PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Sau 6 năm Việt Nam là thành viên của WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có
những chuyển sắc tích cực và đạt được những thành tựu đáng kể trong bước đầu.
Trong năm 2005, GDP bình quân đầu người Việt Nam chỉ đạt 700 USD/năm thì đến
năm 2012 đã tăng lên 1749 USD/năm và dự kiến sẽ đạt mốc 1900 USD/năm vào năm
2013.
Môi trường và thể chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam (NHVN) có
những chuyển biến với thành công đáng ghi nhận về khung điều tiết, quản trị nội bộ, tổ
chức bộ máy, chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng
hiện đại. Hơn vậy, với sự xuất hiện của hàng loạt "nhà đầu tư" khiến việc phát triển
thương hiệu của các ngân hàng đặc biệt là ngân hàng thương mại được chú trọng hơn
bao giờ hết. Không chỉ vậy, bối cảnh hội nhập đã kéo theo sự xuất hiện của hàng loạt
các ngân hàng Thương mại trong và ngoài nước. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng
Nhà nước, tính đến 31/12/2012, Việt Nam hiện có 1 ngân hàng chính sách xã hội, 1
ngân hàng phát triển, 5 ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước, 4 ngân hàng liên
doanh, 5 ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài, 49 văn phòng đại diện của ngân
hàng nước ngoài, 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 34 NHTM cổ phần. Cuộc cạnh
tranh này trở nên gay gắt hơn bao giờ hết khi các NHTM CP không chỉ chú trọng
trong việc bức phá tăng năng lực tài chính thông qua việc góp vốn của các cổ đông
chiến lược trong, ngoài nước, mà còn định vị một thương hiệu riêng trong tâm trí của
người tiêu dùng và nhà đầu tư. Nên có thể nói, đây vừa là một thách thức lớn, nhưng
cũng là một cơ hội "béo bở" để các ngân hàng tạo dấu ấn riêng nhằm thu hút người
dân về phía mình.
Bên cạnh đó, sự tác động từ cuộc khủng hoảng tiền tệ của khối Eurozone vẫn
chưa chấm dứt và còn ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động của các ngân hàng thương
mại khiến cho hệ thống NHVN càng trở nên khó khăn hơn. Từ cuối năm 2011 và trong
năm 2012 đã chứng kiến một số sự kiện sáp nhập, mua lại trong ngành ngân hàng.
Điển hình là các sự kiện: hợp nhất 3 Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB),
Ngân hàng đệ nhất (Ficombank) và Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa hình thành nên
sau:
Thứ nhất, xác định các yếu tố trong hệ thống nhận diện thương hiệu ảnh hưởng
đến mức độ nhận biết thương hiệu NAVIBANK Huế.
Thứ hai, phân tích và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trên đối với
mức độ nhận biết thương hiệu NAVIBANK Huế được người dân nhận biết như thế
nào.
Thứ ba, thông qua kết quả phân tích, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao
mức độ nhận biết thương hiệu NAVIBANK đối với người dân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Mức độ nhận biết của người dân đối với thương hiệu NAVIBANK chi nhánh
Huế.
3.2. Đối tượng điều tra:
Người dân đang sinh sống trên địa bàn thành phố Huế.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu trong phạm vi tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Nam Việt NAVIBANK - Chi nhánh Huế.
- Phạm vi thời gian
Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 11/09/2013 đến ngày 04/10/2013.
- Phạm vị nội dung
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nhận biết thương hiệu
NAVIBANK chi nhánh Huế.
4. Phương pháp nghiên cứu.
4.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện qua 2 giai đoạn chính:
4.1.1. Nghiên cứu định tính
Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát, tìm kiếm những thông tin cần thiết
tạo tiền đề cho việc thiết kế bảng hỏi định lượng trong điều tra thử nghiệm.
ban đầu nhằm tìm hiểu về mức độ biết, nhớ và cảm nhận của người dân về ngaan hàng
và dịch vụ, thống kê xem dịch vụ nào được người dân sử dụng nhiều nhất.
