Mở rộng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm - Pdf 10


TIỂU LUẬN:
Mở rộng cho vay ngắn hạn đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi
nhánh NHCT Hoàn Kiếm

MỞ ĐẦU

Chiếm khoảng 96% số lượng doanh nghiệp, Các DNVVN đang ngày càng có
vai trò quan trọng và trở thành động lực tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế. Đặc
biệt là Việt Nam bước vào hội nhập từ một nền kinh tế chưa phát triển. Phát triển
DNVVN đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất coi trọng, được coi là một
trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
nước ta. Theo định hướng của Chính phủ đến năm 2010, cả nước sẽ có 500.000
DNVVN, tạo việc làm cho khoảng 20 triệu người.
Để có được sự thành công, các DNVVN cần phải được đáp ứng đầy đủ về

DNVVN tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng cho vay ngắn hạn đối với DNVVN tại Chi nhánh
NHCT Hoàn Kiếm
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay ngắn hạn đối với các DNVVN tại
Chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm
Chương 1: CHO VAY NGẮN HẠN VÀ MỞ RỘNG CHO VAY NGẮN HẠN
DNVVN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ( DNVVN) trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm DNVVN
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh.
Tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo quy mô ở các nước không giống nhau.
Một số nước khi xác định DNVVN chỉ dựa trên tiêu chí duy nhất là số lao động

nước.
 Tạo ra nhiều công ăn việc làm nhất, góp phần thực hiện Chiến lược xóa
đói giảm nghèo: Ước tính DNVVN tạo ra hơn 60% việc làm phi nông nghiệp,
khoảng 26% lao động cả nước. DNVVN sử dụng trên 90% số lao động có việc làm
thường xuyên. Quan trọng hơn, DNVVN có khả năng thu hút những lực lượng lao
động tại chỗ, ít được đào tạo bài bản, đó là một vấn đề mang tính xã hội rất lớn,
tăng thu nhập cá nhân, giảm đói nghèo. DNVVN là nơi có khả năng tiếp nhận phần
lớn số lao động mới hàng năm và số lao động dư thừa do sắp xếp lại DNNN hay cải
cách hành chính, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, ổn định và phát triển xã hội.
 Thường đóng góp nhiều nhất vào GDP: Mức độ đóng góp của DNVVN
vào nền kinh tế ngày càng lớn. Không chỉ tăng trưởng về mặt số lượng, các
DNVVN đang trở thành bộ phận quan trọng có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế,
góp phần tăng giá trị xuất khẩu của cả nước. Hàng năm, DNVVN huy động gần 30
tỷ USD sử dụng 2,6 triệu lao động và đóng góp gần 40% GDP cả nước, 32% tổng
vốn đầu tư toàn nền kinh tế, khoảng 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp,
khoảng gần 80% tổng mức bán lẻ, khoảng 67% vào nguồn thu ngân sách từ thuế,
khoảng 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa và 100% giá trị sản lượng hàng hóa
một số ngành nghề thủ công mỹ nghệ
 Bên cạnh đó, sự phát triển DNVVN là một kênh thu hút tích cực, có khả
năng huy động nguồn lực xã hội to lớn vào phát triển kinh tế, tận dụng và tiết kiệm
tối đa các nguồn lực về vốn, lao động, tài nguyên, đất đai… cho đầu tư phát triển.
Với qui mô hợp lý, DNVVN đã góp phần tích tụ vốn, tạo ra cơ hội hình thành
những doanh nghiệp lớn trong tương lai. Góp phần tập trung vốn của xã hội tạo ra
những cơ sở vật chất ban đầ
 Đây là bộ phận có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, lưu thông
hàng hoá, cung ứng dịch vụ, là các vệ tinh gắn kết, hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển
của các DN lớn trong nền kinh tế: Các DNVVN có thể bổ trợ cho các doanh nghiệp

