Nghiên cứu mô hình
định giá thương hiệu
(Phần cuối)
Tiếp theo phần 2
Khi mà cạnh tranh toàn cầu ngày càng trở nên khắc nghiệt và nhiều lợi thế
cạnh tranh như công nghệ có chu kỳ sống ngày càng ngắn hơn thì mức độ
đóng góp của thương hiệu vào giá trị cổ đông sẽ ngày càng gia tăng. Các nhà
quản lý sẽ muốn thiết lập nên nhiều hệ thống quản lý thương hiệu trên cơ sở
giá trị để có thể kết nối quá trình quản lý tài sản thương hiệu với các tài sản
khác của doanh nghiệp.
4.2.4 Tiếp cận trên cơ sở kinh tế học
Các cách tiếp cận trước đây đơn thuần chỉ dựa vào việc nghiên cứu thị
trường hoặc các số liệu tài chính sẽ không thể nào đánh giá được một cách
hoàn chỉnh và chính xác giá trị kinh tế của thương hiệu. Phương pháp tiếp
cận dưới góc độ kinh tế học được phát triển đầu tiên vào năm 1988, kết hợp
các nguyên tắc về tài chính và marketing trong việc định giá. Phương pháp
này đã được chấp nhận một cách rộng rãi và sử dụng để định giá trên 3500
thương hiệu khác nhau trên toàn thế giới.
Nguyên tắc marketing liên quan đến chức năng thương mại mà thương hiệu
thực hiện trong doanh nghiệp. Đầu tiên, thương hiệu góp phần tạo ra sức cầu
trong tiêu dùng. Người tiêu dùng có thể là các khách hàng cá nhân hoặc
khách hàng doanh nghiệp căn cứ vào bản chất của doanh nghiệp hoặc sức
cầu hiện tại. Sức cầu tiêu dùng sẽ chuyển thành doanh số thông qua việc
mua hàng ở số lượng, giá cả và tần suất mua nhất định. Thứ hai, thương hiệu
góp phần duy trì sức cầu trong dài hạn thông qua việc giữ chân các khách
hàng cũ và việc tái mua hàng của họ.
Nguyên tắc tài chính liên quan đến việc ước lượng khoản thu nhập mong đợi
trong tương lai và quy nó về hiện giá (NPV), một khái niệm được sử dụng
rộng rãi trong kinh doanh. Các khoản thu nhập tương lai của thương hiệu sẽ
được nhận diện và chiết khấu về hiện giá với tỷ suất chiết khấu phản ảnh
mức độ rủi ro của khoản thu nhập này.
sức mạnh thương hiệu”). Điều này đòi hỏi một khối lượng công việc đồ sộ
bao gồm việc xác định cấu trúc và phân hạng thị trường của thương hiệu,
tính ổn định, vị trí dẫn đầu, vị trí tiên phong, xu hướng tăng trưởng, hỗ trợ,
sự bảo hộ của luật pháp.
Bước 5: Xác định giá trị của thương hiệu (Xem thêm file đính kèm: Brand
Valuation.xls)
Giá trị của thương hiệu là hiện giá (NPV) của tất cả các khoản thu nhập kỳ
vọng của thương hiệu trong tương lai, chiết khấu tại mức tỷ suất chiết khấu
thương hiệu. Quá trình tính toán NPV bao gồm cả giai đoạn dự báo và giai
đoạn sau đó, phản ảnh khả năng của thương hiệu trong việc liên tục tạo ra
thu nhập trong tương lai. Bảng 1 đưa ra giả thiết trong việc định giá thương
hiệu tại một phân khúc thị trường.
