Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh NHCT hoàn kiếm –thực trạng và giải pháp - Pdf 94

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam cũng như ở các nước trên toàn thế giới, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ đang ngày càng khẳng định vai trò của mình với nền kinh tế- xã hội.
Theo thống kê, các DNNVV chiếm tới 96% tổng số doanh nghiệp trong cả
nước, đóng góp hơn 28% GDP và thu hút được một lực lượng lao động đáng
kể, tạo nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác những
tiềm năng trong dân cư. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp này vẫn phải đối mặt
với nhiều khó khăn, vướng mắc cần giải quyết, mà một vấn đề nổi cộm là
nguồn vốn để các DNNVV phát triển. Khi các doanh nghiệp này cần vốn, họ
thường huy động từ các nguồn như các cá nhân, doanh nghiệp khác, gia đình
bạn bè và một nguồn vốn rất quan trọng là từ các NHTM. Các NHTM đóng
vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp.
Nhưng bên cạnh đó, việc ngân hàng cho các doanh nghiệp vay vốn ngày càng
tăng cũng cần đòi hỏi nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay để hoạt động
kinh doanh của ngân hàng phát triển bền vững.
Nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động cho vay ngân hàng đối
với các DNNVV cũng như qua khảo sát thực tế về tình hình cho vay tại chi
nhánh NHCT Hoàn Kiếm trong thời gian thực tập, em đã mạnh dạn chọn đề
tài cho luận văn tốt nghiệp của mình là: “ Nâng cao hiệu quả hoạt động cho
vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm –
Thực trạng và giải pháp”.
1
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả cho vay DNNVV
của ngân hàng thương mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả cho vay DNNVV tại NHCT
Hoàn Kiếm trong thời gian qua.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay DNNVV tại
NHCT Hoàn Kiếm.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Hiện nay ở mỗi nước, tuỳ theo đặc điểm và mô hình phát triển kinh tế
của nước mình mà đưa ra những định nghĩa và các tiêu chí khác nhau để xác
định khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở Việt Nam, phân loại doanh
nghiệp theo hai tiêu thức phổ biến đó là lao động thường xuyên và vốn sản
xuất. Khái niệm DNVVN lần đầu tiên được đưa ra theo công văn số 861/CP-
KTN ban hành ngày 20/0601998. Theo đó, DNVVN được tạm thời quy định
là “ Những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động
trung bình hàng năm dưới 200 người”. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển
chung của nền kinh tế đất nước, khái niệm này đã tỏ ra không còn phù hợp.
Để đáp ứng đòi hỏi của thực tế, Ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 90/2001/NĐ_CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ, theo đó đã định nghĩa:
“Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã
đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng kí kinh doanh
không quá 10 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm không quá 300
người”.
Theo quy định trong nghị định 90/CP thì các DNNVV bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp:
Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty hợp danh và doanh
nghiệp tư nhân.
4
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà
nước: các doanh nghiệp Nhà nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP
ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.
Theo định nghĩa và cách đánh giá này thì ở nước ta hiện nay có tới 75%
số doanh nghiệp Nhà nước bao gồm: hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, và hầu hết( trên 90%) số doanh
nghiệp này đều thuộc diện doanh nghiệp vừa và nhỏ.DNVVN đang dần trở