nghiệp tư nhân, hoạt động trong nhiều lĩnh vực ngành nghề, danh mục cung cấp
hàng hóa, dịch vụ đa dạng. Loại hình DNVVN bao gồm chủ yếu các công ty trách
nhiệm hữu hạn và các công ty cổ phần của khu vực tư nhân tập trung vào một số
lĩnh vực như chế biến nông – lâm - thuỷ - hải sản; gia công may mặc; sản xuất giày
dép; linh kiện thiết bị điện tử; làm uỷ thác cho các doanh nghiệp lớn hoặc gia công
cho các công ty nước ngoài.
 Nhờ quy mô nhỏ gọn, mô hình tổ chức quản lý sản xuất đơn giản nên các
doanh nghiệp này có lợi thế là rất linh hoạt, dễ chuyển hướng sản xuất kinh doanh,
có khả năng nắm bắt cả những nhu cầu nhỏ lẻ của các khách hàng mang tính khu
vực, địa phương. Dễ thay đổi cơ cấu sản phẩm để phù hợp với đòi hỏi của thị
trường
 Khác với các doanh nghiệp lớn, DNVVN bước đầu đi vào sản xuất kinh
doanh cần một lượng vốn đầu tư ban đầu ít, có thể thu hồi vốn nhanh. Yêu cầu về
vốn bổ sung và thiệt hại khi thay đổi tài sản cố định không nhiều nên có thể nhanh
chóng đổi mới công nghệ khi cần thiết.
 Tuy hầu hết các DNVVN không đủ tài sản thế chấp, cầm cố vay vốn
ngân hàng nhưng tài sản bảo đảm cho khoản vay chủ yếu là tài sản cá nhân hoặc tài
sản của chủ doanh nghiệp nên trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với khoản nợ
ngân hàng cao.
 Mặc dù số lượng lớn và tăng nhanh trong thời gian gần đây song quy mô
của hầu hết là rất nhỏ, phần lớn lại mới được thành lập trong vòng khoảng gần chục
năm trở lại đây, nhất là sau khi có Luật Doanh nghiệp ra đời, nên DNVVN ít kinh
nghiệm kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh cao, năng suất lao động thấp.
 Tình trạng chung và hầu hết của các DNVVN hiện nay là: Hạn chế trong
tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức; Trình độ khoa học công nghệ, tay nghề lao
động, trình độ quản lý còn thấp; Thiếu thông tin, thiếu thị trường, quan hệ kinh
doanh hạn hẹp; Sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa thấp, khó tiêu thụ sản phẩm,

theo một số tiêu thức chính sau:
1.2.1.1 Theo phương thức cho vay
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó, ngân hàng
thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi trội trên số dư tài khoản
thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian xác
định, phù hợp với các qui định của NHNN về hoạt động thanh toán qua các tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
Phương thức cho vay này dựa trên cơ sở thu chi của khách hàng không phù
hợp về thời gian và qui mô. Đây là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, đơn giản,
không có đảm bảo nên phần lớn chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy
cao, thu nhập đều đặn, kỳ thu nhập ngắn.
- Cho vay từng lần: Theo phương thức này doanh số cho vay không vượt quá
số tiền cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ( HĐTD). Mỗi lần vay vốn,
khách hàng và ngân hàng làm thủ tục vay vốn và ký kết HĐTD.
Đây là hình thức tín dụng phù hợp với các khách hàng không có nhu cầu
thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Nghiệp vụ cho
vay từng lần khá đơn giản, ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt. Số
tiền cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay được xác định trên cơ sở dự án,
phương án, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tào
sản bảo đảm tiền vay, nguồn trả nợ và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng vay.
- Cho vay theo hạn mức cho vay: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân
hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức cho vay là mức dư
nợ tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định.
Theo phương thức cho vay này, dư nợ cho vay không vượt quá hạn mức cho
vay đã thỏa thuận trong HĐTD. Áp dụng đối với các khách hàng đủ điều kiện vay
vốn, sản xuất kinh doanh ổn định, mặt hàng đa dạng, có quan hệ vay vốn thường
xuyên và có mức độ tín nhiệm cao về sử dụng vốn vay.

- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành thẻ: Là việc ngân hàng chấp nhận
cho khách hàng sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức cho vay để thanh tóan tiền
mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền
mặt đại lý của ngân hàng.
- Cho vay hợp vốn: Là việc ngân hàng cùng với một hoặc một số tổ chức tín
dụng hoặc chi nhánh của tổ chức tín dụng khác thực hiện việc cho vay một hoặc
một phần dự án, phương án, trong đó, ngân hàng có thể là tổ chức đầu mối hoặc
thành viên cho vay hợp vốn theo quy chế đồng tài trợ của NHNN.
- Cho vay theo các phương thức khác: Tùy theo nhu cầu của khách hàng và
thực tế phát sinh, ngân hàng sẽ xem xét cho vay theo các phương thức khác phù hợp
với đặc điểm hoạt động trong từng thời kỳ và không trái với qui định của pháp luật.
1.2.1.2 Theo thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu
nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc, lãi trong hạn, lãi phạt quá hạn và phí
( nếu có) đã được thỏa thuận trong HĐTD. Việc xác định thời hạn cho vay phụ
thuộc vào nhu cầu vay vốn, khả năng trả nợ và thời gian sử dụng còn lại của tài sản
đảm bảo.
Việc phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì có
thời hạn cho vay có liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của khỏan cho
vay. Được chia thành:
- Cho vay ngắn hạn: thời hạn cho vay đến 12 tháng.
Cho vay ngắn hạn nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động hoặc nhu cầu sử
dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất. Ngân hàng có thể áp
dụng cho vay trực tiếp, gián tiếp, cho vay theo hạn mức, cho vay theo món vay, cho
vay có hoặc không có tài sản đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi, hoặc
luân chuyển.
- Cho vay trung hạn: thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng.
- Cho vay dài hạn: thời hạn cho vay trên 60 tháng.
Đối với doanh nghiệp, vốn kinh doanh chủ yếu dựa vào vay vốn các tổ chức
tín dụng và vốn cổ phần. Tuy nhiên, để phát hành cổ phiếu, trái phiếu đòi hỏi doanh
nghiệp phải có qui mô lớn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả và có uy tín trên thị
trường, hơn nữa thị trường vốn của chúng ta hiện chưa hoàn chỉnh, hệ thống tổ chức
tài chính trung gian chưa đủ mạnh Do đó, có thể nói tín dụng là một “kênh” chủ
yếu để cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là DNVVN. Đây là một lợi thế
để các ngân hàng đẩy mạnh cho vay ngắn hạn DNVVN.
Vốn vay ngắn hạn ngân hàng giúp DNVVN có chu kỳ hoạt động kinh doanh
liên tục. Vòng quay vốn lưu động được tính từ thời điểm DN vay vốn ngân hàng,
đầu tư và sản xuất, cho đến khi bán hết hàng và trả được nợ cho ngân hàng và lại có
thể tiếp tục vay vốn đầu tư cho chu kỳ sản xuất tiếp theo, đảm bảo chu kỳ sản xuất
kinh doanh được liên tục, không ảnh hưởng đến quá trình cung cấp sản phẩm ra thị
trường, giúp không bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh của
DNVVN. Vòng quay vốn lưu động thường ngắn nên vay ngắn hạn ngân hàng là phù
hợp với DNVVN.
1.2.2.2 Các vấn đề liên quan đến việc cho vay ngắn hạn
Điều kiện vay vốn ngắn hạn: Khách hàng được ngân hàng cho vay khi đáp
ứng đủ các điều kiện sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo quy định của pháp luật.
- Có dự án, phương án khả thi, có hiệu quả, có khả năng trả nợ và phù hợp
với quy định của pháp luật.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Khách hàng
phải có năng lực tài chính, cơ cấu tài chính hợp lý, đảm bảo tính thanh khoản và ổn
định đến thời điểm vay vốn.
- Tại thời điểm cho vay (i) không còn nợ xấu nội bảng (trừ nợ khoanh và nợ

