PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN PHÚ NHUẬN
TRƯỜNG THCS NGÔ MÂY
TỔ TỰ NHIÊN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP HỮU HIỆU GIÚP
HỌC SINH THCS GIẢI CÁC BÀI TOÁN ĐỐ
- Họ và tên tác giả : TRẦN NGỌC KỲ VĂN
- Chức danh : Giáo viên
- Môn dạy : Toán
Tháng 03 - 2012
1
PH ẦN N ỘI DUNG
A. Đặt vấn đề .
- Xuất phát từ thực tiễn triển khai thực hiện chương trình và các môn học khác theo
chương trình Bộ trưởng Bộ GD & ĐT ban hành mà hiện nay đang được toàn xã hội quan tâm ở
mức cao nhất về nội dung, chương trình, chất lượng dạy học.
- Chất lượng giáo dục ở trong các nhà trường đã được nâng cao song vẫn còn hạn chế: Còn
không ít thầy cô chưa khuyến khích học sinh học tập một cách chủ động, sáng tạo. Đặc biệt là
vận dụng kiến thức đã học vào đời sống. Học sinh chưa khai thác hết khả năng tiềm ẩn trong nội
dung bài học để từ đó tìm ra chìa khoá giải quyết vấn đề.
- Trong môn học toán ở THCS, các bài toán đố có một vị trí quan trọng. Một phần thời
gian học sinh dành cho việc học giải các bài toán đố. Kết quả học toán của học sinh cũng được
đánh giá trước hết qua khả năng giải toán, biết giải thành thạo các bài toán là tiêu chuẩn chủ yếu
để đánh giá trình độ học toán của mỗi học sinh. Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng
và hiểu sâu sắc thêm tất cả các kiến thức về số học, về đo lường, về các yếu tố đại số, về các yếu
tố hình học, đã được học trong môn toán ở trường THCS đều được học sinh tiếp thu qua con
đường giải toán, qua con đường lý luận chặt chẽ.
- Thông qua nội dung thực tế nhiều hình nhiều vẻ của các đề toán, học sinh sẽ tiếp nhận
được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều kiện để rèn luyện khả năng áp dụng
các kiến thức toán học vào cuộc sống; làm tốt điều Bác Hồ căn dặn: “Học đi đôi với hành”.
toán, những gì không thuộc về bản chất của đề toán, để hướng sự chú ý của mình vào những chỗ
cần thiết. Các bài toán đố gắn liền với các yếu tố đại số, yếu tố hình học đã được học ở môn
Toán. Càng lên lớp trên thì các em học tập mang tính trừu tượng vì lúc này tư duy của các em đã
được phát triển từ trực quan sinh động cụ thể đến tư duy trừu tượng.
2) Cơ sở thực tiễn:
a. Thuận lợi:
Nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo thực hiện nâng cao chất lượng dạy- học, chất lượng
các buổi sinh hoạt chuyên môn xây dựng được nề nếp tự học, bồi dưỡng thường xuyên để thực
hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao tay nghề cho giáo viên.
Giáo viên đều được trang bị đầy đủ SGK, SGV, sách tham khảo và các phương tiện
phục vụ cho việc dạy học. Đội ngũ giáo viên có năng lực sư phạm, yêu nghề nên khi tiếp cận với
chủ trương đổi mới, giáo viên đã vận dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh ngày một hiệu quả.
Học sinh đã quen với cách học mới từ các lớp Tiểu học. Cho nên các em biết cách thực
hành luyện tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên để tự chiếm lĩnh tri thức.
b. Khó khăn:
Đối với giáo viên: Môn Toán là một môn học đòi hỏi phải tư duy để khám phá những
tiềm ẩn trong nội dung từng bài. Giáo viên dạy còn thiếu linh hoạt trong vận dụng các phương
pháp và chưa sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Việc cung cấp vốn
sống, vốn hiểu biết cho các em qua các bài của môn Toán và các môn học khác chưa được chú
trọng.
Đối với học sinh: Mặt khác, do các em còn ham chơi, khả năng tập trung chú ý nhận
thức còn hạn chế, đặc biệt là toán đố, chưa đọc bài các em đã có cảm nhận là khó và dài dòng.