- Phần ba: Câu hỏi dành cho những người không sử dụng dịch vụ của ngân hàng
Phần này được xây dựng để tìm hiểu lí do và nhu cầu sử dụng dịch vụ của ngân
hàng trong tương lai.
- Phần bốn: Câu hỏi dành cho những người không biết đến ngân hàng
Phần này tìm hiểu xem lí do vì sao không biết đến để từ đó đưa ra giải pháp nhằm tăng
độ nhận biết cho người dân.
- Phần năm: Thông tin của người được phỏng vấn
4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu
4.2.1. Dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ sách báo, internet, thông tin từ ngân hàng
TMCP Nam Việt – Chi nhánh Huế và các cơ quan, các đề tài nghiên cứu có liên quan
trước đây.
4.2.2. Dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp đươc thu thập thông qua việc sử dụng bảng hỏi để thu thập các
thông tin cần thiết về mức độ nhận biết thương hiệu ngân hàng NAVIBANK –
chi nhánh Huế và tiến hành khảo sát
4.2.2.1. Phương pháp chọn mẫu
- Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thực địa.
- Đối tượng điều tra phỏng vấn là người dân hiện đang sinh sống trên địa bàn
thành phố Huế.
- Tiến trình chọn mẫu và xác định kích thước mẫu
Xác định kích thước mẫu
Theo số liệu từ Niên giám thống kê năm 2012, dân số thành phố Huế là 344.581
người, như vậy tổng thể là 344.581 người. Căn cứ vào bảng Kjecie and Morgan
với tổng thể 344.581, mức ý nghĩa 5% thì kích thước mẫu điều tra là n = 384.
Tuy nhiên do điều kiện giới hạn về thời gian và kinh phí nên nhóm xin phép
điều tra kích cỡ mẫu n’ = 192. Chúng tôi quyết định chọn kích cỡ mẫu là 200 và
Số mẫu
điều tra
Nam Nữ Số mẫu
điều tra
Nam
Số mẫu
điều tra
Nữ
Vĩ Dạ 18.915 15,35 31 8429 10486 14 17
An Cựu 23.016 18,68 37 1066
1
12355 17 20
Phú
Nhuận
9.043 7,34 15 4110 4933 7 8
Phước
Vĩnh
21.393 17,36 34 9850 1154
3
16 18
Tây Lộc 20.016 16,24 33 9748 10268 16 17
Trường
An
16.165 13,12 26 7831 8334 13 13
Phú
Bình
8.814 7,15 14 4364 4450 7 7
Phú Hòa 5.871 4,76 10 2831 3040 5 5
N=12323
3
nghiên cứu này những biến có Cronbach’s alpha lớn hơn 0.6 thì được xem là đáng tin
cậy và được giữ lại. Đồng thời, các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3
được coi là biến rác và sẽ bị loại khỏi thang đo.
• Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA
Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA được sử dụng để xác định các
nhân tố ảnh hưởng đến mức độ nhận biết thương hiệu của người dân đối với ngân hàng
TMCP Nam Việt – Chi nhánh Huế.
Trong phân tích nhân tố, trị số KMO dùng để xem xét sự thích hợp của phân
tích nhân tố, phải có giá trị trong khoảng từ 0,5 đến 1 để là phân tích thích hợp, còn
nếu trị số này nhỏ hơn 0,5 thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với các
dữ liệu.
Phân tích nhân tố sử dụng Eigenvalue để xác định số lượng nhân tố, đại diện
cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố và theo tiêu chu„n Kaiser,
Eigenvalue phải lớn hơn 1 thì việc tóm tắt thông tin mới có ý nghĩa.