cùng điều kiện vay vốn như nhau, khách hàng sẽ có xu hướng vay ở nơi nào có lãi
suất thấp; nhưng về phía các ngân hàng luôn muốn đầu tư vào những dự án có thu
nhập cao hơn, điều đó đồng nghĩa với lãi suất cho vay càng cao càng tốt. Vì thế,
ngân hàng nên chú ý đưa ra mức lãi suất hấp dẫn để thu hút nhiều hơn các khách
hàng tìm đến với mình, nhưng đồng thời cũng phải tạo ra thu nhập tốt hơn cho ngân
hàng.
Giải ngân và thu nợ: Việc giải ngân được thực hiện tùy theo phương thức
cho vay cụ thể, và được ghi trong hợp đồng tín dụng ( HĐTD). Việc thu nợ gốc và
thu nợ lãi được tiến hành theo thỏa thuận trong HĐTD, khách hàng phải chủ động
trả nợ khi đến hạn và có thể trả nợ trước hạn.
1.2.2.3 Quy trình cho vay
Mỗi ngân hàng cho vay tự thiết kế cho mình môt quy trình nghiệp vụ tùy
thuộc vào nhiều yếu tố như: khả năng tổ chức quản lý, đặc điểm của khách hàng…
tuy nhiên, chúng đều có những công việc chính như:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ và thu thập các thông tin về khách hàng.
Một khoản cho vay thường được bắt đầu từ cuộc tiếp xúc giữa cán bộ tín
dụng (CBTD) với khách hàng có nhu cầu vay vốn. Qua đó, CBTD tìm hiểu về lý do
xin vay, nhu cầu tín dụng của khách hàng. Trong quá trình này, khách hàng cũng
được hướng dẫn về các thủ tục và hồ sơ vay vốn cần cung cấp cho CBTD.
Bộ hồ sơ vay vốn của khách hàng bao gồm:
- Giấy đề nghị vay vốn: do khách hàng lập theo mẫu in sẵn của ngân hàng.
Trình bày nhu cầu vay một cách khái quát, như: mục đích vay, nhu cầu vốn vay,
thời hạn vay, lãi suất, biện pháp bảo đảm tiền vay.
- Hồ sơ pháp lý: bao gồm các tài liệu chứng minh về năng lực pháp lý, năng

xét nguồn và chất lượng số liệu của doanh nghiệp đã cung cấp, uy tín của doanh
nghiệp trong quan hệ với các đối tác và các tổ chức tín dụng, tính hợp lý của khoản
vay.
- Kiểm tra các nội dung có liên quan đến phương án vay vốn và trả nợ, như:
sự cần thiết của khoản vay, điều kiện để thực hiện, các số liệu làm căn cứ cho dự
tinh thu nhập của phương án vay vốn, tài sản bảo đảm tiền vay (số lượng, ký mã
hiệu, chất lượng, tình trạng, nơi đặt để).
Bước 2: Thẩm định khách hàng và phương án vay vốn – trả nợ, lập báo
cáo thẩm định.
CBTD có thể tiến hành thẩm định khách hàng và phương án vay vốn ngay
khi tiếp xúc với khách hàng vay. Căn cứ vào các thông tin đã được tổng hợp, CBTD
đánh giá để xác định xem khách hàng có đủ điều kiện vay theo quy định không, từ
đó đưa ra ý kiến về việc cho vay đối với khách hàng.
- Thẩm định phi tài chính: làm rõ các vấn đề về tư cách pháp nhân, điạ vị
pháp lý; cách thức, khả năng, kinh nghiệm tổ chức quản lý và điều hành; uy tín của
khách hàng và người lãnh đạo doanh nghiệp; uy tín, lợi thế kinh doanh và các thông
tin phi tài chính khác như: quan hệ với các tổ chức tín dụng …
- Phân tích hiện trạng và triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp trong
tương lai: nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại của
doanh nghiệp và xu hướng phát triển trong tương lai: tình hình sản xuất ( các điều
kiện sản xuất, máy móc thiết bị, quản lý tổ chức sản xuất, kết quả sản xuất); tình
hình tiêu thụ và uy tín của sản phẩm ( doanh thu, giá bán, khách hàng, chính sách và
biện pháp tiêu thụ, tiêu chuẩn quản lý chất lượng, thương hiệu…); triển vọng của
ngành kinh doanh ( xu hướng phát triển của ngành, cạnh tranh trong ngành, công
nghệ, chính sách của Chính phủ, vị thế của doanh nghiệp…).
- Phân tích tình hình tài chính: trên cơ sở các báo cáo tài chính và các thông
tin khác thu lượm được, CBTD sẽ căn cứ vào các chuẩn mực đã được xây dựng của

