BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TRẦN THÚY TIÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
câu hỏi sau đây:
• Dự án đó có đáng giá hay không? Nghóa là đạt các tiêu chuẩn như lợi
nhuận cho chủ đầu tư, giải quyết về việc làm, khai thác thế mạnh về tài
nguyên, du lòch quốc gia…
• Với một danh sách dự án đã cho, dự án nào là tốt nhất? Thứ hạng của mỗi
dự án đó như thế nào?
Thông thường khi soạn thảo và phân tích dự án đầu tư, ngoài việc thực hiện các
tính toán phân tích trong điều kiện xác đònh cũng cần dự báo các yếu tố không xác
đònh trước như:
• Lạm phát
• Những thay đổi trong công nghệ.
• Năng lực dự báo.
• Vốn đầu tư cần thiết, thời gian thi công xây dựng, thời gian chạy thử.
Do đó khi phân tích đánh giá dự án chúng ta phải thừa nhận tính bất đònh và phân
tích dự án trong điều kiện xác đònh và cả trong điều kiện bất đònh. Trên cơ sở phân
tích đánh giá dự án qua hai tình huống những nhà đầu tư nghiên cứu nhằm quyết
đònh đầu tư.
Hơn nữa việc đưa phân tích kinh tế, xã hội vào trong nội dung phân tích dự án
cũng giúp những người ra quyết đònh đầu tư có các nhìn toàn diện hơn về môi
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
2
trường mà dự án hoạt động trong đó. Một dự án có hiệu quả phải là một dự án
mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư và đáp ứng được lợi ích kinh tế – xã hội.
Trong thực tế tại Việt Nam việc đánh giá các dự án đầu tư phần lớn chỉ được thực
ĐỊNH ĐẦU TƯ
I.1 Những khái niệm tài chính cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu:
I.1.1 Phân tích tài chính dự án
a. Xây dựng dòng tiền tệ ròng (dòng ngân lưu của dự án)
Xây dựng báo cáo dòng tiền tệ là công việc đầu tiên trong viêc phân tích tài chính
dự án dựa vào những thông tin tìm được trong các phần phân tích về kỹ thuật, nhân
lực và tiếp thò.
Thành quả dự kiến trong tương lai của một dự án đầu tư được tóm tắt trong một tập
hợp báo cáo tài chính dự trù hay triển vọng gồm các thông tin thu nhập và chi phí
trong nhiều năm của dự án.
Các khoản thu nhập và các khoản chi phí của dự án xuất hiện ở những năm khác
nhau trong đời dự án tạo thành dòng tiền tệ của dự án và được xác đònh hàng năm
như sau : Trong quá trình tính toán dòng tiền tệ hàng năm của dự án một số vấn đề tài chính
cần được quan tâm như sau :
Trong các khoản thu bằng tiền mặt ngoài doanh thu còn tính đến các khoản phải
thu, tương tự các khoản chi tiền mặt ngoài chi phí phải tính đến các khoản phải trả.
Tất cả những yếu tố trên được xác đònh trong việc xây dựng nhu cầu tiền mặt giao
dòch và vốn lưu động.
b. Các khái niệm về thu nhập của dự án
Tổng thu trong năm của dự án: Là tất cả những khoản tiền mà dự án thu được do
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm hoạt động của dự án. Thu nhập
những đầu vào đảm bảo cho hệ thống hoạt động. Những đầu vào này biểu hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ thuộc từng giai đoạn dự án như lao động, công
nghệ thiết bò, nguyên vật liệu, đất đai, nhà xưởng…Chi phí của dự án là biểu hiện
bằng tiền của các nguồn lực cần thiết hoạt động dự án. Đối với dự án đầu tư. Chi
phí của dự án được xem xét ở cả ba giai đoạn.
Giai đoạn 1 : (giai đoạn chuẩn bò đầu tư) xác đònh số lượng và nguồn vốn cần thiết
cho các hoạt động dự án, nó thường chiếm tỷ lệ thấp nhưng lại đóng vai trò quyết
đònh đối với chi phí ở giai đoạn sau gồm các công việc : nghiên cứu đánh giá cơ
hội đầu tư, nghiên cứu lập dự án tiền khả thi và khả thi, thẩm đònh và phê duyệt dự
án ở cấp quản lý.
Giai đoạn 2: (thực hiện dự án) là giai đoạn chủ yếu chi phí được đưa vào để thực
hiện dự án như xin thuê đất, chuẩn bò mặt bằng, tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo
sát-thiết kế giám đònh kỹ thuật chất lượng công trình, tổ chức đấu thầu, mua sắm
thiết bò, thi công xây lắp, nghiệm thu công trình và thanh quyết toán.
Giai đoạn 3: (giai đoạn khai thác dự án) chi phí được biểu hiện dưới dạng chi phí
khai thác dự án (còn được gọi là vốn lưu động cần thiết để sản xuất kinh doanh khi
dự án hoàn thành)
Các loại chi phí của dự án.