Hệ số tải nhân tố (loading plots) là những hệ số tương quan đơn giữa các biến
và các nhân tố, nó phải lớn hơn 0,5. Đồng thời, khác biệt giữa các hệ số tải nhân tố của
một biến ở các nhóm nhân tố khác nhau phải lớn hơn hoặc bằng 0,3. Những biến
không đủ tiêu chu„n sẽ bị loại. Nghiên cứu sử dụng phương pháp rút trích Principle
Components với phép xoay Varimax. Cuối cùng tiêu chu„n tổng phương sai trích phải
lớn hơn 50% để đảm bảo phân tích nhân tố có ý nghĩa thống kê.
Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp kiểm định khác là kiểm định tính
phân phối chu„n của dữ liệu, kiểm định hệ số tương quan giữa các nhân tố (Pearson –
Sig. (2-tailed)), kiểm định tham số trung bình mẫu (One – Sample T-test), kiểm định
tham số trung bình mẫu đối với những biến độc lập có hai mẫu (Independent Sample
T-test), kiểm định phương sai một chiều (Oneway ANOVA) đối với những biến độc
lập có nhiều hơn hai mẫu, tất cả các kiểm định trên được tiến hành với mức ý nghĩa
α = 5%.
5. Kết cấu đề tài
Kết cấu của đề tài gồm 3 phần chính, gồm các nội dung sau:
thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng, các
yếu tố khác của marketing mix cũng chỉ là các thành phần của một thương hiệu.
• Theo Philip Kotler: “Thương hiệu (brand) là sản ph„m, dịch vụ được
thêm vào các yếu tố để khác biệt hóa với sản ph„m dịch vụ khác cũng được thiết kế để
thỏa mãn cùng nhu cầu. Sự khác biệt này có thể là về mặt chức năng, các yếu tố hữu
hình của sản phẩm. Chúng cũng có thể là những yếu tố mang tính biểu tượng, cảm
xúc, hoặc vô hình mà thương hiệu thể hiện ra.
Hiện nay, quan điểm sản ph„m là một thành phần của thương hiệu ngày càng
được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận. Lý do là khách hàng có hai nhu
cầu, đó là nhu cầu về chức năng và nhu cầu về tâm lý. Sản ph„m chỉ cung cấp cho
khách hàng lợi ích chức năng và thương hiệu mới cung cấp cho khách hàng cả hai.
“Sản ph„m là những gì được sản xuất trong nhà máy, thương hiệu là những gì
khách hàng mua. Sản ph„m có thể bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh nhưng thương
hiệu là tài sản riêng của công ty. Sản ph„m có thể nhanh chóng bị lạc hậu, nhưng
thương hiệu nếu thành công sẽ không bao giờ bị lạc hậu” Stephen King.
1.1.2. Cấu tạo và thành phần của thương hiệu
• Cấu tạo
Một thương hiệu thông thường được cấu tạo bởi hai phần:
- Phần phát âm được: là những dấu hiệu có thể nói thành lời, tác động vào
thính giác người nghe như tên gọi, từ ngữ, chữ cái, câu kh„u hiệu (slogan), đoạn nhạc
đặc trưng
- Phần không phát âm được: là những dấu hiệu tạo sự nhận biết thông qua thị
giác người xem như hình vẽ, biểu tượng, nét chữ, màu sắc
• Thành phần
Theo quan điểm sản ph„m là một thành phần của thương hiệu đã nói trên,
thương hiệu là một tập các thành phần có mục đích cung cấp cả lợi ích chức năng và
lợi ích tâm lý cho khách hàng mục tiêu. Như vậy, thương hiệu có thể bao gồm các
thành phần sau:
Thành phần chức năng: thành phần này có mục đích cung cấp lợi ích chức năng
trên sản ph„m, thị hiếu và hành vi tiêu dùng của khách hàng mục tiêu và các yếu tố
khác như: pháp luật, văn hóa, tín ngưỡng chúng ta có thể gọi các thành phần khác
nhau đó là các yếu tố của thương hiệu.