Định kỳ, CBTD yêu cầu khách hàng gửi báo cáo tài chính vừa đánh giá tình
hình sử dụng vốn vay, vừa xem xét các nhu cầu mới của khách hàng về các dịch vụ
ngân hàng. Các khoản cho vay nếu có dấu hiệu đáng ngờ đều được xem xét cẩn
thận để có biện pháp xử lý kịp thời.
Kết thúc một khoản cho vay, CBTD cần có những tổng kết và lưu trữ thông
tin để có thể sử dụng khi cần thiết.
1.2.3 Mở rộng cho vay ngắn hạn đối với DNVVN
Mở rộng cho vay ngắn hạn đối với DNVVN được hiểu là việc NHTM gia
tăng số lượng khách hàng là các DNVVN, tăng doanh số cho vay ngắn hạn, tăng dư
nợ cho vay ngắn hạn, tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn đối với các DNVVN trong cơ
cấu tín dụng của ngân hàng.
Phát triển DNVVN đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất chú trọng,
được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của nước ta. Trong tương lai, môi trường hoạt động của các doanh nghiệp
này sẽ được cải thiện, các chính sách hỗ trợ sẽ được thực thi tốt hơn, có hiệu quả
hơn và do đó các DNVVN sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Các
DNVVN thực sự sẽ trở thành thị trường tiềm năng với các ngân hàng, nhất là khi ưu
thế của các DN lớn đang dần mất đi, do:
- Việt nam đang trong xu hướng xoá bỏ độc quyền, tạo lập môi trường cạnh
tranh bình đẳng. Trước sức ép của hội nhập, qui mô của một số Tổng Công ty đang
độc quyền hiện nay sẽ thu hẹp, song song với việc cổ phần hoá từng phần hoặc toàn
bộ các tổng công ty này thì các công ty mới, nhỏ hơn cùng ngành ra đời.
- Chính bản thân một số doanh nghiệp lớn hiện nay không có tiềm lực kinh tế
thực sự, điển hình là các Tổng Công ty khối Giao thông-Xây dựng cơ bản.
- Khu vực kinh tế Nhà nước, nơi tập trung hầu hết các doanh nghiệp lớn hiện
nay, đã và đang bộc lộ tính kém hiệu quả.
Việc ngân hàng mở rộng cho vay ngắn hạn đối với DNVVN là cần thiết và

ngân hàng.
 Doanh số cho vay đối với DNVVN
Doanh số cho vay là tổng lượng vốn mà ngân hàng đã giải ngân cho khách
hàng theo HĐTD trong một niên độ kế toán, thường là 1 năm. Doanh số cho vay là
chỉ tiêu phản ánh quy mô tín dụng, khi doanh số cho vay tăng lên đồng nghĩa với
việc quy mô tín dụng tăng.
 Dư nợ cho vay ngắn hạn đối với DNVVN
Dư nợ cho vay là lượng vốn ngân hàng đã giải ngân cho các khoản vay mà
khách hàng còn nợ ngân hàng tại một thời điểm cụ thể.
Đây là chỉ tiêu thường được sử dụng để phản ánh quy mô cũng như sự
tăng trưởng tín dụng, đánh giá tình hình sử dụng vốn của ngân hàng tại một thời
điểm nhất định.
 Tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn trong tổng dư nợ cho vay đối với
DNVVN.
Qua chỉ tiêu này có thế đánh giá việc mở rộng hay thu hẹp hoạt động cho vay
ngắn hạn của ngân hàng đối với DNVVN.
 Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn
hoàn trả được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Chỉ tiêu nợ quá hạn phản ánh
mức độ an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
Ngân hàng thực hiện mở rộng cho vay ngắn hạn đối với DNVVN nhưng nếu
nợ quá hạn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ cho vay ngắn hạn đối với DNVVN
chứng tỏ hoạt động mở rộng cho vay đối với nhóm khách hàng này tiềm ẩn nhiều
rủi ro, cần phải thực hiện thẩm định kỹ khả năng trả nợ của khách hàng, định giá
đúng tài sản bảo đảm, thực hiện kiểm tra, kiểm soát khoản cho vay chặt chẽ hơn.
1.2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay ngắn hạn đối với DNVVN
Những nhân tố khách quan:

