1
Dạy học phát triển năng lực cho học sinh
trung học phổ thông với các bài toán tiếp cận
chương trình đánh giá học sinh quốc tế
(PISA)
Nguyễn Quốc Trịnh
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Hữu Châu
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học phát triển
năng lực cho học sinh trung học phổ thông với các bài toán tiếp cận chương trình
đánh giá học sinh quốc tế (PISA). Thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học với các
bài toán tiếp cận chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA). Tổ chức thực
nghiệm sư phạm để khảo sát thực trạng; đánh giá sự phù hợp của đề tài với điều
kiện giáo dục và định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam; So sánh sự
phát triển năng lực toán của học sinh được thực nghiệm và học sinh không thực
nghiệm.
Keywords: Phổ thông trung học; Toán học; Phương pháp giảng dạy
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Qua thực tiễn dạy học môn toán tại trường Trung học phổ thông và quá trình học
tập, nghiên cứu sau đại học, tác giả rất quan tâm đến mối quan hệ giữa các năng lực cần
phát triển cho học sinh trong thời đại mới với nội dung, phương pháp mình đang giảng
khả năng tự học; có trí tưởng tượng không gian. Vận dụng được kiến thức toán học vào
thực tiễn và các môn học khác” [1, tr. 1074]. Tuy nhiên, mục tiêu này đã không được thể
hiện nhiều trong nội dung (Sách giáo khoa) và phương pháp dạy học toán ở trường phổ
thông hiện nay.
1.4 Yêu cầu hiện thực hóa quan điểm “Lấy người học làm trung tâm” trong công cuộc
đổi mới giáo dục hiện nay
Thực tế chúng ta đã thực hiện vô vàn chiến lược và cách thức để hiện thực hóa
“Lấy người học làm trung tâm” và chúng ta luôn cần nhiều chiến lược và cách thức mạnh
hơn, tiến bộ hơn nữa. Trong đó, xu thế đưa học sinh vào thế giới thực, trước các bài toán
3
thực tiễn để các em tự vận dụng kiến thức để giải quyết, qua đó tự bồi dưỡng kiến thức và
năng lực cho bản thân, biến mình thành trung tâm của giáo dục là xu thế của thời đại đang
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
1.5 Toàn cầu hóa và sự ra đời của OECD/PISA
Trước sức ép của xu hướng toàn cầu hóa, các nền giáo dục trên thế giới đang có
những biến đổi mạnh mẽ. Trong “Thế giới phẳng”, nhu cầu giáo dục, đào tạo và sử dụng
nguồn lực chung là rất lớn và tất yếu, muốn vậy mỗi quốc gia cần hoàn thiện và chuẩn hóa
nền giáo dục, hơn nữa cần có sự tương đồng và hướng đến một chuẩn chung cho thế hệ
công dân toàn cầu.
OECD (Organisation for Economic Cooperation and Development) – Tổ chức hợp
tác và phát triển kinh tế là tổ chức tập hợp các chính phủ từ 30 quốc gia phát triển trên thế
giới. Vào năm 1997, OECD đã khởi xướng Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA
(Programme for International Student Assessment)[Xem mục 1.2 chương 1, PISA và các
bài toán PISA]. Đây là dự án nghiên cứu so sánh, đánh giá chất lượng giáo dục lớn nhất
trên thế giới từ trước đến nay. Mục đích chính của PISA là kiểm tra, đánh giá và so sánh
trình độ học sinh ở độ tuổi 15 (độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc) giữa các
nước trong khối OECD và các nước khác trên thế giới. Tôn chỉ của PISA không phải là để
điều tra khối lượng kiến thức học sinh học được trong nhà trường mà điều tra khả năng học
sinh ứng dụng như thế nào những kiến thức học được từ nhà trường vào những tình huống
phù hợp với điều kiện giáo dục và định hướng đổi mới phương pháp dạy học của Việt
Nam, đáp ứng yêu cầu năng lực toán học phổ thông của người lao động trong thời đại
mới.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
8.2 Phương pháp thực nghiệm
9. Đóng góp của Luận văn
9.1 Về mặt lý luận
Luận văn đã đề xuất một cách thức đổi mới phương pháp dạy học toán trong xu
hướng đổi mới của thời đại và nỗ lực đổi mới của toàn ngành hiện nay.
