Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong luật hình sự việt nam - Pdf 10

Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng trong Luật hình sự Việt Nam

Đinh Thị Kiều My

Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật hình sự; Mã số: 60 38 40
Người hướng dẫn: TS. Trịnh Quốc Toản
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Trình bày những vấn đề chung về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng. Nghiên cứu tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo Bộ luật hình
sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trong 11
năm (2001-2011). Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự
về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và nâng cao hiệu quả công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Keywords: Luật hình sự; Pháp luật Việt Nam; Tội thiếu trách nhiệm; Hậu quả nghiêm
trọng

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, do tác động của nhiều nguyên nhân, tình hình tội phạm nói
chung, các tội phạm về chức vụ và tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nói riêng
diễn ra tương đối nghiêm trọng và phức tạp, trên nhiều lĩnh vực và gây hậu quả nghiêm trọng
hơn. Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn thì tình hình tội phạm về chức vụ ngày càng
tăng và mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng, các vụ án ngày càng khó khăn phức tạp hơn,
đặc biệt trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Điều này xuất phát từ tình hình đấu tranh phòng chống tội
phạm về chức vụ chưa cao, tội phạm ngày càng tinh vi hơn, người phạm tội có chức vụ khá cao
tại các cơ quan nhà nước, bản thân đội ngũ cán bộ chưa trau dồi về phẩm chất đạo đức, một bộ

xử lý một số khía cạnh liên quan đến các tội này như Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986
của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội
phạm của BLHS năm 1985. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có một văn bản nào
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn một cách cụ thể, chi tiết các dấu hiệu về định
lượng "hậu quả nghiêm trọng", "hậu quả rất nghiêm trọng" hay "hậu quả đặc biệt nghiêm trọng"
trong tội phạm này. Cũng như các tiêu chí đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội, tiêu chí về để định tội danh, tiêu chí để phân biệt với các tội phạm khác có
cùng tính chất.
Dưới góc độ khoa học pháp lý: Việc nghiên cứu tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học của các cơ sở
đào tạo luật học như Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội,
Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam và một số cơ sở đào tạo
khác. Trong đó phải kể đến một số giáo trình, sách chuyên khảo hay những bài viết như: GS.TS
Nguyễn Ngọc Hòa - Các tội phạm về chức vụ, trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần
các tội phạm), tập thể tác giả do TSKH.GS Lê Văn Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2003; GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các
tội phạm), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003. Ngoài ra, các vấn đề lý luận và thực tiễn xét
xử còn được nghiên cứu trong một số công trình nghiên cứu của ThS. Đinh Văn Quế như Bình
luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 - Phần chung, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000;
Bình luận chuyên sâu Bộ luật hình sự, tập V, các tội phạm về chức vụ, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, 2003. Bên cạnh đó, còn phải kể đến một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ luật học
chuyên ngành Tư pháp hình sự nghiên cứu các tội phạm về chức vụ.
Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử đối với tội thiếu trách nhiệm
gây hậu quả nghiêm trọng ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

3
Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội thiếu trách

Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng quy phạm pháp luật hình sự của tội
thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà
Nội, đồng thời phân tích những tồn tại xung quanh việc lập pháp và áp dụng pháp luật nhằm
đề xuất và luận chứng sự cần thiết phải hoàn thiện và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng quy phạm pháp luật về tội này trong pháp luật hình sự Việt Nam.
5. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm, về tính
nhân đạo của pháp luật, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch
sử pháp luật, lý luận về Nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm
học, luật tố tụng hình sự và triết học, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên

4
cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự
Việt Nam và nước ngoài.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn
đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp,
phương pháp xã hội học như thống kê, định lượng, định tính…để phân tích, tổng hợp các tri
thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận
văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Luận văn nghiên cứu một cách tương đối hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và
thực tiễn của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo luật hình sự Việt Nam ở
cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học. Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận
cần thiết cho các nhà khoa học - luật gia, cán bộ thực tiễn và các sinh viên, học viên cao học
và nghiên cứu sinh chuyên ngành tư pháp hình sự, cũng như góp phần phục vụ cho công tác
lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong việc đấu tranh phòng và

