1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐINH THỊ KIỀU MY
TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM
TRỌNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Quốc Toản HÀ NỘI - 2012
3
MỤC LỤC
Trang
Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng
17
1.2.2.
Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
23
1.2.3.
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
32
1.3.
Các quy định về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng trong luật hình sự một số nước
34
4
1.3.1.
Luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
34
1.3.2.
Luật hình sự của Liên bang Nga
37
1.3.3.
Luật hình sự Bungary
39
Chương 2: Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng theo Bộ luật hình sự năm 1999 và thực
tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội từ năm 2001 đến năm 2011
42
hậu quả nghiêm trọng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
và những nguyên nhân của nó
87
2.3.1.
Một số tồn tại, hạn chế trong xét xử tội thiếu trách nhiệm gây
hậu quả nghiêm trọng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
trong thời gian qua
87
5
2.3.2.
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong xét xử tội thiếu
trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng của Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội
92
Chương 3: Những yêu cầu và giải pháp hoàn thiện các
quy định pháp luật hình sự về tội thiếu trách
nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và nâng cao
hiệu quả công Tác Đấu TRANH Phòng, Chống
Tội Phạm Này TRÊN Địa Bàn Thành Phố Hà
nội
95
3.1.
Những yêu cầu hoàn thiện các quy định về tội thiếu trách
nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong pháp luật hình sự Việt
Nam và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống
tội phạm này
95
3.2.
UBND
: ủy ban nhân dân 7
Danh mục các bảng
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Số liệu các vụ án toàn ngành TAND thành phố Hà Nội
đã xét xử trong 11 năm (2001 - 2011)
61
2.2
Số liệu các nhóm tội phạm đã xét xử tại TAND thành phố
Hà Nội trong 11 năm (2001 - 2011)
62
2.3
Số liệu tội phạm về chức vụ đã xét xử tại TAND thành
phố Hà Nội trong 11 năm (2001 - 2011)
63
2.4
Bảng số liệu so sánh việc xét xử các tội thuộc nhóm tội
phạm về chức vụ của TAND thành phố Hà Nội với toàn
quốc
Trong Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999, khái niệm các tội
phạm về chức vụ được qui định tại Điều 227, Chương XXI BLHS là những
9
hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có chức vụ thực hiện trong khi thực
hiện công vụ, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức. Việc
qui định khái niệm tội phạm chức vụ trong BLHS là cần thiết, đáp ứng yêu
cầu khách quan trong phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Đây là
cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng phân biệt tội phạm về chức vụ
với các hành vi vi phạm pháp luật khác của người có chức vụ quyền hạn
nhằm xử lý đúng đắn, chính xác đối với tội phạm này. Việc làm sáng tỏ để áp
dụng một cách chính xác các quy phạm này là rất cần thiết và cấp bách, góp
phần hoàn chỉnh thêm các vấn đề liên quan đến các tội phạm về chức vụ. Bởi
lẽ, việc áp dụng đúng đắn và hiệu quả các quy phạm chương tội phạm về chức
vụ trong BLHS năm 1999 vào thực tiễn sẽ mang lại những lợi ích thiết thân
cho Nhà nước, cho mỗi công dân và cho toàn xã hội. Đối với Nhà nước, mà
trực tiếp là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền sẽ nâng cao uy tín của
mình trước nhân dân, làm cho nhân dân tin vào tính công minh và sức mạnh của
pháp luật, qua đó khuyến khích người dân tham gia tích cực vào công cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm. Đối với mỗi công dân sẽ an tâm về hiệu quả
hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền mà toàn tâm toàn ý
hỗ trợ, cùng với các cơ quan tư pháp này giải quyết thấu đáo, triệt để vấn đề.
Còn đối với toàn xã hội sẽ có được một pháp chế vững mạnh và chắc chắn -
đó chính là nền tảng cơ bản để chúng ta xây dựng thành công một Nhà nước
pháp quyền.