9.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn đã chứng tỏ: Thiết kế và tổ chức dạy học với các bài toán tiếp cận chương
trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) là một phương pháp khả thi, mang lại hiệu quả
trong việc phát triển một số yếu tố của năng lực toán học cho học sinh trung học phổ
thông, phù hợp với điều kiện giáo dục nhà trường và định hướng đổi mới phương pháp dạy
5
học; đồng thời góp phần đáp ứng yêu cầu đào tạo tiếp cận năng lực cần thiết của người lao
động trong thời đại mới.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, các phụ lục và tài liệu tham khảo, Nội dung
chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Thiết kế và tổ chức dạy học với các bài toán tiếp cận chương trình đánh giá
học sinh quốc tế (PISA) theo quan điểm dạy học định hướng phát triển năng lực
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Một số vấn đề lý luận
1.1.1 Bài toán, bài toán thực tiễn và Quá trình toán học hóa
7
Năng lực toán là tổ hợp các kỹ năng của cá nhân đảm bảo thực hiện các hoạt động
toán học. Các kỹ năng của cá nhân vừa là sản phẩm của sinh lý (có sẵn) vừa là sản phẩm của
tâm lý (do rèn luyện mà có). Các hoạt động toán học đó là các thao tác đặc trưng (phân tích,
suy luận, lập luận, chứng minh,…) với các đối tượng, nội dung toán học.
1.2 PISA và các bài toán của PISA
1.2.1 Tổng quan về PISA (Programme for International Student Assessment)
PISA (Programme for International Student Assessment) – là chương trình đánh giá
học sinh quốc tế do tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (Organisation for Economic
Cooperation and Development) khởi xướng và chỉ đạo từ năm 1997, đến năm 2000 cuộc thi
PISA lần đầu tiên được tổ chức với 43 nước tham gia trong đó có 14 nước không thuộc khối
OECD. Đến nay đã có thêm 3 đợt khảo sát tiếp theo với chu kỳ 3 năm/lần vào các năm 2003,
2006, 2009. Đợt khảo sát tiếp theo sẽ tổ chức vào năm 2012, đã có hơn 70 quốc gia (trong đó
có Việt Nam) đăng ký tham gia để đánh giá và theo dõi tiến bộ của mình nhằm phấn đấu đạt
được các mục tiêu giáo dục cơ bản.
1.2.2 Bài toán của PISA
1.2.2.1 Đặc điểm các bài toán của PISA
Các bài toán của PISA đều xuất phát từ bối cảnh, tình huống và những vấn đề thực
tiễn của cuộc sống cá nhân, cộng đồng hay toàn cầu có thể xảy ra hàng ngày. Các bài toán
PISA bao phủ toàn bộ nội dung toán cơ bản phổ thông, được thiết kế dưới dạng các bài tập rất
sinh động, có hình ảnh, bảng biểu, đồ thị minh họa và thách thức người giải bởi lời dẫn và
cách đặt các câu hỏi từ dễ đến khó. Ta tìm hiểu hai đặc điểm nổi trội làm nên tính đặc thù của
các bài toán PISA, đó là thế giới thực tiễn và thế giới toán học trong mỗi bài toán.
1.2.2.2 Một số bài toán của PISA và các phân tích
Trong phần này, chúng tôi đưa ra một số bài toán đã được PISA sử dụng vào năm
2006, để làm ví dụ minh họa và phân tích một số yêu cầu về năng lực để giải quyết các vấn đề
mà bài toán đặt ra.
1.3 Một số vấn đề thực tiễn
1.3.1 Các vấn đề về thể chế giáo dục phổ thông
được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành; Năng lực là sự kết hợp của tri thức, hiểu
biết, khả năng, mong muốn ; Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn,
đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động dạy học về mặt
phương pháp; Năng lực mô tả việc giải quyết những nhiệm vụ trong các tình huống: ví dụ như
đọc một văn bản cụ thể Nắm vững và vận dụng được các phép tính cơ bản 1.4.1.2 Mô hình cấu trúc năng lực trong dạy học phát triển năng lực
Sơ đồ 1.1 Các thành phần cấu trúc năng lực
9
Nguồn: [6, tr. 46]
1.4.1.3 Nội dung dạy học định hướng phát triển năng lực
Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức
và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực.
1.4.1.4 Phương pháp dạy học định hướng phát triển năng lực
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá
HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình
huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực
hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV- HS theo hướng
cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội.
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc
kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả
học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng
khác nhau.
1.4.2 Tiếp cận đánh giá năng lực toán học phổ thông của OECD/PISA
Khác với đánh giá truyền thống, đánh giá theo cách của PISA đòi hỏi không chỉ chú ý
đến nội dung kiến thức học sinh tiếp thu được, mà chú trọng đánh giá những năng lực, kỹ
Bước 3: Một bài toán đại số dạng bấc kỳ được đưa về giải một phương trình duy nhất.