1.1.1. Khái niệm tội phạm về chức vụ
Khái niệm tội phạm về chức vụ được qui định tại Điều 277 BLHS năm 1999: "Các tội
phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do
người có chức vụ, quyền hạn thực hiện trong khi thực hiện công vụ. Người có chức vụ quyền
hạn nói trên đây là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác,
có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có
quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ".
1.1.2. Khái niệm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Qua phân tích tác giả luận văn đưa khái niệm: Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong BLHS, do người có năng lực trách
nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do bổ nhiệm, bầu cử, do hợp đồng hoặc do
một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không được hưởng lương được giao một công vụ
nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thi hành công vụ đã không thực hiện hay thực
hiện không đúng nhiệm vụ được giao xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ
chức gây hậu quả nghiêm trọng.
Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được qui định tại BLHS, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.
Hai là, tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự, do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện.
Ba là, tội phạm gây ra hậu quả nghiêm trọng do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nhiệm vụ được giao của người có chức vụ, quyền hạn.
1.1.3. Ý nghĩa của việc qui định tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong
luật hình sự Việt Nam
Việc qui định tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng có ý nghĩa quan trọng trên
nhiều phương diện, cụ thể là:
Thứ nhất, qui định tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là sự ghi nhận và bảo
đảm sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, là một biểu hiện của bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Thứ hai, việc qui định tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng có ý nghĩa trong

đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp qui định ở các
điều 139, 193 và 237, thì bị cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba
năm".
Tuy nhiên điều luật chỉ qui định một khung hình phạt chưa thực sự phù hợp với tình hình
xét xử và thực tế tội phạm nên tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS được Quốc
hội thông qua ngày 12/8/1991, ngày 22/12/1992 đã sửa sửa đổi bổ sung Điều 220: "1. Người
nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao
gây hậu quả nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp qui định ở các điều 139, 193 và 237, thì
bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm
đến mười hai năm".
1.3. Các quy định về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong luật hình
sự một số nước
Tác giả luận văn cũng đã nghiên cứu các quy định về tội thiếu trách nhiệm gây hậu
quả nghiêm trọng trong luật hình sự một số nước:
1.3.1. Luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
1.3.2. Luật hình sự của Liên bang Nga
1.3.3. Luật hình sự Bungary 7
Chương 2
TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG THEO BỘ LUẬT
HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
2.1. Nhũng dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng theo Bộ luật hình sự năm 1999 và phân biệt tội này với một số tội phạm khác
2.1.1. Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng theo Bộ luật hình sự năm 1999

8
Trách nhiệm hình sự đối với trường hợp phạm tội cụ thể được quy định trong điều 285
BLHS năm 1999.
2.1.2. Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với một số tội phạm
khác
* Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với tội thiếu trách nhiệm gây
thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144)
Hành vi "thiếu trách nhiệm" là hành vi không làm hoặc làm không hết trách nhiệm nên đã
để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước do mình
trực tiếp quản lý.
Điểm giống nhau cơ bản giữa hai tội phạm này là người phạm tội có hành vi khách quan
duy nhất là thiếu trách nhiệm.
Điểm khác nhau cơ bản giữa hai tội phạm này là khách thể của tội phạm, cụ thể: Tội thiếu
trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước xâm phạm đến quyền sở hữu tài
sản của Nhà nước với đối tượng tác động là tài sản của Nhà nước bao gồm vật, tiền, giấy tờ có
giá và các quyền tài sản; còn tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng xâm phạm đến
hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức nhà nước.
* Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với tội thiếu trách nhiệm
trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 235), tội
thiếu trách nhiệm để người đang bị giam, giữ trốn (Điều 301)
So sánh các tội phạm này thấy rằng: điểm giống nhau giữa ba loại tội này là đều có hành
vi khách quan là "thiếu trách nhiệm" và ý thức chủ quan của người phạm tội được thực hiện
với lỗi vô ý.
Điểm khác nhau giữa ba loại tội này là khách thể xâm phạm, chủ thể thực hiện tội phạm
và hậu quả.
Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả
nghiêm trọng là tội xâm phạm đến trật tự, an toàn cộng cộng, tính mạng, sức khỏe của công
dân, tài sản của Nhà nước, các tổ chức và công dân. Đối tượng tác động của tội phạm là vũ
khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Tội phạm được quy định nhằm đấu tranh phòng chống những
hành vi thiếu trách nhiệm trong việc giữ gìn vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, bảo đảm an