chóng. Để thành lập một doanh nghiệp với quy mô vừa và nhỏ chỉ cần số vốn
đầu tư ban đầu tương đối ít, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng
không quá lớn. Chính vì thế mà số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng rất
nhanh và chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Thứ hai: Với lợi thế quy mô vừa và nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, cơ sở
vật chất kỹ thuật không quá lớn, dễ dàng chuyển hướng trong kinh doanh, linh
hoạt hơn trong việc cải tiến thay đổi và tạo ra sản phẩm mới, nhanh chóng đáp
ứng nhu cầu thị trường. Và khi thị trường có những thay đổi bất lợi nó dễ
dàng thu hẹp quy mô sản xuất để thích ứng mà không gây ra hậu quả lớn cho
xã hội.
Thứ ba: Các DNNVV hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô nhỏ lẻ
và địa bàn hoạt động phân tán rộng khắp trên các vùng và miêb lãnh thổ của
đất nước. Từ đó có thể tận dụng tối đa các lợi thế về nguồn nguyên liệu và
nhân lực ở từng địa phương.
6
Thứ tư: Đa dạng hoá về hình thức sở hữu, lĩnh vực kinh doanh.Nhưng do
tính lịch sử của quá trình hình thành và phát triển các thành phần kinh tế ở
nước ta, đại bộ phận các DNNVV theo quy định hiện hành đều thuộc khu vực
ngoài quốc doanh.
Thứ năm: Tính chủ động và trách nhiệm của chủ doanh nghiệp cao: hầu
hết người điều hành doanh nghiệp đông thời là chủ sở hữu. Vì vậy , họ hoàn
toàn có quyền chủ động trước mọi quyết định kinh doanh của doanh nghiệp,
đảm bảo tính nhanh nhậy với thị trường.
Thứ sáu: Các DNNVV có quy mô vốn nhỏ thường không đáp ứng đựoc
điều kiện tham gia thị trường chứng khoán. Vì vậy, bên cạnh vốn chủ sở hữu,
nguồn vốn cho hoạtt động sản xuất kinh doanh chủ yếu được huy động từ hai
nguồn: nguồn thứ nhất và chiếm tỷ trọng lớn vẫn từ nguồn vốn vay ngân
hàng, nguồn thứ hai là từ gia đình, bạn bè.
Thứ bảy: Khả năng canh tranh của các doanh nghiệp này còn thấp do
hạn chế về vốn, về trình độ, công nghệ, phương thức quản lý, khả năng tiếp

thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, trong mọi thành phần
kinh tế) DNNVV có thể sử dụng nguồn lao động dồi dào ở mọi nơi, ở mọi
trình độ, vì vậy những người có chuyên môn không cao vẫn có thể tìm được
việc làm thích hợp với khả năng của mình. Điều này đặc biệt có y nghĩa quan
trọng trong nền kinh tế, bởi DNNVV không chỉ giải quyết việc làm cho các
lao động có trình độ mà còn cả các lao động thủ công, có trình độ thấp và
chưa được đào tạo hiện đang chiếm tỷ trọng lớn ở Việt Nam hiện nay. Ngoài
8
ra, khi đổi mới sắp xếp lại DNNN ước đoán sẽ giảm số lượng lao động trong
khu vực này trong tương lai. Do đó, khu vực tư nhân sẽ đóng góp đáng kể vào
việc tạo thêm việc làm cho bộ phận lao động này.
Ba là: DNNVV góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo ngành, khu vực và thành phần kinh tế, tạo một cơ cấu kinh tế hợp
lý.óp
Với tính chất đa ngành nghề, khu vực doanh nghiệp này khu vực doanh
nghiệp này làm cho nền kinh tế trở nên đa dạng và phong phú hơn, các doanh
nghiệp được phân bổ đều hơn giữa các vùng lãnh thổ từ nông thôn đến thành
thị, từ miền núi đến đồng bằng làm thay đổi cơ cấu ngành kinh tế. Ngoài ra,
xét trong khu vực kinh tế nông thôn, các doanh nghiệp này góp phần phát triển
công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xoá dần tình trạng thuần nông và độc
canh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Bốn là: Đây là bộ phận có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất,
lưu thông hàng hoá, cung ứng dịch vụ, là các vệ tinh gắn kết, hỗ trợ và thúc
đẩy sự phát triển của các DN lớn trong nền kinh tế.
Có thể nói, Doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng đóng vai trò quan trọng
và trở thành động lực tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế. Phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất coi trọng, được
coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội .Đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam hội nhấp như hiện nay. Theo
Nghị định số 90/2001/NĐ- CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về việc trợ