1.4.4.2 Quy trình giải một bài toán của G. Polya [10 (bản dịch), tr. 148]
Bước 1: Xác định bài toán
Bước 2: Xây dựng chương trình
Bước 3: Thực hiện chương trình
Bước 4: Khảo sát lời giải tìm được
1.4.5 Tiếp cận Quy trình toán học hóa trong các bài toán của PISA
Sơ đồ 1.2 Quá trình toán học hóa Lời giải của
Vấn đề thực
Giai đ oạ n thứ
hai
Bước 4
Giai đ oạ n thứ ba
Bước 5
Giai đ oạ n thứ
ba
Bước 5
Lời giải
Toán học
11
(Thế giới toán họ c củ a bà i toán)
Bài toán thực tiễn tương
ứng
(Thế giới thực củ a bà i toán)
Toán học hóa
(3 giai đ oạ n, 5 bước)
Phương pháp, phương tiện,
hình thức tổ chức dạy học
Tổ chức dạy học
Đánh giá bài học
12
2.2 Một số lƣu ý khi thiết kế và tổ chức dạy học với các bài toán tiếp cận PISA theo quan
điểm dạy học định hƣớng phát triển năng lực
Tất cả các bước của quy trình cần tập trung vào đánh giá năng lực toán học phổ thông
(giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn ngữ toán và mô hình toán,…)
Tích hợp nội dung toán học trong một tình huống thực tế nào đó. Những khái niệm
toán học có liên quan với nhau, phù hợp trong một vấn đề cần giải quyết thì được tích
hợp lại với nhau và được thể hiện trong một tình huống thực tiễn cụ thể, vì giải toán là
sự thống nhất của các năng lực khác nhau
Việc xác định nội dung cần dạy và bài toán thực tiễn tương ứng cần đảm bảo hết sức
chặt chẽ, để lời giải tối ưu nhất của bài toán thực tiễn phải là nội dung cần dạy. Trong
trường hợp học sinh có những hướng đi khác cần so sánh các cách để thấy rằng kiến
thức cần học mới là lời giải tối ưu.
2.3 Thiết kế và tổ chức dạy học với các bài toán tiếp cận PISA chủ đề Hàm số - Đồ thị
2.3.1 Bài toán 1_Cước phí
13
phép chia có dư
- Suy luận
2
Câu hỏi 3
- Kết nối, biểu thị
- Suy luận
- Khái quát hóa
2
2
3
2.5.2.2 Xác định bài toán thực tiễn tương ứng
Bài toán 8_ Nhặt kẹo thông minh
Trên bàn có 28 viên kẹo, bạn An và bạn Bình chơi với nhau trò chơi nhặt kẹo với quy
ước như sau: Mỗi người được lấy 1 hoặc 2 viên kẹo, sau khi lấy kẹo thì công bố số kẹo mình
lấy cho bạn biết, khi đến lượt không được từ chối nhặt kẹo. Ai lấy được viên kẹo cuối cùng là
người đó thắng toàn bộ số kẹo trên bàn
Câu hỏi 1. Bạn An suy luận rằng để nhặt được viên kẹo thứ 28 thì cần phải nhặt được viên
kẹo thứ 25. Suy luận của bạn An có đúng không? Hãy giải thích.
Câu hỏi 2. Theo suy luận của bạn An thì muốn chiến thắng phải đi trước hay đi sau và lần
nhặt đầu tiên là bao nhiêu viên kẹo?
Câu hỏi 3. Nếu trên bàn có 30 viên kẹo, hãy mô tả cách chơi để được chiến thẳng.
2.5.2.3 Thực hiện 3 giai đoạn, 5 bước toán học hóa
Giai đoạn 1. Toán học hóa
Bước 1. Bắt đầu từ một vấn đề đặt ra trong thực tế
Chọn được viên kẹo cuối cùng trên bàn để trở thành người thắng cuộc
Bước 2. Tổ chức các vấn đề thực tiễn theo các khái niệm toán học và xác định các yếu tố toán
viên cuối cùng cấp số cộng (hoặc số chia và số
dư của phép chia)
Bài toán thực tế được phát biểu lại dưới dạng thuần túy toán học như sau: Tìm các số hạng
của một cấp số cộng biết tổng của tất cả các số hạng bằng 28 biết số hạng đầu có giá trị 1 hoặc
2, từ số hạng thứ 2 trở đi có giá trị bằng số hạng đứng liền trước nó cộng với 1 hoặc 2.