5
6
7
8
9
0
1
Hình
sự sơ
thẩm
487
5
512
6
505
8
498
6
511
34
542
3
524
9
671
5
698
2
683
9

phạm
xâm
phạm
tính
mạng
.con
người
Nhóm
tội
phạm
xâm
phạm
sở hữu
Nhóm
tội
phạm
xâm
phạm
ma túy
Nhóm
tội
phạm
chức
vụ
Nhóm
tội
phạm
xâm
phạm
trật tự

106
2004
156
285
353
20
15
153
2005
114
213
181
17
13
112
2006
130
245
180
26
20
97
2007
134
254
125
30
21
60
2008

năm và từng loại tội phạm.
2.2.2. Thực tiễn xét xử tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng của Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội trong 11 năm (2001-2011)
Từ năm 2001 đến 2011, trong số 12.634 vụ án mà TAND thành phố Hà Nội đã xét xử, có
415 vụ án/963 bị cáo thuộc các tội phạm về chức vụ, chiếm 0,3% số lượng án xét xử.

10
Bảng 2.3: Số liệu tội phạm về chức vụ đã xét xử tại TAND thành phố Hà Nội trong 11 năm
(2001 - 2011)
Năm
Các
tội
phạm về
chức vụ
200
1
200
2
200
3
200
4
200
5
200
6
200
7
200
8

Điều 280
1

2 1
6
3
6
4
2
Điều 281
1 2

1
4
4
3
2

Điều 282
Điều 285
1 1

Điều 286

1
1
2

Điều 287
Điều 290

1
Điều 291 Nguồn: TAND thành phố Hà Nội.
Bảng số liệu trên cho thấy một đặc điểm của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
được xét xử tại TAND thành phố Hà Nội là tuy nằm ở trong nhóm những tội phạm về chức vụ
nhưng sẽ có những bị cáo bị truy tố về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được xét xử
trong những vụ án thuộc chương các tội phạm về kinh tế, vậy nên khi thống kê theo các vụ án sẽ
không thể hiện tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng tại chương các tội phạm về chức

Nguồn: TANDTC.
Nhận xét về các vụ án về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đã được xét xử tại
TAND thành phố Hà Nội, chúng tôi thấy có đặc điểm sau:
Thứ nhất, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng không tồn tại thành một vụ án
độc lập (như các tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước, tội
thiếu trách nhiệm để người giam giữ trốn ) mà thường đi cùng với các tội phạm khác.
Thứ hai, đây là loại tội phạm xảy ra trên rất nhiều lĩnh vực, liên quan đến nhiều ngành
nghề khác nhau như quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, xây dựng, kế toán, đấu thầu, thương
mại quốc tế, phòng cháy chữa cháy
Thứ ba, phần lớn các bị cáo bị truy tố, xét xử về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng tại TAND thành phố Hà Nội đều là những người giữ chức vụ quản lý.
Thứ tư, đôi khi tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng xuất hiện trong những vụ
án nằm trong nhóm tội xâm phạm sở hữu như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Qua nghiên cứu thực tế xét xử một số vụ án điển hình về tội thiếu trách nhiệm gây hậu
quả nghiêm trọng tại TAND thành phố Hà Nội, thấy rằng tội phạm này thường xảy ra trong
các lĩnh vực sau:
a) Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực thuế:
b) Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực giao dịch thương
mại quốc tế qua ngân hàng
c) Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực phòng cháy chữa
cháy
d) Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực quản lý nhà nước
đ) Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực quản lý kinh tế
e) Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực quản lý đất đai
g) Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực xuất khẩu lao
động
h) Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực tài chính - kế toán
i) Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực giáo dục
2.3. Những tồn tại, hạn chế trong xét xử tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và những nguyên nhân của nó

2.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong xét xử tội thiếu trách nhiệm gây hậu
quả nghiêm trọng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
Như vậy, từ những hạn chế, tồn tại trên đây cho thấy một số nguyên nhân cơ bản để xảy
ra tội phạm này và hạn chế trong thực tiễn xét xử là do các nguyên nhân cơ bản sau đây:
Thứ nhất, do các qui định của BLHS nói chung và về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng nói riêng còn một số thiếu sót, vướng mắc cần tiếp tục được hoàn thiện.
Thứ hai, sự hướng dẫn, giải thích pháp luật của TANDTC chưa đầy đủ và chưa kịp thời.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, đặc biệt là đối với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là loại tội có
thể phát sinh trên nhiều lĩnh vực, liên quan đến nhiều ngành nghề, phải cập nhật nhiều loại văn
bản.
Chương 3
NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VỀ TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM
NÀY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Những yêu cầu hoàn thiện các quy định về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả công tác đấu
tranh phòng chống tội phạm này