10
thường ở các nước nghiệp vụ này mang lại 2/3 thu nhập cho các ngân hàng.
Còn ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thu nhập từ hoạt động tín dụng mang
lại chiếm tới 90% tổng thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên theo những số liệu
thống kê cho thấy đây là cũng là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong hoạt
động của hệ thống NHTM. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay có ý
nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Vậy
làm thế nào để đánh giá được hoạt động cho vay của một ngân hàng là có hiệu
quả hay không, để từ đó tìm ra biên pháp nâng cao hiệu quả cho vay. Trước
hết phải hiểu thế nào là hiệu quả hoạt động cho vay:
“Hiệu quả hoạt động cho vay là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng (ở
đây nhà nước, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, và đáp ứng
đầy đủ kịp thời vốn cho nhu là các DNNVV) về vốn vay phù hợp với định
hướng phát triển kinh tế của địa phương cũng như của cầu vay vốn hợp lý
của doanh nghiệp cũng như tạo tâm lý thoải mái cho họ trong và sau khi
giao dịch với ngân hàng.
Một khoản cho vay được coi là có hiệu quả phải đáp ứng được rất nhiều
các tiêu chí của các chủ thể tham gia hoạt động nay. Tham gia vào quan hệ tín
dụng của NHTM có ba chủ thể: bản thân ngân hàng thương mại, doanh
nghiệp và nền kinh tế.
+ Đối với toàn bộ nền kinh tế: hoạt động cho vay có hiệu quả khi nó góp
phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tạo ra sự ổn định, lưu thông tiền
tệ. Khoản vay hiệu quả còn phải xem xét thêm ở những yếu tố như: công ăn
việc làm, lợi ích xã hội…. của chính khoản vay đó đem lại hoặc thực hiện các
chính sách của Nhà nước như thay đổi cơ cấu ngành, vùng…
11
+ Đối với khách hàng: một khoản vay có hiệu quả là khoản vay đáp ứng
được đầy đủ nhu cầu về vốn, thời gian cho hoạt động sản xuất kinh doanh cảu
khách hàng. Khoản vay đó được trả ngân hàng đầy đủ đúng hạn.
+ Đối với NHTM, một khoản vay có hiệu quả góp phần thực hiện mục

vốn. Vốn tự có của doanh nghiệp thường không đủ để tài trợ cho hoạt động
kinh doanh, nên doanh nghiệp thường phải huy động thêm vốn từ các nguồn
khác như là qua thị trường chứng khoán hoặc qua các trung gian tài chính.
Thị trường chứng khoán nước ta vẫn còn non trẻ, có nhiều biến động bất
thường nên không phải là kênh huy động an toàn cho doanh nghiệp. Bên cạnh
đó, các trung gian tài chính như các công ty tài chính, công ty bảo hiểm
chưa phát triển tại nước ta nên kênh huy động vốn thường xuyên hiện nay của
các doanh nghiệp là hệ thống NHTM.
Nhờ có vốn vay từ NHTM mà các doanh nghiệp có thể đổi mới máy móc
thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và cạnh
tranh trên thị trường. Hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, việc trả nợ các
khoản vay đến hạn được thực hiện nghiêm túc lại nâng cao hiệu quả cho vay
của NHTM.
13
* Đối với ngân hàng:
Cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có của ngân hàng
(thường từ 60%-70%). Hoạt động cho vay cũng là hoạt động mang lại lợi
nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Có thể nói rằng, ngân hàng khó có thể tồn tại
và phát triển nếu không có hoạt động cho vay. Chính vì lẽ đó, việc phải nâng
cao hiệu quả cho vay là một tất yếu khách quan mà bất cứ ngân hàng nào
cũng cần phải quan tâm để có thể cạnh tranh với các ngân hàng khác trên thị
trường.
Nâng cao hiệu quả cho vay với DNNVV đảm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp
thời vốn cho DNNVV, đồng thời với lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn
giản thuận tiện sẽ thu hút được nhiều khách hàng DNNVV. Việc phát triển
khách hàng DNNVV mang lại cho ngân hàng một số lợi ích sau:
+ Do số lượng khách hàng DNNVV lớn, quy mô từng khoản vay nhỏ, lại
đa dạng hoá về lĩnh vực nghành nghề kinh doanh, đa dạng hoá về địa bàn hoạt
động nên việc cho vay các đối tượng khách hàng này sẽ giúp ngân hàng đa
dạng hoá các danh mục cho vay, phân tán rủi ro.