Giai đoạn 2. Suy luận toán học
Bước 4. Giải quyết bài toán
Tìm công sai d:
Ta có:
1
, 1,2
nn
n U U a
. Suy ra d = min a + max a = 3
28 = 1 (mod 3=d), vậy U
1
= 1.
Cấp số cộng cần tìm là: 1; 4; 7; 10; 13; 16; 19; 22; 25; 28
Nếu S
n
= 30 thì S
n
= 0 (mod d=3)
Vì U
1
khác 0 nên U
1
Pha 2.1 Nhóm thắng cử 1 đại diện thi đấu với giáo viên
“Hành trình đến số bạn thích (>3, <100): Người thứ nhất có quyền nói 1, 2 hay 3.
Người tiếp sau chỉ có thể nói một số bằng số của người vừa nói trước đó cộng thêm 1, 2
hoặc 3. Người nào nói số bạn thích trước là người đó thắng”
Bạn được chọn 1 trong 2 phương án:
1/ Chọn Số bạn thích
2/ Chọn thứ tự nói trước hoặc nói sau
Giáo viên sẽ chọn phương án còn lại
Pha 2.2 Hai nhóm thảo luận rút kinh nghiệm trong 3 phút để thi đấu màn3
Màn 3.
Pha 3.1 Trong nhóm, mỗi 2 người một cặp tự chơi với nhau trong 3 phút
“Hành trình đến 2011: Người thứ nhất có quyền nói 1, 2, 3 hay 4. Người tiếp sau chỉ có
thể nói một số bằng số của người vừa nói trước đó cộng thêm 1, 2, 3 hoặc 4. Người nào
nói số 2011 trước là người đó thắng”
Pha 3.2 Mỗi nhóm cử 1 đại diện thi đấu với nhóm kia
Nhóm thua trong màn 1 được quyền chọn thứ tự nói trước hoặc nói sau
Pha 3.3 Nhóm thắng trình bày chiến thuật chơi để luôn luôn thắng, Nhóm còn lại bổ sung
nếu có.
16
Màn 4.
Pha 4.1 Nhóm A: Ghi lại các “dãy số chiến thắng” của màn 1, 2, 3 và nhận xét mối quan
hệ giữa các số trong mỗi dãy đó.
Pha 4.2 Nhóm B: Biểu diễn một cách tổng quát mối quan hệ giữa các số trong mỗi dãy
nói ở pha 4.1; tính tổng của 3 số đầu tiên, tổng của 4 số cuối cùng; tổng của tất cả các số
trong mỗi dãy
Pha 4.3 Giáo viên hình thành khái niệm và các tính chất của Cấp số cộng
Pha 4.4 Các nhóm thảo luận và tóm tắt bài học Cấp số cộng trong 5 phút
2.5.2.6 Đánh giá bài học
Bài học đảm bảo đầy đủ nội dung cấp số cộng, công thức tổng quát và các tính chất.
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1 Kế hoạch tổ chức các thực nghiệm
STT
Thực
nghiệm
Mục đích
Nội dung
Đối tƣợng
Thời gian
1
KS_HS
(khảo sát
học sinh)
- Khảo sát phong cách
học tập của học sinh
- Đánh giá một số kỹ
năng ban đầu Phiếu 1.
KS_HS
10C6
10C7
10B3
8,9/2011 3
TK_GD
(triển khai
giảng dạy)
- Triển khai đề tài nghiên
cứu, áp dụng vào thực tế.
Bài toán 1
Bài toán 3
Bài toán 7
Bài toán 8
Bài toán 9
10C7
10B4
Giáo viên
toán 9,10/2011 4
ĐG_HS
(đánh giá
học sinh)
Đánh giá tính khả thi và
tính hiệu quả của đề tài
3.2.1 Tổ chức thực nghiệm
3.2.2 Kết quả thực nghiệm
3.2.3 Phân tích kết quả thực nghiệm
3.2.4 Kết luận thực nghiệm 1
Các phân tích trên đây chỉ ra một thực trạng là học sinh chúng ta chỉ quen với những
tính toán máy móc, năng lực suy luận, vận dụng, giải quyết các vấn đề mới lạ còn ở mức
thấp.
Học sinh vẫn nặng phong cách “học để thi” chứ chưa quan tâm đến rèn luyện các kỹ
năng cho bản thân.
NTN và NĐC có sự tương đồng về phong cách học tập và năng lực toán học phổ
thông, có thể chọn làm đối tượng cho thực nghiệm 3, 4.