13
Những diễn biến phức tạp của các tội phạm về kinh tế và chức vụ trong những năm gần
đây cho thấy, vi phạm pháp luật về kinh tế, chức vụ và tham nhũng vẫn tiềm ẩn trong các
ngành, các cấp, các doanh nghiệp, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, đặc biệt trong khâu quản lý, sử
dụng đất đai, giải phóng mặt bằng, phê duyệt và triển khai các dự án xây dựng cơ bản. Bên cạnh
đó, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thực hiện chính sách xã hội cũng khó
lường, gây thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước. Phương thức, thủ đoạn của các đối tượng được
che đậy kín kẽ hơn, nhiều vụ án còn có sự tiếp tay hoặc do sự vô trách nhiệm của một số cán bộ
nhà nước tạo thành đường dây khép kín, gây khó khăn trong công tác điều tra, phát hiện. Điều này
đã làm cho một số qui định của luật hình sự về tội phạm chức vụ nói chung và tội thiếu trách

Thứ ba, mở rộng diện miễn trách nhiệm hình sự đối với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng.

14
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội thiếu trách
nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Áp pháp luật vừa là hình thức thực hiện pháp luật, vừa là một giai đoạn của thực hiện
pháp luật. Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan bảo vệ pháp luật đối với tội
thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là hoạt động mang tính chất luật trong công tác
điều tra, truy tố, xét xử tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng cần chú ý một số yêu
cầu:
Thứ nhất, các cơ quan bảo vệ pháp luật phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng,
Nhà nước trong từng giai đoạn, từ đó vận dụng linh hoạt vào công tác đấu tranh phòng chống
tội phạm nói chung, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nói riêng.
Thứ hai, các cơ quan bảo vệ pháp luật phải có sự thống nhất về quan điểm trong việc lựa
chọn các qui phạm pháp luật hình sự. Đây là điều kiện rất quan trọng để nâng cao hiệu quả của
trách nhiệm hình sự, khắc phục được tình trạng không thống nhất trong áp dụng pháp luật giữa các
cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ ba, việc điều tra, truy tố, xét xử tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng phải
lựa chọn đúng các qui phạm pháp luật để áp dụng một cách mềm dẻo, linh hoạt. Xử lý những
người phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng phải tuân thủ trình tự, thủ tục do
pháp luật quyết định.
Thứ tư, các cơ quan bảo vệ pháp luật cần nghiêm chỉnh thực hiện Nghị quyết số 08/ NQ-
TW ngày 02/02/2002 và Nghị quyết số 49/ NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về định
hướng cải cách tư pháp đến năm 2020.
3.4. Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Thứ nhất: Giải pháp phòng ngừa
Từ thực tiễn đấu tranh chống tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng có thể đề
xuất những yêu cầu để thực hiện giải pháp phòng ngừa sau:

Thực tiễn cho thấy các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tội phạm
tham nhũng, tội phạm về chức vụ thường được sử dụng có hiệu quả khi:
- Tổ chức nói chuyện về tình hình tội phạm về chức vụ tại các cơ quan, nhà máy, tổ chức
xã hội, địa bàn dân cư.
- Tổ chức các câu lạc bộ pháp luật, các đội thông tin cổ động, các cuộc tìm hiểu pháp luật
về tội phạm tham nhũng.
- Tổ chức bồi dưỡng tình cảm, tâm lý pháp luật về việc pháp luật về việc tôn trọng pháp luật,
tôn trọng các qui tắc của cuộc sống, giữ gìn và bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài sản
của Nhà nước, tổ chức và công dân.
- Tổ chức tuyên truyền pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Lồng ghép các nội dung tuyên truyền pháp luật với nội dung kinh tế - xã hội của các
ngành, các cấp.
- Cần thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ khen thưởng, biểu dương kịp thời để khuyến
khích, động viên tất cả quần chúng nhân dân tham gia phong trào toàn dân đấu tranh phòng
chống tội phạm.

