Báo cáo tốt nghiệp: “Hoàn thiện mô hình giao dịch một cửa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt chi nhánh 302 Trần Khát Chân” - Pdf 15


Báo cáo tốt nghiệp

“Hoàn thiện mô hình giao dịch một cửa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam
Việt chi nhánh 302 Trần Khát Chân” M ục l ục
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔ HÌNH GIAO DỊCH MỘT CỬA 2
1. Hoạt động chủ yếu của NHTM 2
1.1. Hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại. 2
1.2. Chức năng cơ bản và vai trò của Ngân hàng trong nền kinh tế 3
1.2.1. Chức năng cơ bản 3
1.2.2. Vai trò 6
1.3. Các dịch vụ của ngân hàng 7
1.3.1. Các dịch vụ truyền thống của ngân hàng 7
1.3.2. Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây 9
1.2 Hoạt động của NHTM 12

3.5.1. Hạn mức giao dịch thu - chi tiền mặt và hạn mức tồn quỹ trong ngày đối với giao
dịch viên 29
3.5.2. Quản lý tồn quỹ tiền mặt, các giấy tờ có giá và các tài sản khác giao cho giao
dịch viên để thực hiện giao dịch một cửa 30
3.5.3. Chế độ tạm ứng và thanh toán tạm ứng 30
3.5.4. Về phân cấp, phân quyền trong xử lý và kiểm soát các nghiệp vụ phát sinh trong
giao dịch một cửa 30
3.5.5.Trang bị các phương tiện, thiết bị bảo đảm an toàn khác như máy camera để giám
sát hoạt động tại các điểm giao dịch 30
3.5.6. Các chứng từ và ấn chỉ giao cho khách hàng phải được in từ máy chuyên dùng 30
3.6. Điều kiện để tổ chức tín dụng được thực hiện giao dịch một cửa 31
3.6.1. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật 31
3.6.2. Về quy chế, quy trình nghiệp vụ trong giao dịch một cửa 31
3.6.3. Về đội ngũ cán bộ 31
3.7. Nguyên tắc chung trong giao dịch một cửa 31
3.8. Quy trình giao dịch một cửa 34
3.8.1. Quy trình giao dịch một cửa 34
3.8.2. Quy trình thanh toán 36 3.9. Nhận xét về Mô hình giao dịch một cửa 36
3.9.2. Nhược điểm 39
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH GIAO DỊCH MỘT CỬA
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM VIỆT 40
1. Sơ lược lịch sử hình thành Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 40
2. Sản phẩm của Nam Việt (Navibank) 41
2.1 Sản phẩm tiền gửi 41
2.2 Sản phẩm tín dụng doanh nghiệp 41
2.3 Sản phẩm thanh toán 42
2.4 Sản phẩm khác 42

4. 1. Luân chuyển và kiểm soát chứng từ 50
4.4.1. Luân chuyển và kiểm soát chứng từ của giao dịch viên 50
4.4.2. Luân chuyển v à kiểm soát chứng từ của bộ phận tập hợp chứng từ phòng nghiệp
vụ 54
4.4.3. Luân chuyển và kiểm soát chứng từ của bộ phận tập hợp chứng từ kế toán đơn vị . 55
4.4.4. Luân chuyển và kiểm soát chứng từ của bộ phận hậu kiểm 55
4.4.5. Lưu trữ chứng từ và báo cáo 60
5. Tham khảo mô hình giao dịch một cửa của ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn 61
5.1. Tiếp quỹ giao dịch đầu ngày, phân phối giao dịch và nộp quỹ cuối ngày 62
5.2. Quy trình luân chuyển chứng từ 63
5.2.1 Chứng từ thu chi tiền mặt 63
5.2.2. Chứng từ chi tiền mặt 63
5.3. Quy trình giao dịch một cửa 64
5.3.1. Quy trình nhận, rút tiền gửi 64
5.3.1.1 Quy trình nhận tiền gửi 64
5.3.1.2. Quy trình rút tiền gửi 65
5.3.2. Quy trình thanh toán không dùng tiền mặt 66
5.3.2.1. Nghiệp vụ thanh toán bằng UNC 66
5.3.2.2. Nghiệp vụ séc bảo chi 66 5.3.3. Quy trình nghiệp vụ giao dịch kinh doanh ngoại tệ 68
5.3.3.1 Mua ngoại tệ 68
5.3.3.2. Bán ngoại tệ: Xử lý tương tự như bán ngoại tệ 70
5.3.4. Quy trình nghiệp vụ tín dụng 70
5.4. Công việc cuối ngày 72
5.4.1. Công việc của giao dịch viên 72
5.4.2. Công việc của quĩ chính 72
5.4.3. Bộ phận quản lý tài khoản 73

Trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế, Việt Nam đã không ngừng hoàn
thiện và nâng cao mọi mặt, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để phát
triển một nền kinh tế toàn diện, vững chắc, đưa Việt Nam tiến lên cùng các nước trong
khu vực và trên toàn Thế giới. Và lĩnh vực Ngân hàng được xác định là lĩnh vực hết sức
quan trọng, có ỹ nghĩa quyết định đến sự phát triển của kinh tế Nhằm hỗ trợ Việt Nam
trong quá trình hiện đại hoá ngân hàng, Ngân hàng thế giới (WB) đã tài trợ cho Việt
Nam thực hiện dự án “ Hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán” với tổng giá trị
105 triệu USD.
Trong hệ thống các NHTM để đáp ứng sự cạnh tranh các Ngân hàng không
ngừng áp dụng khoa học và công nghệ hiện đại để đổi mới và nâng cao chất lượng dịch
vụ. Và việc thay đổi mô hình giao dịch đa cửa sang mô hình giao dịch một cửa đã diễn
ra ở một số ngân hàng nhằm giảm thiểu sự phiền hà đối với khách hàng và rút ngắn thời
gian giao dịch, cũng như có điều kiện phục vụ khách hàng tốt hơn.
Tuy nhiên, khi áp dụng mô hình giao dịch mới, các ngân hàng đã và đang gặp
phải những khó khăn cả về khách quan cũng như chủ quan nên chưa có điều kiện áp
dụng cho tất cả các ngân hàng trong toàn hệ thống. Trong thời gian thực tập tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Nam Việt chi nhánh 302 Trần Khát Chân, có điều kiện tìm
hiểu về mô hình giao dịch tại đây, cùng với tham khảo mô hình giao dịch tại một số
ngân hàng khác, “Hoàn thiện mô hình giao dịch một cửa tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Nam Việt chi nhánh 302 Trần Khát Chân” là đề tài mà em lựa chọn. CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔ HÌNH GIAO DỊCH MỘT CỬA

1. Hoạt động chủ yếu của NHTM
1.1. Hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại.
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dung (cá nhân, hộ gia
đình) và với hầu hết các cơ quan Chính quyền địa phương (thành phố, tỉnh…). Hơn nữa,
đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương, từ người bán rau cho đến người kinh doanh