• Vai trò
Đối với doanh nghiệp
- Giúp đơn giản hóa vấn đề ra quyết định mua, tiết kiệm thời gian và giảm rủi
ro.
- Thương hiệu đưa ra chỉ dẫn giúp khách hàng biết được sản ph„m có phù hợp
với nhu cầu và mong muốn của họ không.
- Thương hiệu quen thuộc hay nổi tiếng làm giảm lo lắng vể rủi ro khi mua
hàng.
- Thương hiệu giúp người mua đánh giá dễ dàng chất lượng của sản ph„m.
- Thương hiệu giúp khách hàng biểu đạt hình ảnh xã hội của mình: Việc mua
một thương hiệu nhất định còn có thể là một hình thức tự khẳng định hình ảnh của
người sử dụng.
Đối với khách hàng
- Thương hiệu thành công tạo ra tài sản cho doanh nghiệp nhờ thu hút và giữ
được khách hàng trung thành.
- Thương hiệu tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản ph„m trong tâm trí khách
hàng.
- Thương hiệu như một lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng.
- Thương hiệu nhằm phân đoạn thị trường.
• Chức năng
Chức năng nhận biết và phân biệt: Thông qua thương hiệu, người tiêu dùng và
nhà sản xuất có thể dễ dàng phân biệt và nhận biết hàng hóa của doanh nghiệp này với
các doanh nghiệp khác, tạo điều kiện để doanh nghiệp thực hiện phân đoạn thị trường.
Chức năng thông tin và chỉ dẫn: Thông qua thương hiệu người tiêu dùng có
thể nhận biết được phần nào về giá trị sử dụng của hàng hóa, công dụng của hàng hóa.
Chức năng tạo sự cảm nhận và tin cậy: Thương hiệu tạo ra sự cảm nhận của
hàng về hình ảnh ngân hàng đã tồn tại trong thời gian dài, có kinh nghiệm, cũng như
đáng tin cậy hơn để thực hiện các giao dịch tài chính so với các ngân hàng khác. Từ đó
tạo điều kiện cho ngân hàng thâm nhập thị trường và cung cấp các chủng loại sản
ph„m, dịch vụ mới thông qua kế hoạch tiếp thị.
• Giảm thiểu được các rủi ro
Hoạt động kinh doanh ngân hàng có rất nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro tín dụng,
rủi ro hoạt động, rủi ro thanh khoản, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất Vì thế ngân hàng
nào có thương hiệu mạnh thì ngân hàng đó hạn chế được rủi ro do lợi thế quy mô, uy
tín mang lại. Đồng thời, do đã có thương hiệu nên các ngân hàng này thường có hệ
thống quản trị rủi ro mạnh, tập trung nhiều chuyên gia giỏi và công nghệ quản trị cao
giúp cho ngân hàng mình giảm thiểu được rủi ro một cách hiệu quả.
• Tăng tính hấp dẫn đối với nguồn vốn và nguồn nhân lực tài năng
Vốn và nguồn nhân lực bao giờ cũng khan hiếm trong điều kiện cạnh tranh
giữa các ngân hàng, tổ chức tài chính đang diễn ra ngày càng gay gắt. Gia tăng thu hút
các nhà đầu tư vào ngân hàng với tư cách là chủ sở hữu của ngân hàng, giúp ngân
hàng gia tăng khả năng kinh doanh và sự an toàn thông qua việc bán các chứng khoán
vốn. Đồng thời, một ngân hàng có thương hiệu tốt luôn là nơi thu hút được nhiều nhân
tài về tài chính hơn các ngân hàng khác hoặc doanh nghiệp trong lĩnh vực khác trong
nền kinh tế.
1.2.2. Tài sản thương hiệu và nhận biết thương hiệu
1.2.2.1. Tài sản thương hiệu
Theo Philip Kotler: “Tài sản thương hiệu là giá trị gia tăng thêm vào sản
phẩm dịch vụ. Giá trị này thể hiện qua cách khách hàng suy nghĩ, cảm nhận, hành
động có tính chất tích cực đối với thương hiệu và qua khả năng định giá cao, giành thị
phần, và khả năng sinh lời mà thương hiệu có thể mang lại cho doanh nghiệp”.