thiếu đồng bộ sẽ gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như
hoạt động của ngân hàng.
+ Chính sách ưu đãi đối với DNVVN: Ở Việt Nam, với xuất phát điểm thấp,
nền kinh tế đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa thì việc phát triển
DNVVN là phù hợp và rất cần thiết. Nhận thức được vai trò của các DNVVN trong
nền kinh tế thị trường hiện nay, Chính phủ đã có rất nhiều những biện pháp nhằm
hỗ trợ thêm cho các DNVVN. Đây là một trong những lợi thế của DNVVN, vì
chính sách tín dụng của các NHTM thường tính đến các ưu đãi của Chính phủ đối
với các khách hàng vay vốn.
- Các nhân tố bất khả kháng: DNVVN hoạt động chủ yếu trong một số lĩnh
vực như: chế biến nông – lâm - thủy – hải sản, gia công may mặc, …trong quá trình
sản xuất kinh doanh có thể phải chịu những tổn thất do những yếu tố bất khả kháng
như thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn… làm suy giảm thậm chí là mất khả năng trả nợ
ngân hàng. Điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động mở rộng cho vay của ngân hàng.
Những nhân tố chủ quan:
- Nhóm nhân tố chủ quan từ phía NHTM:
+ Qui mô, kết cấu, tính ổn định của các khoản tiền gửi, khả năng vay mượn
của ngân hàng, qui mô vốn chủ sở hữu…ảnh hưởng rất lớn đến khả năng mở rộng
cho vay ngắn hạn đối với DNVVN. Nếu vốn chủ sở hữu lớn, ngân hàng có thể theo
đuổi chính sách tín dụng mạo hiểm hơn, nghiêng về tìm kiếm lợi nhuận, ngân hàng
sẽ cho vay nhiều hơn. Tính ổn định của nguồn tiền gửi sẽ là một yếu tố quan trọng
trong việc ngân hàng quyết định cho vay ngắn hạn nhiều hơn hay cho vay trung và
dài hạn nhiều hơn. NHTM là tổ chức kinh doanh tiền gửi, chủ yếu là tiền gửi ngắn
hạn. Để đảm bảo tính thanh khoản, các ngân hàng thường chủ yếu cho vay ngắn
hạn.
+ Chi phí quản lý các món vay của DNVVN cao hơn nhiều so với các đối
tượng khác: do khoản vay ngắn hạn là các món vay nhỏ, nhưng để hạn chế rủi ro,

+ Chính sách lãi suất: Là một trong những yếu tố quyết định đến việc mở
rộng cho vay ngắn hạn. Trong thời điểm Chính phủ đang chủ trương thực hiện các
chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát đã khiến các NHTM lao vào
cuộc cạnh tranh lãi suất gay gắt như hiện nay, việc đưa ra một chính sách lãi suất
hợp lý sẽ giúp cho NHTM vẫn có thể mở rộng cho vay ngắn hạn.
+ Hệ thống chi nhánh, mạng lưới của ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh:
Để tiết kiệm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp và chi phí quản lý khoản cho vay
của ngân hàng, thì việc phát triển mạng lưới chi nhánh của ngân hàng chiếm vai trò
rất quan trọng. Do đặc điểm của DNVVN là phân bố rộng và phân tán nên nếu ngân
hàng có một hệ thống chi nhánh, mạng lưới rộng khắp thì không chỉ có khả năng
huy động hết nguồn tiền nhàn rỗi từ người dân và doanh nghiệp, mà còn là điều
kiện để ngân hàng mở rộng cho vay ngắn hạn đối với DNVVN.
+ Các qui định về tài sản thế chấp: Những qui định quá khắt khe về tài sản
thế chấp, các phương pháp định giá tài sản thế chấp chưa rõ ràng của ngân hàng đã
làm cho nhiều DNVVN không thể đáp ứng được khi có nhu cầu vay vốn.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hầu hết các ngân hàng đều muốn mở
rộng cho vay nhằm thu lợi nhuận. Vì vậy, để có chiến lược mở rộng cho vay ngắn
hạn đối với DNVVN đem lại lợi ích cao nhất, có sức cạnh tranh cao nhất, ngân hàng
cần có thông tin về chiến lược kinh doanh của các ngân hàng là đối thủ cạnh tranh.
- Nhóm nhân tố do chủ quan từ phía DNVVN:
Các DNVVN gặp khó khăn trong việc tiếp cận các khoản vay ngân hàng,
trong đó có các khoản vay ngắn hạn, một phần là do các doanh nghiệp này không có
khả năng, thể hiện:
+ Khả năng lập dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh còn rất
hạn chế: Mặc dù môi trường kinh doanh cho các DNVVN đã và đang được cải
thiện trong những năm gần đây, song các doanh nghiệp này vẫn còn gặp nhiếu khó
khăn và rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh về thị trường, sản phẩm…Hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status