Mô hình tính toán này là rất hữu dụng trong nhiều tình huống như:
Dự đoán hiệu quả của các chiến dịch marketing và đầu tư
Xác định và đánh giá ngân sách truyền thông
Tính toán các khoản lợi nhuận có được từ đầu tư vào thương hiệu
Đánh giá các cơ hội ở thị trường mới hoặc thị trường đang khai thác
Theo dõi tiến trình quản lý giá trị của thương hiệu
Bảng 1:
Nội dung
Thôn
g số
Năm 01 Năm 02 Năm 03 Năm 04 Năm 05
Tổng thị
trường
250,000,000
258,750,00 267,806,25 277,179,46 286,880,75
(Đơn v
Doanh
thu từ t
ài
sản vô
hình
375,000,000
450,871,87
5
531,983,72
5
621,341,17
2
625,326,63
1
Giá vốn
hàng bán
150,000,000
180,348,75
0
212,793,49
0
248,536,46
9
250,130,65
3
Lợi
nhuận
gộp
31,067,059
31,266,332
Chi phí
3,750,000 4,508,719 5,319,837 6,213,412 6,253,266
phân b
ổ
EBITA
(Thu
nhập
trước l
ãi,
thuế, và
giảm trừ)132,162,500
158,932,33
5
187,524,26
3
219,022,76
2
220,427,63
6
Thuế
157,805,15
6
186,194,30
4
217,469,41
0
218,864,32
1
Vốn lưu
động
112,500,000
135,261,56
3
159,595,11
8
186,402,35
1
187,597,98
9
Giá trị
tài sản
ròng
(PPE)
18,750,000 22,543,593
26,599,186
Chỉ số
vai trò
thương
hiệu
79%
Thu
nhập từ
thương
hiệu
59,570,444 71,638,468
84,526,229
98,724,122
99,357,366
Chỉ số
s
ức mạnh
thương
hiệu
66
Chỉ số
chiết
khấu
thương
hiệu
7.40
%
của
thương
hiệu
1,784,010,11
5
4.2.4.2 Ứng dụng của mô hình
Kể từ khi ra đời vào năm 1988, các ứng dụng của mô hình này đã được mở
rộng một cách đáng kể và ngày nay được sử dụng trong hầu hết các quyết
định chiến lược về tài chính và marketing. Quá trình ứng dụng này có thể
phân làm hai loại:
Quản lý chiến lược về thương hiệu: Việc định giá thương hiệu tập chung chủ
yếu vào nhu cầu giám sát nội bộ bằng cách đưa ra công cụ và quy trình quản
lý để làm gia tăng giá trị kinh tế của thương hiệu
Quản lý chiến lược về tài chính: Định giá thương hiệu để giao dịch với các
đối tác có liên quan
a) Quản lý chiến lược về thương hiệu:
Việc nhận thức được giá trị kinh tế của thương hiệu khiến gia tăng nhu cầu
về việc quản lý sao cho thật hiệu quả loại tài sản này. Trong tiến trình chạy
đua để làm gia tăng giá trị cho cổ đông, các công ty thường kiên định trong
việc thiết lập các quy trình cụ thể liên quan đến quản lý thương hiệu, các loại
tài sản khác cũng như toàn bộ công ty. Bởi vì việc định lượng truyền thống
thuần túy chỉ dựa vào việc khảo sát thị trường vốn dĩ chứng minh tính không
hiệu quả để tìm hiểu và quản lý giá trị kinh tế của thương hiệu, các công ty
ngày nay đã phát triển mô hình định giá thương hiệu lên thành một công cụ
quản lý rất hiệu quả. Định giá thương hiệu giúp họ thiết lập nên hệ thống
quản lý thương hiệu trên cơ sở giá trị. Việc tạo nên giá trị kinh tế trở thành
trọng tâm cho việc quản lý thương hiệu và tất cả các quyết định đầu tư liên
quan đến thương hiệu. Rất nhiều công ty bao gồm American Express, IBM,
Phân phối chi phí marketing thông qua khoản lợi nhuận mỗi đơn vị kinh
doanh có được từ tài sản thương hiệu.
Tổ chức và tối ưu hóa việc sử dụng thương hiệu trong doanh nghiệp theo
mức đóng góp giá trị kinh tế tương xứng của từng đối tượng.