chức và cá nhân thặng dư trong chi tiêu, tức thu nhập hiện tại lớn hơn các khoản chi tiêu
cho hàng hoá dịch vụ và do vậy họ có nhu cầu tiết kiệm.
Sự tồn tại hai loại cá nhân trên hoàn toàn độc lập với Ngân hàng , điều tất yếu là tiền sẽ
chuyển từ nhóm 2 sang nhóm 1 nếu cả hai cùng có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là
động lực tạo ra mối quan hệ giữa hai nhóm. Nếu như dòng tiền di chuyển với điều kiện
phải quay trở lại một lượng lớn hon trong một thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín
dụng. Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn. Lấy quan hệ tín dụng làm ví
dụ. Người có tiết kiệm đòi 1% chi phí giao dịch,2% phòng rủi ro, 3% là thu nhập ròng
từ số tiền tiết kiệm mà anh ta phải từ chối quyền sử dụng. Tổng cộng anh ta đòi 6% trên
số tiền vay. Người vay phải chi 1% phí giao dịch, 6% trả cho người có tiền, tổng cộng
phí tổn là 7%. Nếu việc sử dụng tiền vay có thể tạo ra cho anh ta một tỷ suất lợi nhuận
lớn hơn 7% (giả sử 10%) thì quan hệ tín dụng sẽ được thiết lập. Quan hệ tín dụng trực
tiếp (quan hệ tài chính trực tiếp) đã có từ rất lâu và tồn tại đến ngày nay.
Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về quy mô,
thời gian, không gian…Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều kiện nảy
sinh trung gian tài chính. Do chuyên môn hoá, trung gian tài chính có thể làm giảm chi
phí giao dịch ví dụ từ 2% xuống còn 1% ở ví dụ trên, chi phí rủi ro từ 2% xuống 1%.
Trung gian có thể trả cho người tiết kiệm 3.5% và cam kết không có rủi ro (lớn hơn 3%
thu nhập trước đó) và đòi người sử dụng 6.5% (nhỏ hơn 7% trước đó). Chênh lệch 6.5%
- 3.5% = 3% chính là thu nhập của trung gian. Như vậy trung gian tài chính đã làm tăng
thu nhập của người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn
cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu tư) từ đó mà khuyến khích đầu tư. Trung gian tài chính đã tập hợp các nguồn tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu
thuẫn của tín dụng trực tiếp. Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ hiệu quả khi nó gánh
chịu rủi ro và sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí
giao dịch.
Hầu hết các lý thuyết hiện đại đều chỉ ra sự tồn tại của ngân hàng bằng cách chỉ
ra sự không hoàn hảo trong hệ thống tài chính. Chẳng hạn các khoản tín dụng và chứng

Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy
nếu họ có số dư tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả đẻ có hàng hoá và dịch
vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận.
Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (MO), thứ 2 là số dư tài khoản tiền gửi giao dịch
của các khách hàng tại các ngân hàng, thứ 3 là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết
kiệm và tiền gửi có kỳ hạn…
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng
tăng lên, khách hàng có thể dùng đẻ mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay hay
tạo tín dụng các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (tham gia tạo ra M1)
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi
được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác từ cơ sở cho vay. Khi khách hàng
tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì họ sẽ tạo nên khoản thu (tức là
làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra
các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn
hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo
phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, lượng tiền gửi mà hệ thộng ngân hàng đã tạo ra
chịu tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức,
tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi không phải là tiền gửi thanh
toán….
 Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc
gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho
khách hàng nhiều hình thức thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại
thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi
khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán với nhau qua hệ thống Ngân
hàng Trung ương hoặc trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán của ngân hàng cũng

việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một
cách có hiệu quả và bán chúng từ một mức giá cạnh tranh.
1.3.1. Các dịch vụ truyền thống của ngân hàng
 Thực hiện trao đổi ngoại tệ
Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực
hiện là trao đổi ngoại tệ - một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán loại tiền này, chẳng hạn
USD lấy một loại tiền khác chẳng hạn như Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ. Sự
trao đổi đó là rất quan trọng đối với hoạt động du lịch vì họ sẽ thấy thuận tiện và thoải
mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố mà họ đến. Trong thị
trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực
hiện bởi những giao dịch lớn như vậy có độ rủi ro cao, đồng thời đòi hỏi chuyên môn
cao.
 Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực chất là
cho vay đối với các doanh nhân địa phương, những người bán có các khoản nợ (khoản
phải thu) của các khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bước chuyển tiếp từ
chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn
để mua hàng dự trữ hoặc xây dựng văn phòng thiết bị sản xuất.
 Nhận tiền gửi
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm
mọi cách để huy động nguồn cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các
khoản tiền gửi của khách hàng - một quỹ sinh lời được gửi tại ngân hàng trong khoảng
thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương
đối cao. Trong lịch sử đã có nhiều kỷ lục về lãi suất, chẳng hạn các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16%/ năm để thu hút các khoản tiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với
các chủ tàu ỏ Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba tiết kiệm.
 Bảo quản vật có giá
Ngay từ thời trung cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và

hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn là các ngân hàng còn dóng vai trò là người được uỷ
thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản,
bảo quản tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, và đảm bảo cho người thừa kế hợp pháp việc
nhận được khoản thừa kế, Trong phòng uỷ thác thương mại, ngân hàng quản lý danh
mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh. Ngân
hàng đóng vai trò như những người đại lý cho công ty trong hoạt động phát hành cổ
phiếu, trái phiếu. Điều này đòi hỏi phòng uỷ thác phải trả lãi hoặc cổ tức cho chứng
khoán của công ty, thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ
cho những người nắm giữ chứng khoán.
1.3.2. Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
 Cho vay tiêu dùng
Trong lịch sử hầu hết các ngân hàng đều không tích cực cho vay đối với cá nhân
và hộ gia đình bởi họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ
với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp.
Đầu thế kỷ này, các ngân hàng đã bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để
tài trợ cho những món vay thương mại lớn. Và rồi sự cạnh tranh trong việc giành giật
tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng đến người tiêu dùng như một
khách hàng tiềm năng. Cho tới những năm 1920, 1930 nhiều ngân hàng lớn do Citicorp
và Bank of Amerian dẫn đầu đã thành lập phòng tín dụng tiêu dùng lớn mạnh. Sau
chiến tranh thế giới lần thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại
hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất. Mặc dù vậy trong những năm gần đây tốc
độ tăng trưởng này đã chậm lại do cạnh tranh về tín dụng tiêu dùng ngày càng trở nên
gay gắt trong khi nền kinh tế đã phát triển chậm lại. Tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn tiếp
tục là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng và tạo ra những nguồn thu quan trọng nhất.
Tư vấn tài chính Các ngân hàng từ lâu đã được các khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài
chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư. Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư
vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và các kế hoạch tài chính cá nhân đến tư vấn

rủi ro.
 Bảo hiểm tiền gửi
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng,
điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn
phế. trong khi các quy ở ngân hàng Mỹ cấm ngân hàng thương mại bán các dịch vụ bảo
hiểm, nhiều ngân hàng hy vọng có thể đưa ra các hợp đồng bảo hiểm cá nhân thông
thường và hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sản như ôtô hay nhà cửa trong tương lai. Hiện
nay, ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua các lien doanh hoặc các đại
lý kinh doanh độc quyền theo đó một công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lý
tại hành lang của ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ đó.
Cung cấp các dịch vụ hưu trí
Phòng uỷ thác của ngân hàng rất năng động trong việc quản lý các kế hoạch hưu
trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát lương hưu
cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế. Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi
hưu trí cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch
này cần đến.
 Cung cấp các dịch vụ môi giới chứng khoán
Trên thị trường tài chính hiện nay nhiều ngân hàng đang cố gắng để trở thành
một “bách hoá tài chính” thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách
hàng thoả mãn mọi nhu cầu tại một địa điểm. Đây là một trong những lý do chính khiến
các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng
cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người
kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp các ngân hàng mua lại các công ty
môi giới đang hoạt động hoặc thành lập một lien doanh với các công ty môi giới.
 Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp
Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp,
nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu tư đặc biệt là các tài khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp triển vọng

thương mại. Khi môt ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài
khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy
động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư.
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của
ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và có được nguồn tiền có
chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy
động khác nhau.
 Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán)
Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng
giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh
nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện. Các khoản thu bằng tiền của doanh
nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào tài khoản tiền gửi thanh toán theo yêu cầu.
Nhìn chung, lãi suất của khoản tiền này là rất thấp (hoặc bằng không), thay vào đó chủ
tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp. Ngân hàng mở
tài khoản tiền gửi thanh toán (tài khoản có thế phát hành séc) cho khách hàng. Thủ tục
mở rất đơn giản. Yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán
trong phạm vi số dư. Một số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với tài
khoản cho vay (thấu chi – chi trội trên số dư có của tài khoản tiền gửi thanh toán). Một
số ngân hàng sử dụng nhiều hình thức “biến tướng” của tài khoản thanh toán để nâng lãi
suất tiền này nhằm cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác.
 Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội.
Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và tổ chức xã hội sẽ được chi trả
sau môt thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho hoạt động thanh
toán song lãi suất lại thấp. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng
đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Người gửi không được sử dụng các hình thức
thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này. Nếu cần chi
tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền ra. Tuy không thuận lợi cho hình thức tiêu dùng như tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kỳ hạn lại được hưởng lãi suất cao hơn

