghiên cứu đánh giá chất lượng giảng dạy đại học tại Học
viện Báo chí và Tuyên truyền, Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục, Viện Đảm bảo Chất
lượng Giáo dục, ĐHQG Hà Nội.
4. Yến Anh (2006), Đổi mới giáo dục đại học “hậu” WTO: Không né tránh thị trường
giáo dục, Báo Người lao động ngày 17/12/2006.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT về việc Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Hướng dẫn sử dụng tiêu chí đánh giá chất lượng

17. Phạm Xuân Thanh (2005), “Hai cách tiếp cận trong đánh giá”, Giáo dục đại học – Chất
lượng và đánh giá, trang 337-356.
18. Nguyễn Ngọc Thảo (2008), Sự hài lòng về chất lượng đào tạo của sinh viên khoa Quản
trị Bệnh viện, trường Đại học Hùng Vương, Báo cáo nghiên cứu khoa học, trường ĐH
Hùng Vương.
19. Nguyen Xuan Thao (2009), “Một quan điểm của Hoa Kỳ về vấn đề giáo dục đại học
như một dịch vụ trong giáo dục xuyên biên giới” – Phạm Thị Ly dịch, Kỷ yếu Hội thảo
khoa học Quốc tế Giáo dục so sánh lần 3: Hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo
đại học ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức.
20. Nguyễn Thị Trang (2010), Xây dựng mô hình đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên
với chất lượng đào tạo tại trường ĐH Kinh tế, ĐH Đà Nẵng.
21. Phạm Đỗ Nhật Tiến (2007), Phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh mới,
Tạp chí Cộng sản số 773.
22. Vũ Trí Toàn (2007), Nghiên cứu về chất lượng đào tạo của khoa Kinh tế và Quản lý
theo mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL, Báo cáo nghiên cứu khoa học, trường
ĐH Bách Khoa Hà Nội.
23. Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với
SPSS, Nxb Thống Kê.

Tài liệu tiếng nước ngoài
24. Ali Kara, Pennsylvania State University-York Campus & Oscar W. DeShields, Jr.,
California State University, Northridge (2004), Business Student Satisfaction, Intentions
and Retention in Higher Education: An Empirical Investigation.
25. G.V. Diamantis và V.K. Benos, University of Piraeus, Greece (2007), Measuring
student satisfaction with their studies in an International and European Studies
Departerment, Operational Research, An International Journal. Vol.7. No 1, pp 47 – 59.
26. Oliver, R. L. & W. O. Bearden. (1985). Disconfirmation Processes and Consumer
Evaluations in Product Usage, Journal of Business Research. 13:235-246.
27. Siskos, Y., Bouranta, N., Tsotsolas, N. (2005), Measuring service quality for students in
higher education: the case of a business university, Foundations of Computing and


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status