Đánh giá các kế hoạch hợp tác trong thương hiệu căn cứ vào những lợi ích
kinh tế và rủi ro đối với giá trị hiện tại của thương hiệu.
Đưa ra các quyết định hợp lý liên quan đến nhãn hiệu sau vụ sáp nhập trên
một cơ sở kinh tế rõ ràng.
Quản lý việc mở rộng thị trường ra bên ngoài hoặc khi có đối thủ khác gia
nhập thị trường căn cứ vào việc hiểu biết giá trị của từng thương hiệu, từ đó
biết được những gì được và mất nếu hội nhập thương hiệu xảy ra.
Việc định giá thương hiệu theo từng nhân tố ảnh hưởng giúp đo lường hiệu
quả hoạt động của thương hiệu một cách tập chung và khả thi hơn.
Danh mục thương hiệu thường được quản lý trên nhiều thị trường. Quá trình
đầu tư và hiệu quả hoạt động của thương hiệu có thể được đánh giá trên
cùng một tiêu chuẩn so sánh được từ đó giúp gia tăng giá trị tổng hợp của
toàn bộ danh mục.
Khả năng tạo ra giá trị kinh tế của thương hiệu có liên quan chặt chẽ đến thị
trường vốn và công tác truyền thông để hỗ trợ trong việc xác định giá trị cổ
phiếu và tìm kiếm nguồn tài trợ.
b) Quản lý chiến lược về tài chính:
Xác định mức phí cho việc sử dụng thương hiệu tại các công ty con. Phí bản
quyền liên quan đến việc sử dụng thương hiệu được xem như là thu nhập đối
với công ty mẹ và vẫn phải chịu thuế. Thương hiệu có thể được cấp quyền
cho cho các công ty con tại các bang (Mỹ) hoặc trên toàn thế giới.
Xác định tỷ lệ phí sử dụng thương hiệu thông qua các hợp đồng liên quan
với đối tác thứ 3.
Ghi nhận giá trị tài sản thương hiệu trên bảng cân đối kế toán theo chuẩn
mực của US GAAP, IAS, và của từng quốc gia khác nhau. Định giá thương
hiệu được sử dụng cho việc định giá lần đầu và định giá định kỳ để ghi nhận
tư tài chính nhưng hầu như không cho biết gì về hiệu quả hoạt động của loại
tài sản được coi là quan trọng nhất của công ty, thương hiệu Coca-Cola.
Hình ảnh tương tự cũng được tìm thấy ở rất nhiều các công ty có thương
hiệu khác, hệ thống kế toán hiện hành thực sự là không hiệu quả trong việc
việc ghi nhận giá trị của tài sản vô hình.
Giá trị ngày càng gia tăng của tài sản vô hình thể hiện trong các vụ mua bán
và sáp nhập hai thập kỷ gần đây đã buộc các chuẩn mực kế toán hiện hành
phải nhận diện và ghi nhận đối với loại tài sản này trên bảng cân đối kế toán.
Tuy nhiên, các chế độ kế toán này chỉ ghi nhận giá trị của thương hiệu ở
mức tối thiểu, được biết trước đây dưới tài khoản “Goodwill” – Lợi thế
thương mại. Như là một kết quả đáng buồn, giá trị của thương hiệu trong các
vụ mua bán được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán nhưng khi không có
các vụ mua bán này, giá trị của thương hiệu vẫn không được ghi nhận
Tóm lại, nhu cầu định giá thương hiệu ngày càng gia tăng xét cả về khía
cạnh quản lý lẫn giao dịch. Với sự phát triển của các mô hình tiếp cận theo
kinh tế học, ít nhất thì cũng có một chuẩn mực có thể được thực hiện cho
việc định giá thương hiệu. Hy vọng rằng trong tương lai, mô hình này sẽ trở
thành một công cụ quản lý thương hiệu vào loại bậc nhất được áp dụng
thành công trong tất cả các doanh nghiệp.