Theo David Aaker: “Tài sản thương hiệu là một tập hợp các tài sản vô hình
gắn liền với tên và biểu tượng của một thương hiệu, nó góp phần làm tăng thêm
hoặc giảm đi giá trị của một sản ph„m hoặc dịch vụ đối với công ty và khách hàng của
công ty.”.
chọn.
Độ nhận biết thương hiệu được tạo nên do các hoạt động truyền thông của
doanh nghiệp như: quảng cáo, PR, sự kiện, tài trợ, kích hoạt thương hiệu Vì
vậy, việc quảng bá thương hiệu cũng rất tốn kém nên việc hiểu rõ được mức độ ảnh
hưởng của sự nhận biết đến tiến trình lựa chọn sản ph„m sẽ giúp cho các doanh nghiệp
có được các thức xây dựng thương hiệu đạt hiệu quả cao với một chi phí hợp lý hơn.
Cấp độ nhận biết thương hiệu có thể được chia thành 4 cấp độ khác nhau:
- Nhớ đến đầu tiên (Top of mind): đây là cấp độ cao nhất trong nhận biết
thương hiệu. Thương hiệu được nhận biết đầu tiên chính là thương hiệu mà khách
hàng sẽ nghĩ đến đầu tiên khi được hỏi về một loại sản ph„m nào đó. Ví dụ, khi nghĩ
đến tivi thì người Việt Nam thường nghĩ đến Sony đầu tiên, tương tự khi nói đến xe
gắn máy thì mọi người thường nghĩ ngay đến Honda, về mạng điện thoại di động thì
có thể nghĩ đến Mobifone, sữa tươi thì nghĩ đến Vinamilk Và kết quả là Sony và
Honda và các nhãn hiệu có độ nhận biết đầu tiên cao luôn là những thương hiệu được
mọi người cân nhắc khi chọn lựa mua sản ph„m. Với những loại sản ph„m hay dịch vụ
mà người tiêu dùng lên kế hoạch mua sắm trước khi đến nơi bán hàng thì tiêu chí
thương hiệu nhận biết đầu tiên đóng vai trò rất quan trọng. Điều này được lý giải là
đối với những sản ph„m đắt tiền thì người ta thường luôn lên kế hoạch cho việc mua
sắm, vì vậy mà thường người mua đã lựa chọn thương hiệu mà mình sẽ mua từ trước,
và thường thì thương hiệu mà họ nghĩ đến đầu tiên sẽ rất dễ được người mua chọn lựa.
Một số ví dụ về sản ph„m thuộc chủng loại này như Tivi, xe máy, máy tính, điện
thoại…
- Nhớ đến thương hiệu (spontaneous): là cấp độ thứ 2 trong nhận biết
thương hiệu. Hình ảnh của thương hiệu sẽ hiện ra trong tâm trí khách hàng khi chủng
loại hàng hóa của nó được nhắc tới mà không được gợi ý đến các yếu tố nhận diện của
thương hiệu đó. Trong ví dụ trên, khi nói đến xe gắn máy nếu khách hàng nghĩ đến
thương hiệu Honda đầu tiên và tiếp đó là Yamaha thì thương hiệu Yamaha ở đây ở
mức độ nhớ đến thương hiệu trong tâm trí khách hàng.