đã được ngân hàng thương mại chiết khấu hoặc tái chiết khấu trở thành tài sản của họ.
Khi cần tiền ngân hàng mang những thương phiếu này lên tái chiết khấu tại ngân hàng
Nhà nước. Nghiệp vụ này làm thương phiếu ngân hàng thương mại giảm đi và dự trữ
(tiền mặt hoặc tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước) tăng lên. Ngân hàng Nhà nước điều
hành vay mượn này một cách chặt chẽ, ngân hàng thương mại phải thực hiện các điều
kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định. Thông thường ngân hàng Nhà nước chỉ tái chiết
khấu cho những thương phiếu có chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn và khả năng chi trả
cao) và phù hợp với mục tiêu của ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ. Trong điều
kiện chưa có thương phiếu, ngân hàng Nhà nước cho ngân hàng thương mại vay dưới
hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhấp định.
 Vay các tổ chức tín dụng khác
Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng
khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có
kết quả gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm đi các khoản cho vay sẽ
có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các
ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản.
Như vậy nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả
cấp bách trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ ngân
hàng Nhà nước. Quá trình vay mượn rất đơn giản. Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực
tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý (hoặc ngân hàng Nhà
nước). Khoản vay có thể không cần bảo đảm, hoặc được bảo đảm bằng các chứng
khoán kho bạc. Kết quả là dự trữ ngân hàng cho vay giảm đi và của ngân hàng dđ vay
tăng lên.
 Vay trên thị trường vốn
Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mượn bằng cách
phát hành các giấy tờ có giá (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn. Rất
nhiều ngân hàng thưong mại thiếu nguồn gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng
được nhu cầu vay trung và dài hạn. Do vậy, cá khoản trung và dài hạn nhằm bổ sung
cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay trung và dài hạn. Thông thường đây là

1.2.2.1. Các nghiệp vụ tín dụng
Tín dụng là hình thức sử dụng vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất ở các ngân hàng
thương mại, phản ánh đặc trưng của ngân hàng. Loại hình này được phân chia theo
nhiều tiêu thức khác nhau.
 Tín dụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với các ngân hàng vì thời gian
liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả
của khách hàng. Theo thời gian tín dụng được phân chia thành:
 Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống tài trợ cho tài sản lưu động.
 Tín dụng trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm tài trợ cho tài sản cố định như phương
tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị chóng hao mòn.
 Tín dụng dài hạn: Từ 5 năm trở lên tài trợ cho công trình xây dựng như nhà, sân bay,
cầu đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu dài.
Việc xác đinh thời gian trên cũng có tính chất tương đối vì nhiều khoản cho vay
không xác định trước được chính xác thời hạn. Phân chia tín dụng theo thời gian có ý
nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và
sinh lợi của tài sản.
Tỷ trọng tín dụng tại các ngân hàng thương mại thường cao hơn tín dụng trung
và dài hạn. Các ngân hàng chủ yếu là tài trợ cho tài sản lưu động của khách hàng. Tín
dụng trung và dài hạn thường có tỷ trọng thấp hơn do rủi ro cao, nguồn vốn đắt và khan
hiếm hơn. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này như kỳ hạn và tính ổn định của
nguồn, khả năng quản lý thanh khoản của ngân hàng, khả năng dự báo và dự phòng rủi
ro trong trung và dài hạn…
 Theo hình thức tài trợ tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh, cho thuê…
 Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải
hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay là tài sản lớn nhất trong
khoản mục tín dụng. Cho vay thường được định lượng theo hai chỉ tiêu: Doanh số cho
vay trong kỳ dư nợ cuối kỳ. Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng đã

Các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu không cần tài sản
đảm bảo. Các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn hoặc

Trích đoạn Tiếp quỹ giaodịch đầu ngày, phân phối giaodịch và nộp quỹ cuối ngày Quy trình nhận tiền gửi Quy trình rút tiền gửi Nghiệp vụ thanh toán bằng UNC Nghiệp vụ séc bảo chi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status