3.3 Thực nghiệm 2. Khảo sát giáo viên (KS_GV)
3.3.1 Tổ chức thực nghiệm
3.3.2 Kết quả thực nghiệm
3.3.3 Phân tích kết quả thực nghiệm
3.3.4 Kết luận thực nghiệm 2
Qua phân tích kết quả thực nghiệm trên, chúng tôi có thể kết luận: Phong cách dạy học
của giáo viên vẫn còn nặng “dạy để thi” chứ chưa chú ý đến các chiến lược, các bài toán rèn
luyện năng lực toán cho học sinh.
19
Giáo viên đánh giá năng lực của học sinh cao hơn mức mà học sinh thực có, do không
có định hướng phát triển năng lực; phong cách học để “khảo thí” của giáo viên và học sinh là
khá tương đồng.
3.4 Thực nghiệm 3. Giảng dạy
3.4.1 Tổ chức thực nghiệm
3.4.2 Kết luận thực nghiệm 3
Các tiết dạy thực nghiệm được giáo viên và học sinh hưởng ứng nhiệt tình, tạo một
phong cách học tập mới mẻ, thu hút được giáo viên và học sinh. Trong các tiết học thực
nghiệm, học sinh hăng say hoạt động tích cực, bất chấp vẫn còn ý nghĩ học nhưng không có
Sau khi hoàn thành nghiên cứu đề tài: “Dạy học phát triển năng lực cho học sinh
trung học phổ thông với các bài toán tiếp cận chương trình đánh giá học sinh quốc tế
(PISA)” chúng tôi có những kết luận sau:
Thực trạng giáo dục cấp trung học phổ thông ở nước ta còn nhiều bất cập, trong đó
vấn đề then chốt là chưa chú ý phát triển năng lực thiết yếu cho học sinh, chưa đáp ứng được
yêu cầu về đào tạo công dân, người lao động trong thời đại ngày nay. Toàn ngành đang tích
cực đổi mới giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học đóng một vai trò quan trọng,
đang được các nhà quản lý giáo dục quan tâm, các nhà khoa học giáo dục và các thầy cô giáo
nghiên cứu. PISA là một chương trình đánh giá học sinh quốc tế, có sức lan tỏa trên phạm vi
thế giới, Việt Nam đã tham gia PISA với mong muốn cải cách nền giáo dục đang gặp nhiều
vấn đề. Với những đặc tính ưu việt, PISA nhanh chóng được các nhà nghiên cứu giáo dục
khai thác, chúng tôi tiếp cận một nhánh nhỏ của PISA là các bài toán và phương pháp giải
quyết vấn đề trong các bài toán đó, chúng tôi nhận thấy có thể vận dụng cách giải quyết các
bài toán này vào dạy học để phát triển năng lực toán học cho học sinh; hiện thực hóa quan
điểm lấy người học làm trung tâm theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học của Bộ
Giáo dục và Đào tạo. Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài và tổ chức thực nghiệm trong
thực tế. Kết quả của các nghiên cứu và thực nghiệm cho phép chúng tôi khẳng định lại giải
thuyết ban đầu đã đặt ra.
Khuyến nghị
Các nhà Quản lý giáo dục, các nhà khoa học giáo dục và các đồng nghiệp (giáo viên
THPT) tiếp tục nghiên cứu PISA, vận các đặc tính ưu việt của PISA vào cải cách giáo dục,
đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học.
References
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chương trình giáo dục phổ thông – Cấp trung học phổ
thông . Nxb Giáo dục, 2006
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo trình triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên
cứu sinh). Nxb Chính trị - Hành chính, 2009
3. Luật giáo dục. Nxb Chính trị quốc gia, 2005
4. Nguyễn Hữu Châu. Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học. Nxb
19. Trần Thị Bích Liễu. Hiện thực hóa phương châm “Lấy người học làm trung tâm”.
Hội thảo khoa học Đại học Giáo dục, ĐHQGHN, 12, 2010
20. Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Dạy học phát triển các năng lực của học sinh trong thế kỷ 21.
Hội thảo khoa học Đại học Giáo dục, ĐHQGHN, 12, 2010
21. Bùi Văn Nghị. Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn toán ở trường phổ thông.
Nxb Đại học sư phạm, 2009
22. OECD. PISA released items – mathematics 2006
22
23. Đào Tam. Phương pháp dạy học hình học ở trường THPT, Nxb Đại học sư phạm,
2005
24. Đào Tam (Chủ biên). Tiếp cận các phương pháp dạy học không truyền thống trong
dạy học môn toán. Nxb Đại học sư phạm, 2009
25. Đào Tam (Chủ biên). Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học môn toán ở
trường THPT. Nxb Đại học sư phạm, 2010
26. Phạm Viết Vƣợng. Giáo dục học. Nxb Đại học sư phạm, 2008
27.