- Nhận ra (nhớ đến có trợ giúp – Promt): ở cấp độ này, khách hàng có thể
- Đồng phục nhân viên
Ngoài các yếu tố cơ bản trên, hệ thống nhận diện thương hiệu cũng bao gồm
các yếu tố như:
- Dấu hiệu nhận biết trên các tài liệu văn phòng: danh thiếp, giấy viết thư,
bì thư, nhãn tín thư, hóa đơn, bản tin nội bộ, thẻ nhân viên, thẻ cho khách hàng, tài liệu
thuyết trình,
- Dấu hiệu nhận biết thương hiệu trên sản ph„m – dịch vụ của ngân hàng:
tem dán nhãn sản ph„m, in trực tiếp lên sản ph„m, quà tặng thương hiệu như lịch treo
tường, lịch để bàn, áo mưa, nón bảo hiểm, sổ tay, túi giấy, thiệp chúc mừng,
1.2.2.4. Phân tích các yếu tố chính trong hệ thống nhận diện thương hiệu Ngân
hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK)
• Tên thương hiệu
• Logo
• Slogan
• Đồng phục
• Hoạt động truyền thông marketing
1.3. Xác định mô hình nghiên cứu
1.3.1. Mô hình nghiên cứu Lê Thị Mộng Kiều (2009)
Lê Thị Mộng Kiều (2009) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ
nhận biết thương hiệu EXIMBANK An Giang tại thành phố Long Xuyên và đưa ra mô
hình gồm các nhân tố: Nhận diện thương hiệu (Quảng cáo, Tiếp thị trực tiếp, Khuyến
mãi, Quan hệ công chúng và truyền miệng, Bán hàng trực tiếp) và Phân biệt thương
hiệu (Logo, Slogan, Đồng phục).
Mô hình 3 - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nhận biết thương hiệu
EXIMBANK An Giang tại thành phố Long Xuyên của Lê Thị Mộng Kiều (2009)
Tiếp thị trực tiếp
Khuyến mãi
Quan hệ công chúng
và truyền miệng
: Tên thương hiệu tương quan cùng chiều với mức độ nhận biết thương hiệu
của người dân.
H
3
: Logo tương quan cùng chiều với mức độ nhận biết thương hiệu của người
Quảng bá thương hiệu
Tên thương hiệu
Logo
Slogan
Trang phục nhân viên
Nhận biết
thương hiệu
Mô hình 4 - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nhận biết thương
hiệu ABBANK – Chi nhánh Huế của Võ Hữu Nhật Đức (2012)
dân.
H
4
: Slogan tương quan cùng chiều với mức độ nhận biết thương hiệu của người
dân.
H
5
: Trang phục nhân viên tương quan cùng chiều với mức độ nhận biết thương
hiệu của người dân.
1.4. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, xây dựng và phát triển thương hiệu là một trong những yếu tố quan
trọng nhất đối với sự thành công của mỗi doanh nghiệp. Trong lĩnh vực ngân hàng,
xây dựng và phát triển thương hiệu ngày càng được chú trọng hơn bao giờ hết. Chúng
ta sẽ tìm hiểu tại sao thương hiệu ngân hàng lại có tầm quan trọng đến thế.
Giữa hàng trăm ngân hàng đang hoạt động rầm rộ trong phạm vi cả nước, làm
- Bảo vệ và tăng cường uy tín, vị thế cho ngân hàng
Có thể nói rằng, thương hiệu có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của các ngân hàng, đặc biệt trong thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu. Sự đổ vỡ hàng
loạt của các thương hiệu ngân hàng lớn tại Mỹ trong thời gian vừa qua đã rút ra một
bài học lớn cho các ngân hàng muốn trụ vững để có thể song hành cùng nền kinh tế
vượt qua điểm uốn của chu kỳ suy thoái là “các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng
Việt Nam cần xây dựng thương hiệu của ngân hàng mình phải có điểm khác biệt, độ
nhận diện cao, được quốc tế hóa và truyền tải được những giá trị độc đáo vừa đúng lúc
vừa xoáy thẳng vào ước muốn của khách hàng” và đây cũng là định hướng quan trọng
trong việc xây dựng thương hiệu của ngành Ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới.
Chương 2: Đo lường mức độ nhận biết thương hiệu của người dân đối với thương
hiệu Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK) – Chi nhánh Huế.