Tuy nhiên, đây là một đối tượng nghiên cứu rất phức tạp, bởi lẽ:
Thứ nhất, các qui phạm về tội về chức vụ quy định trong pháp luật
hình sự thực định của nước ta còn thiếu rõ ràng và cụ thể, đôi khi chưa có sự
thống nhất như giữa các văn bản quy phạm pháp luật như: khái niệm chức vụ
quy định tại BLHS, Luật cán bộ công chức và Luật phòng chống tham nhũng
Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC
hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS năm
11
1985. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có một văn bản nào của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn một cách cụ thể, chi tiết các dấu
hiệu về định lượng "hậu quả nghiêm trọng", "hậu quả rất nghiêm trọng" hay
"hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" trong tội phạm này. Cũng như các tiêu chí
đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tiêu
chí về để định tội danh, tiêu chí để phân biệt với các tội phạm khác có cùng tính
chất.
Dưới góc độ khoa học pháp lý: Việc nghiên cứu tội thiếu trách nhiệm
gây hậu quả nghiêm trọng đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên
cứu khoa học của các cơ sở đào tạo luật học như Trường Đại học Luật Hà
Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Nhà nước và Pháp luật
thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam và một số cơ sở đào tạo khác. Trong đó
phải kể đến một số giáo trình, sách chuyên khảo hay những bài viết như: GS.TS
Nguyễn Ngọc Hòa - Các tội phạm về chức vụ, trong Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam (Phần các tội phạm), tập thể tác giả do TSKH.GS Lê Văn Cảm chủ
biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003; GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên),
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, 2003. Ngoài ra, các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử còn được
nghiên cứu trong một số công trình nghiên cứu của ThS. Đinh Văn Quế như
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 - Phần chung, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh, 2000; Bình luận chuyên sâu Bộ luật hình sự, tập V, các tội phạm về
chức vụ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2003. Bên cạnh đó, còn phải kể đến
một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ luật học chuyên ngành Tư pháp hình
sự nghiên cứu các tội phạm về chức vụ.
Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý, đến nay chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực
13
cũng như đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
BLHS hiện hành về tội phạm này trong thực tiễn xét xử.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu các chính sách hình sự của Nhà
nước về của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong luật hình
sự Việt Nam, phân tích khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, đặc điểm của tội
phạm, phân biệt tội phạm với các tội phạm khác cùng chương, phân biệt tội
phạm với các tội về quản lý kinh tế, phân tích nội dung và điều kiện áp dụng
tội phạm, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự của tội phạm trong BLHS
năm 1999 hiện hành để làm sáng tỏ bản chất pháp lý và những nội dung cơ
bản của quy phạm theo luật hình sự Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng quy phạm pháp
luật hình sự của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong thực
tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà Nội, đồng thời phân tích những tồn tại
xung quanh việc lập pháp và áp dụng pháp luật nhằm đề xuất và luận chứng
sự cần thiết phải hoàn thiện và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng quy phạm pháp luật về tội này trong pháp luật hình sự Việt Nam.
5. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh
phòng và chống tội phạm, về tính nhân đạo của pháp luật, cũng như thành tựu
của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử pháp luật, lý luận về Nhà
nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố
tụng hình sự và triết học, những luận điểm khoa học trong các công trình
nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà
khoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài.
15
phạm tội, những khó khăn khi xét xử loại tội phạm này trên thực tế. Đặc biệt,
luận văn còn chỉ ra một số tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn và những nguyên
nhân của thực trạng này để đề xuất những giải pháp khắc phục.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng.
Chương 2: Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo Bộ
luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội trong 11 năm (2001-2011).
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự
về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và nâng cao hiệu quả công
tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn thành phố Hà Nội. 16
Chương 1
Những vấn đề chung
về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định Tội thiếu trách nhiệm
gây hậu quả nghiêm trọng trong Luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm tội phạm về chức vụ
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, tội phạm là một hiện tượng
xã hội có nguyên nhân phát sinh do những điều kiện kinh tế - xã hội nhất
định, gắn liền với sự phát triển của xã hội.