Mặt khác, đọc đề chưa tập trung suy nghĩ, còn mang nặng tính trông chờ. Thậm chí vừa đọc đề
xong cho là bài toán đơn giản làm ngay. Hoặc làm xong không đọc lại bài giải. Có lúc làm hai
lời giải giống nhau mà phép tính lại khác nhau mà các em vẫn không phát hiện ra mình làm sai.
Cứ thấy có hai lời giải là được rồi. Cũng có em hiểu nhầm, hiểu lệch vấn đề đưa ra của bài toán,
không nắm được dữ liệu của bài toán, nên việc giải toán còn khó khăn, học sinh chưa biết tự
phân tích để tìm ra những đường dây liên hệ giữa các số liệu, đặt lời giải chưa chính xác với
phép tính,
trồng. Ta có :
8,0=
y
x
và x – y = 20. Từ đó áp dụng tính chất tỉ lệ thức tính chất dãy tỉ số bằng
nhau ta tìm được số cây mỗi lớp phải trồng.
+ Giai đoạn tường minh bắt đầu từ lớp 8 và hoàn thiện vào lớp 9. Việc hình thành thuật toán sẽ
dẫn đến : Phương trình bậc nhất một ẩn số, phương trình bậc hai một ẩn số, hệ phương trình bậc
nhất hai ẩn số, …
- Giáo viên có nhiều cách thức, phương pháp để hình thành kiến thức cho học sinh. Những
phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong
học toán là:
1. Phương pháp gợi mở, vấn đáp:
- Phương pháp gợi mở vấn đáp là phương pháp dạy học không trực tiếp đưa ra những
kiến thức đã hoàn chỉnh mà hướng dẫn HS tư duy từng bước để HS tự tìm ra kiến thức mới phải
học.
- Khi sử dụng phương pháp này, GV phải lựa chọn những câu hỏi theo đúng nội dung bài
học. Câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với các đối tượng HS trong lớp. Dành thời gian
cho HS suy nghĩ, trả lời. HS khác bổ sung, GV chốt lại kiến thức. Phương pháp này sử dụng
trong cả dạy bài mới và bài luyện tập.
Ví dụ bài toán 1.: GV gợi mở cho HS:
+ Bài toán đã cho biết gì? Gọi a là số học sinh lớp 6C, a có quan hệ gì với các số 2, 3, 4,
8? Số a phải có điều kiện gì?
Từ những câu hỏi gợi mở đó, HS sẽ làm đúng yêu cầu của bài, tìm đúng cách giải.
2. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:
- Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề là đưa ra tình huống gợi vấn đề, điều khiển HS
phát hiện vấn đề, hoạt động tự gíác, tích cực sáng tạo để giải quyết vấn đề, qua đó mà kiến tạo
tri thức, rèn luyện kỹ năng để đạt được mục đích học tập.
4
- Khi sử dụng phương pháp này, GV cần chuẩn bị trước vấn đề để phù hợp với nội dung
7. Phương pháp khám phá.
Hướng dẫn học sinh căn cứ vào nội dung bài toán, dữ liệu bài toán, hướng cho các em tự
khám phá, khai thác bài giải theo cách nào hay hơn.
* Biện pháp thực hiện:
Như chúng ta biết quá trình giải toán là một hoạt động trí tuệ, khó khăn, phức tạp,
hình thành kỹ năng giải toán khó hơn so với kỹ năng tính. Vì các bài toán là sự kết hợp đa
dạng nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán học. Giải toán không chỉ nhớ mẫu rồi áp dụng,
mà đòi hỏi phải nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học và biết làm tính thông thạo.
- Tạo cho học sinh tìm ra cách giải:
+ Đọc kỹ bài toán.
+ Tóm tắt bài toán để biết: bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Yêu cầu? Khi tóm tắt
cần cho học sinh đọc kỹ đề bài, nhằm tìm ra “cái đã biết và cái chưa biết”Đó là điều quan
trọng để tìm ra cách giải quyết hợp lý.