2.1. Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Nam Việt – Chi nhánh Huế
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng TMCP Nam Việt
(NAVIBANK)
Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt
Tên giao dịch quốc tế: Nam Viet Commercial Joint Stock Bank.
Tên gọi tắt: NAVIBANK
Hội sở: 3-3A-3B và số 5 Sương Nguyệt Ánh, Phường Bến Thành, Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (08) 38 216 216
Fax: (08) 39 142 738
Website: www.navibank.com.vn
Email:
Ngân hàng TMCP Nam Việt Được thành lập từ năm 1995, trải qua hơn 18 năm
hoạt động, Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK) đã khẳng định được vị trí của
mình trên thị trường tài chính – tiền tệ thể hiện qua sự tăng trưởng nhanh chóng và ổn
định cả về quy mô tổng tài sản, vốn điều lệ lẫn hiệu quả kinh doanh. Trong môi trường
cạnh tranh như hiện nay, để đón đầu xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, NAVIBANK xác
Ngân hàng TMCP Nam Việt được thành lập từ năm 1995 theo giấy phép số
00057/NH_CP ngày 18/09/1995 với tên gọi ban đầu là ngân hàng thương mại cổ phần
Sông Kiên thuộc tỉnh Kiên Giang có vốn điều lệ là 3 tỷ đồng.
Với điểm xuất phát là ngân hàng thương mại nông thôn nên hoạt động chính
của ngân hàng tập trung chủ yếu với tín dụng nông nghiệp dành cho các khách hàng là
nông gia trên toàn tỉnh Kiên Giang.
Đến năm 2004, vốn điều lệ chỉ còn 1.5 tỷ đồng , nợ quá hạn ngày càng lớn,ngân
hàng có nguy cơ phá sản và phải ở trong tầm kiểm soát đặc biệt.
Sau đó các doanh nghiệp lớn như tập đoàn dệt may Việt Nam, Công ty cổ phần
liên hiệp vận chuyển Gemadept, Công ty cổ phần khu công nghiệp Tân Tạo, Công ty
cổ phần phát triển đô thị Kinh Bắc…tham gia đầu tư. Đến năm 2005, ngân hàng mới
khôi phục và bắt đầu có lãi. Năm 2006, được sự chấp thuận của ngân hàng Nhà Nước
Việt Nam, ngân hàng đã chuyển đổi mô hình hoạt động từ ngân hàng TMCP nông
thôn thành ngân hàng TMCP đô thị tài chính - tiền tệ thể hiện qua sự tăng trưởng
nhanh chóng và ổn định cả về quy mô tổng tài sản vốn điều lệ lẫn hiệu quả kinh
doanh. Hiện nay vốn điều lệ của NAVIBANK là 3000 tỷ đồng. Trong bối cảnh môi
trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, NAVIBANK xác định mũi nhọn mang tính
chiến lược là tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thông qua năng lực tài
chính, công nghệ thông tin và thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro. Bên cạnh đó, việc
tập trung đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin vào việc
nâng cao tính tiện ích cho các sản ph„m dịch vụ tài chính của ngân hàng cũng được
quan tâm đặc biệt.
Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK) – Chi nhánh Huế chính thức khai
trương hoạt động vào ngày 10/08/2009 tại địa chỉ: 44 Đống Đa, thành phố Huế - Điện
thoại: (054) 3 840 999, Fax: (054) 3 840 998.
Hiện nay, Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK) – Chi nhánh Huế tiếp
tục mở rộng với 2 phòng giao dịch là NAVIBANK Đông Ba và NAVIBANK Tây
Lộc.
- NAVIBANK Đông Ba
BP
QHKH
BP
QHKH
BP
QHKH
Cá nhân
Phòng Kế
toán -
DVKH
Kế toán
nội bộ
Sàn giao
dịch
Kho quỹ
Phòng
HCTH
BP
Công
nghệ
Bộ phận thẻ