Tại Điều 8 BLHS năm 1999 thì khái niệm về tội phạm được quy định
như sau:
hạn cụ thể để làm những việc sai trái đều bị xử lý bằng các biện pháp kỷ luật
của Đảng, kỷ luật của Nhà nước hay bằng các biện pháp hành chính. Chỉ sau
khi BLHS năm 1985 ra đời, khái niệm tội phạm về chức vụ mới được qui
định tại Điều 219 và hiện nay được qui định tại Điều 277 BLHS năm 1999; cụ
thể là:
Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt
động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ, quyền
hạn thực hiện trong khi thực hiện công vụ. Người có chức vụ quyền
hạn nói trên đây là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng
hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng
lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn
nhất định trong khi thực hiện công vụ [42].
Tuy nhiên, theo khái niệm tội phạm về chức vụ này thì có những tội
không quy định tại chương các tội phạm về chức vụ nhưng lại là những tội do
người có chức vụ quyền hạn thực hiện, ví dụ như tội cố ý làm trái các quy
18
định Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, tội vi phạm các
quy định về quản lý đất đai Mặt khác, có những tội được qui định tại
chương các tội phạm về chức vụ nhưng lại do người không có chức vụ quyền
hạn thực hiện như tội đưa hối lộ, tội môi giới hối lộ, tội lợi dụng ảnh hưởng
đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi Do vậy, có thể thấy khái
niệm tội phạm về chức vụ được qui định tại Điều 227 BLHS trong mục Các
tội phạm về chức vụ chưa thật sự đầy đủ.
Đặc điểm chung của cỏc tội phạm về chức vụ là những hành vi (hành
động hoặc không hành động) của người có chức vụ quyền hạn xâm phạm đến
hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức. Mọi hành vi xâm phạm đến hoạt
động đúng đắn của cơ quan, tổ chức đều có thể gây thiệt hại cho lợi ích của
Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đó có thể
là thiệt hại về vật chất hoặc thiệt hại phi vật chất. Về hậu quả được chia thành
được giao mới là chủ thể của tội phạm. Theo Từ điển Tiếng Việt "Chức" có
nghĩa là "Danh vị thể hiện cấp bậc, quyền hạn và trách nhiệm của một người
trong hệ thống tổ chức của Nhà nước hay đoàn thể" và "chức vụ" được hiểu
là "nhiệm vụ tương ứng với chức" [31, tr. 185]. Bản thân một người có chức
vụ là người phải có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao tương ứng với chức
vụ của mình.
Thứ hai, người có chức vụ này đã không làm hoặc làm không đúng
nhiệm vụ của mình. Cũng theo Từ điển Tiếng Việt thì "Trách nhiệm" là "phần
việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải đảm bảo làm tròn, nếu
kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả" [31, tr. 885]. Như vậy,
"Thiếu trách nhiệm" có thể hiểu là người có chức vụ đã không làm, làm
không đúng, làm dưới mức yêu cầu công việc tương ứng với nhiệm vụ được
giao.
20
Thứ ba, là hậu quả của hành vi thiếu trách nhiệm. Người có chức vụ
quyền hạn đã không làm đúng nhiệm vụ được giao nếu việc không làm, hoặc
làm không đúng này gây ra hậu quả nghiêm trọng. Nếu không có hậu quả
hoặc hậu quả không liên quan đến hành vi của người có chức vụ thì không
phải là tội phạm này.
Dưới góc độ khoa học, hiện nay chỉ tồn tại một số quan điểm khoa học
định nghĩa tội phạm này trong sách báo pháp lý, nhưng về cơ bản đều thống
nhất nội hàm khái niệm này.
Tác giả Đinh Văn Quế đưa ra định nghĩa: "Thiếu trách nhiệm gây hậu
quả nghiêm trọng là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng" [35, tr. 243].
Thạc sĩ luật Vũ Mạnh Thông và thạc sĩ luật Đoàn Tấn Minh có quan
điểm: "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, được hiểu là hành vi
của người có chức vụ quyền hạn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nhiệm vụ được giao (dẫn đến) gây hậu quả nghiêm trọng" [30, tr. 497].
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm của công dân; bảo vệ tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức và
tài sản của Nhà nước, có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện, cụ thể là:
Thứ nhất, qui định tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là
sự ghi nhận và bảo đảm sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, là
một biểu hiện của bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Điều 12 Hiến pháp nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam qui định:
Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp
22
hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Mọi hành động xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể
và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật [41].