KẾT LUẬN
1. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm về chức vụ nói chung và tội
thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nói riêng từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
đã không ngừng phát triển, kế thừa những giá trị pháp lý truyền thống của dân tộc, vận dụng
có chọn lọc những kinh nghiệm và thành tựu trong hoạt động lập pháp hình sự về tội phạm về
chức vụ nói chung và tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nói riêng, tưng bước
được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này và bám sát vào
các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam.
Sự ghi nhận tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong luật hình sự Việt Nam
là một bước tiến về kỹ thuật lập pháp hình sự, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng và

16
chng ti phm núi chung trong tỡnh hỡnh mi ca t nc, phự hp vi thụng l quc t,
phỏp lut quc t.

nhim gõy hu qu nghiờm trng; th hai, sa i, b sung iu 285 BLHS nm 1999; th
ba, m rng din min trỏch nhim hỡnh s i vi ti thiu trỏch nhim gõy hu qu nghiờm
trng.
Vic nghiờn cu ti phm ny mt cỏch nghiờm tỳc v khoa hc l rt cn thit i vi
khoa hc phỏp lý, c quan xõy dng v c quan bo v v c quan thi hnh phỏp lut. Vi
phm vi hn hp ca ti v kh nng cũn hn ch, tỏc gi xin nờu ra mt s vn c bn,
khỏi quỏt mang tớnh gi m, hy vng úng gúp mt phn nh vo h thng lý lun chung
nhm nõng cao hiu qu trong cụng tỏc u tranh vi ti phm v chc v núi chung v ti
thiu trỏch nhim gõy hu qu nghiờm trng núi riờng.

References
1. Ban Chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự (2000), Tài liệu tập huấn chuyên sâu về Bộ
luật hình sự năm 1999, Hà Nội.

17
2. Bộ T- pháp (1997), Bộ luật hình sự Bungari, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội.
3. Bộ T- pháp (1997), Bộ luật hình sự Liên bang Nga, (Tài liệu dịch tham khảo), Hà Nội
4. Lê Cảm (1999), "Những cơ sở khoa học - thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật hình
sự n-ớc ta trong giai đoạn hiện nay", Khoa học, (KHXH), (2).
5. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, tập III, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội.
6. Lê Cảm (Chủ biên) (2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, (tái bản lần thứ nhất, 2003).
7. Lê Cảm (chủ biên) (2003), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội.
8. Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học
luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
9. Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) (2001), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
10. Nguyễn Huy Chiểu (1972), Hình luật, Viện Đại học Sài Gòn xuất bản, Sài Gòn.

Nxb Lao động, Hà Nội.
25. Nguyễn Duy Lãm (chủ biên) (1996), Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
26. Phan Huy Lê (1961), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
27. Uông Chu L-u (chủ biên) (2001), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 (Phần
chung), Tập I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
28. C. Mác - Ph. ăngghen (1978), Tuyển tập, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội.
29. Đỗ M-ời (1995), "Xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm của đổi mới hệ thống chính trị", Thông tin Khoa học pháp lý, (12).
30. Nhiều tác giả (2010), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, (đ-ợc sửa đổi bổ sung năm
2009, có hiệu lực từ 01.01.2010), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
31. Hoàng Phê (chủ biên) (2002), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng

19
32. Đỗ Ngọc Quang (1997), Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng trong luật
hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
33. Đỗ Ngọc Quang, Trịnh Quốc Toản, Nguyễn Ngọc Hòa (1997), Giáo trình luật hình sự
Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
34. Đinh Văn Quế (2000), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần chung), Nxb Thành
phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh
35. Đinh Văn Quế (2002), Bình luật khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm). Tập V -
Các tội phạm về chức vụ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh
36. Hoàng Thị Kim Quế (2002), "T- t-ởng Đông, Tây về Nhà n-ớc và pháp luật - Những
nhân tố của Nhà n-ớc pháp quyền", Nghiên cứu lập pháp, (3).
37. Hoàng Thị Kim Quế (2007), "Triết học pháp luật trong hệ thống các khoa học pháp lý",
Khoa học (chuyên san Kinh tế-Luật), (2).
38. Hoàng Thị Kim Quế (Chủ biên) (2007), Giáo trình Lý luận về nhà n-ớc và pháp luật,
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
39. Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
40. Quốc hội (1988), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội.

60. Võ Khánh Vinh (1994), Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội.
61. Võ Khánh Vinh (1996), Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status