1.3.1. Các chỉ tiêu định tính
* Về phía ngân hàng:
Thứ nhất, ngân hàng cần phải xây dựng một quy trình cho vay hợp lý và
thực hiện đúng theo quy trình này không bỏ qua bất kỳ một bước nào. Các
bước trong quy trình cho vay lần lượt là tiếp xúc khách hàng để thu thập và
15
xử lý thông tin, lập hồ sơ xin vay, thẩm định hồ sơ, thực hiện quyết định cho
vay, ký hợp đồng tín dụng, giải ngân, tổ chức giám sát khách hàng vay, và
cuối cùng là thu nợ (gốc và lãi).
Thứ hai, ngân hàng phải thực hiện phân tán rủi ro thông qua việc đa dạng
hoá các khoản vay bằng cách phân ra làm nhiều loại như khoản vay ngắn hạn,
trung hoặc dài hạn, khoản vay có TSĐB hoặc không có TSĐB , đa dạng hóa
các đối tượng khách hàng vay như cho vay các tổng công ty lớn, cho vay các
DN vừa và nhỏ, cho các cá nhân vay Như vậy vừa giúp cho ngân hàng giảm
thiểu rủi ro, vừa giúp đa dạng hoá các ngành nghề trong nền kinh tế.
Thứ ba, thủ tục cho vay, thái độ phục vụ khách hàng, trình độ của cán bộ
ngân hàng, khả năng quản lý của cán bộ cấp cao cũng là những chỉ tiêu để
đánh giá hiệu quả cho vay. Ngân hàng nào cũng hướng tới một thủ tục cho
vay đơn giản với thái độ phục vụ khách hàng chu đáo, nhiệt tình của một đội
ngũ cán bộ năng động, trẻ trung và kinh nghiệm.
* Về phía khách hàng:
Để một món vay có chất lượng cao ngoài sự cố gắng từ phía ngân hàng,
còn cần tới sự hợp tác của khách hàng xin vay. Sự hợp tác này thể hiện ở chỗ,
khách hàng cung cấp đầy đủ và chính xác những thông tin liên quan cho cán
bộ ngân hàng phân tích như báo cáo tài chính, báo cáo tổng hợp, những thông
tin về tình hình vay nợ trước đó , hoặc sau khi nhận được khoản vay thì sử
dụng nó đúng mục đích như đã thoả thuận.
* Về phía nhà nước
Các hợp đồng tín dụng muốn được thành lập nhanh chóng chỉ khi các
giấy tờ, thủ tục của cơ quan có thẩm quyền, uỷ ban các cấp được giải quyết

cho vay mà không đòi được nợ thì sẽ không trả được nợ cho khách hàng gửi
tiền cũng như cho những tổ chức, cá nhân khác mà ngân hàng đã vay tiền.
Điều đó sẽ dẫn tới uy tín của ngân hàng bị giảm sút, việc làm ăn sẽ kém hiệu
quả. Nếu tình trạng này kéo dài có thể sẽ dẫn đến việc ngân hàng bị phá sản.
1.3.2.3. Nợ xấu
Nợ xấu (NPL), theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005
của thông đốc NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý
rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD, là các khoản nợ thuộc
các nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có
khả năng mất vốn).
Tỷ lệ nợ xấu =
Đây là một tỷ lệ để đánh giá chất lượng cho vay. Cũng giống như Tỷ lệ
nợ quá han, tỷ lệ này càng thấp thì chất lương cho vay của ngân hàng càng
cao và ngược lại.
Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên, bên cạnh đó là
những khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn
đã cơ cấu lại.
1.3.2.4. Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng =
Tỷ lệ này cho ta biết, trong một thời gian nhất định, vốn tín dụng quay
được bao nhiêu vòng. Tỷ lệ này càng lớn càng tốt vì ngân hàng luôn mong
muốn tốc độ luân chuyển vốn nhanh vì nó chứng tỏ ngân hàng thu được nợ
18
nhanh và ngân hàng lại có thể sự dụng khoản tiền này để cho doanh nghiệp
khác vay, qua đó thu được nhiều tiền lãi, tức là làm gia tăng lợi nhuận. Mặt
khác, doanh nghiệp trả được nợ trong khoảng thời gian ngắn có nghĩa là
doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay có hiệu quả, việc sản xuất kinh doanh tốt.
1.3.2.5. Hiệu suất sử dụng vốn
Hiệu suất sử dụng vốn vay =
Hệ số này cho hay NHTM đã sử dụng bao nhiêu % vốn huy động được