Nhà nước ta là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do vậy cán
bộ, công chức, những người được giữ chức vụ, quyền hạn nhất định phải làm
tròn nhiệm vụ của mình để phục vụ Nhà nước và nhân dân. Ngăn chặn các
hành vi xâm phạm đến hoạt động của cơ quan nhà nước bằng pháp luật hình
sự là phương pháp bảo đảm hữu hiệu nhất, mang lại hiệu quả mà vẫn có tác
dụng giáo dục.
Thứ hai, việc qui định tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
có ý nghĩa trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm của các cán bộ công chức
khi thực hiện nhiệm vụ của mình, góp phần xây dựng Nhà nước của dân, do
dân và vì dân. Điều 8 Hiến pháp năm 1992 qui định: "các cơ quan nhà nước,
cán bộ công chức phải tôn trọng nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân,
lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh
chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng" [41].
Đồng thời Điều 9 Luật cán bộ công chức cũng qui định rừ về nghĩa vụ của
cán bộ công chức trong khi thi hành công vụ phải "thực hiện đúng, đầy đủ và
Từ khi hình thành nhà nước, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào cũng quan
tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy của mình, bởi lẽ "Nhà nước là hình
thức tổ chức xã hội có giai cấp, là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc
biệt, có chức năng quản lý xã hội để phục vụ lợi ích trước hết cho giai cấp
thống trị và thực hiện những hoạt động chung nảy sinh từ bản chất xã hội"
[38, tr. 87].
Vì vậy, trong quá trình dựng nước và giữ nước, xây dựng, việc hoàn
thiện và bảo vệ bộ máy nhà nước nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức nói
24
riêng luôn là nhiệm vụ quan trọng. Nghiên cứu lịch sử pháp luật hình sự của
mỗi thời kỳ không thể không nghiên cứu các đặc điểm kinh tế, chính trị, văn
hoá của từng thời kỳ ban hành các văn bản pháp luật đó. Pháp luật hình sự
luôn thể hiện hai mặt cơ bản:
Một là, sự kết tinh những giá trị phổ biến, những kinh nghiệm về đấu
tranh phòng chống các tội phạm qua các giai đoạn phát triển của thời kỳ.
Hai là, pháp luật hình sự ban hành để bảo vệ lợi ích giai cấp và trật tự
xã hội theo quan điểm của giai cấp thống trị.
Vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử pháp luật hình sự phải nghiên cứu đồng
thời cả hai mặt cơ bản đó để rút ra những giá trị hợp lý nhằm kế thừa và phát
triển, từ đó mới thấy rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của pháp luật hình sự
trong từng giai đoạn lịch sử. Qua nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự Việt
Nam về các tội phạm về chức vụ nói chung và tội thiếu trách nhiệm gây hậu
quả nghiêm trọng nói riêng, có thể chia thành các giai đoạn sau đây.
1.2.1. Giai đoạn từ thời kỳ phong kiến Việt Nam đến trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945
- Thời kỳ nhà Lê: Nghiên cứu pháp luật thời kỳ Lê, điển hình là Bộ
luật Hồng Đức được soạn thảo dưới triều vua Lê Thánh Tông, hoàn thành
năm 1483, gồm 6 quyền với 13 chương, 722 điều qui định tất cả các mối quan
hệ pháp luật có trong thời bấy giờ. Đa phần các điều luật được xây dựng theo
việc quân lại xử khác" [59, tr. 91].
Nhưng đáng chú ý hơn cả là Điều 103 chương Vi chế (Điều 199 Quốc
triều hình luật) qui định về việc quan lại sao nhãng việc công có nội dung:
Các quan đang tại chức mà trễ nhác việc công thì bị phạt 70
trượng, biếm ba tư và bãi chức. Nếu vì trễ nhác để xảy ra việc gì,
thì tội thêm một bậc. Khi vâng mệnh coi sóc làm những việc cần
cấp mà không dụng tâm coi đốc, để tốn nhân công hại của công, mà