+ Thông qua mối quan hệ giữa các dữ liệu với yêu cầu bài để tìm ra phép giải tương
ứng(học sinh viết câu lời giải và phép tính tương ứng).
- Cách trình bày bài giải:
5
+ Sau mỗi bước cần kiểm tra lại câu lời giải đã hợp lý chưa? Các câu lời giải trong bài
toán nhằm giải thích ý nghĩa cho kết quả của các phép tính giải tương ứng. ở giai đoạn học
sinh bắt đầu viết câu lời giải cho mỗi phép tính, giáo viên cần luyện tập cho các em tính cẩn
thận
- Sử dụng linh hoạt nhiều hình thức trong một tiết dạy:
Trong tiết dạy, GV cần sử dụng linh hoạt các hình thức dạy học như: làm việc cá
nhân, trao đổi nhóm, đàm thoại, độc thoại, để HS không nhàm chán mà còn gây hứng thú
cho các em.
- Phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học:
+ Muốn phát huy được tính tích cực của HS, GV cần chú ý tới mọi đối tượng HS.
GV phân loại HS theo các mức (giỏi, khá, trung bình, yếu) để khích lệ tất cả HS học tập.
+ Mỗi bài toán GV phải có hệ thống câu hỏi, câu hỏi phải có tính chất gợi mở để
các đối tượng HS đều có thể trả lời được, động viên kịp thời với những HS trung bình, yếu.
4) Một khu vườn hinh chữ nhật có chiều dài gấp 3 lần chiều rộng nếu tăng mỗi cạnh thêm 5 m
thì diện tích vườn tăng thêm 385 m
2
. Tính các cạnh của khu vườn?
Qua hai tiết ôn tập chương các em đều làm được làm bài kiểm tra chương I Toán 6 và
kiểm tra 15 phút Toán 8 .
V. Mặt tích cực và hạn chế của sáng kiến kinh nghiệm:
Mặt tích cực: HS yếu kém có thể vận dụng được ngay những bài tập đơn giản, gây
hứng thú học tập cho các em. Và đây cũng là phần nội dung thi học kì 1 nên các em cố gắng làm
tốt để đạt điểm cao. Vì có nhiều giờ thực hành giúp HS luyện tập biết cách làm đúng các bước
giải toán.Tăng cường khả năng thực hành giải toán có lời văn cho HS. Nâng cao khả năng tư
duy, phân tích tổng hợp cho HS, xác định rõ mục đích và mục tiêu của việc thực hành. Nâng cao
khả năng từ ngữ Tiếng Việt cho HS khi áp dụng viết lời giải cho bài toán.
Mặt hạn chế : Các HS khá giỏi có thể không chú ý vì chủ quan nhưng GV cần nhấn
mạnh cũng có một số bài toán đố rất phức tạp và đa dạng HS khá giỏi có thể quên những điều cơ
bản khi làm bài tập và đôi khi lại giải sai phương trình, hoặc có học sinh chưa thông thạo các
phép tính cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên mà lại có thói quen sử dụng máy tính bỏ túi.
VI. Những bài học khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm:
- HS phải được luyện tập một cách thường xuyên
- Kiểm tra các bước giải vào đầu giờ học mỗi tuần để học sinh không quên lý thuyết.
- Học sinh phải có kỹ năng giải phương trình nhanh và chính xác.
- Học sinh phải khéo léo chọn ẩn thích hợp để đưa đến phương trình đơn giản thì giải sẽ
dễ hơn.
- Trong tiết dạy, GV tổ chức các hoạt động đa dạng và phong phú để dẫn dắt, đưa HS
vào những tình huống có vấn đề một cách nhẹ nhàng, để HS tự tìm tòi, khám phá và
lĩnh hội tri thức một cách chủ động.
- Tự học là thói quen và kỹ năng quan trọng đối với HS, nếu HS không có kỹ năng tự
học thì khả năng sáng tạo rất hạn chế, phần lớn lượng kiến thức của các em đều phải tự
học ngay trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt trong học toán, các em cần phải độc lập
suy nghĩ, tìm cách để giải quyết bài toán, tìm lời giải cho đúng với phép tính.