khoản nợ một cách chặt chẽ, thu hồi được nợ đúng hạn, hạn chế rủi ro về khả
năng mất vốn Điều đó có nghĩa là chất lượng của khoản vay được nâng cao,
và doanh lợi của ngân hàng cũng được nâng cao.
1.4.1.3. Chất lượng cán bộ NHTM
Con người luôn là một yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển của
nền kinh tế và hoạt động ngân hàng không phải là ngoại lệ. Đặc biệt trong
thời buổi hiện nay, khi hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng, phức tạp,
phương tiện máy móc tiết bị ứng dụng trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng
hiện đại, nó đòi hỏi các cán bộ ngân hàng phải có trình độ chuyên môn giỏi,
phải có khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại một cách nhanh nhạy,
không những thế cán bộ ngân hàng ngoài lĩnh vực ngân hàng còn phải am
hiêu những lĩnh vực khác liên quan tới doanh nghiệp cho vay, từ công nghiệp,
nông nghiệp tới dịch vụ. Có như vậy mới có khả năng đánh giá chính xác, đầy
20
đủ về khách hàng xin vay, về phương án, dự án vay vốn cảu khách hàng, từ
đó mới ra quyết định cho vay chính xác, tránh những sai phạm có thể xảy ra.
Trình độ của cán bộ nhân viên ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp tới chất
lượng hoạt động cho vay.
1.4.1.4. Cách thức quản lý của NHTMtừ đó nâng cao hiệu quả cho vay
của ngân hàng
21
1.4.1.5. Thiết bị công nghệ NHTM sử dụng
Nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng liên tục ứng dụng
những thiết bị công nghệ hiện đại tiên tiến để có thể cạnh tranh và tồn tại
trong thị trường khốc liệt. Mọi ngân hàng đều đang cố gắng nỗ lực trong việc
cải tiến công nghệ vì công nghệ tiên tiến sẽ giúp ngân hàng nắm bắt được tình
hình thị trường cũng như là tình hình khách hàng một cách nhanh nhất để từ
đó có thể đưa ra những chiến lược hợp lý, những chính sách phù hợp và kịp
thời nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Đặc biệt, ngân
hàng nào cũng chú trọng phát triển hệ thống thông tin khách hàng vì thông

tới chất lượng cho vay của NHTM.
1.4.2. Nhân tố khách quan
1.4.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng từ phía khách hàng
* Thiện chí của khách hàng trong việc trả nợ cho ngân hàng:
Đây là một nhân tố có ảnh hưởng lớn tới chất lượng của khoản vay.
Khách hàng phải có thiện chí trả nợ thì lúc đó mới cung cấp đầy đủ và trung
thực mọi thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp mình, cũng như là sử dụng vốn vay đúng với mục đích như đã thoả
thuận trong hợp đồng. Chỉ khi doanh nghiệp chịu hợp tác với ngân hàng thì
ngân hàng mới đảm bảo chất lượng cho vay, nếu không, dù hợp đồng cho vay
có chặt chẽ thế nào thì cũng không đảm bảo được an toàn cho khoản vay của
ngân hàng.
23
* Tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng là doanh nghiệp:
Đây là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của khoản vay. Nếu
như khách hàng làm ăn thuận lợi thì khả năng trả nợ được cho ngân hàng là
rất lớn và ngược lại nếu khách hàng làm ăn thua lỗ, khả năng không trả nợ
được cho ngân hàng là rất lớn, ngân hàng có thể phải gia hạn thêm nợ hoặc
phải đưa vào nợ quá hạn, thậm chí là nợ khó đòi. Như vậy, ngân hàng luôn
chú trọng xem xét tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong một thời kỳ nhất định trước khi đưa ra quyết định cho vay.
* Năng lực và trình độ quản lý của khách hàng:
Nhà quản lý doanh nghiệp đóng vai trò quyết định trong hoạt động kinh
doanh nghiệp, tới sự phát triển của doanh nghiệp. Nhà quản lý tài ba sẽ cho ra
những quyết định chính xác nên quyết định đầu tư vào đâu, từ đó sẽ cho ra
đời những phương án, dự án kinh doanh khả thi với chất lượng tốt. Nếu dùng
vốn vay ngân hàng để đầu tư cho phương án thì tất nhiên chất lượng của
khoản vay sẽ cao. Bên cạnh đó nhà quản lý phải là người có khả năng đưa ra
quyết định nhanh chóng, kịp thời và linh hoạt mới giúp cho hoạt động của
doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, tức là doanh nghiệp có khả năng trả nợ ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status