Chi phí cố đònh và chi phí biến đổi:
Chi phí cố đònh: là chi phí phải trả cho dù doanh nghiệp không sản xuất gì cả như
chi phí thuê nhà đất, khấu hao tài sản
Chi phí biến đổi: là chi phí tăng, giãm theo sản lượng chẳng hạn như chi phí
nguyên vật liệu, chi phí nhân công …
Chi phí chìm: Đây là những chi phí không thu lại được xảy ra do những quyết đònh
quá khứ. Trong khi đó, việc phân tích kinh tế dự án chỉ xét những chi phí và lợi ích
do những quyết đònh hiện tại gây ra. Nhiều chi phí quá khứ không thu hồi được
bằng một hành động tương lai, vì vậy chi phí chìm không được xem xét trực tiếp
Chi phí đất đai : Giống như các tài sản khác, đất đai có một chi phí kinh tế cơ hội
khi được sử dụng cho dự án, ngay cả trong trường hợp Chính phủ cung cấp đất
không mất phí cho dự án, chi phí về đất cũng phải được tính trong tổng chi phí đầu
tư của dự án và mức chi phí đất đó phải đươc xác đònh ở mức giá trò phản ảnh đúng
giá trò thò trường của đất tại khu vực dự án. Đất đai còn là một tài sản đặc biệt ở
chổ trong hầu hết mọi trường hợp đất đai không có khấu hao. Ngược lại do những
cải thiện trong hệ thống cơ sở hạ tầng giá trò của đất đai còn có thể tăng nhanh hơn
mức tăng của lạm phát trong suốt thời gian hiện hữu của dự án. Trong những
trường hợp như vậy, điều quan trọng là chúng ta không được tính phần giá trò của
đất đai gia tăng vượt quá mức tăng của lạm phát vào giá trò thanh lý của dự án.
Thông thường giá cả đất đai thực sự tăng lên là do kết quả đầu tư cho cơ sở hạ
tầng công cộng mà sản phẩm của chúng ta không có bán trên thò trường cạnh
tranh, do đó điều quan trọng là không được qui mức tăng trong giá trò thực của đất
đai cho bất kỳ dự án nào nhằm tránh được sự thiên lệch trong khi lựa chọn đối với
các dự án sử dụng nhiều đất.
Chi phí hoạt động (chi phí khai thác) là chi phí tiêu hao trong giá thành sản phẩm
hàng năm của dự án kể cả thuế các loại.
Chi phí khai thác hàng năm = Giá thành sản phẩm-Khấu hao+thuế thu nhập
d. Báo cáo thu nhập dự kiến : Dựa trên cơ sở doanh thu hằng năm đã được dự trù
và các chi phí hoạt động đã được bao gồm (chi phí trực tiếp, gián tiếp, khấu hao ),
thuế doanh thu ta tính được :
Lãi gộp = doanh thu – chi phí hoạt động
Thu nhập chòu thuế tính trước = lãi gộp – chi phí trả lãi năm
Dòng tiền tệ ròng sau khi trả thuế = thu nhập trước thuế – thuế thu nhập DN
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
tuyệt đối, có như vậy phương án được soạn thảo mới xứng đáng được đầu tư.
Những phương pháp này chỉ cho ta kết luận chính xác trong điều kiện những số
liệu về lợi ích và chi phí của dự án được đoán một cách chắc chắn, môi trường của
dự án hoạt động ít biến động gồm các phương pháp sau:
Các tiêu chuẩn đánh giá dự án đầu tư :
Có nhiều tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá kết quả dự kiến của dự án đầu tư :
- Tiêu chuẩn giá trò hiện tại ròng (Net present value – NPV)
- Suất thu lợi nội tại(Internal rate of return – IRR)
- Tỷ số lợi ích – chi phí (Benefit – cost ratio)
- Thời kỳ hoàn vốn (Payback period)
a. Tiêu chuẩn giá trò hiện tại ròng (Net present value – NPV)
Bản chất của các dự án đầu tư là lợi ích và chi phí của chúng thường xảy ra vào
các giai đoạn khác nhau. Một số tiền có được hiện tại được coi là có giá trò cao hơn
cùng một số tiền như vậy nhận được trong tương lai bởi vì tiền có được bây giờ cho
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
7
phép để đầu tư có lãi hay tiêu dùng trong khoản thời gian giữa hiện tại và tương
lai. Do đó người đi vay sẳn sàng trả lãi suất dương để có thể sử dụng được vốn,
còn người cho vay đòi hỏi phải được trả lãi.
Gọi suất chiết tính là r, nếu đem 1 đồng đầu tư thì sau một năm sẽ tăng lên thành
1/(1+r) đồng. Như vậy một khoản tiền B trong năm tới sẽ có giá trò hiện tại là
B/(1+r). Tổng quát một khoản tiền B sẽ nhận được vào n năm trong tương lai sẽ có
hiện giá là B/(1+r)
n
(n là thời gian hoạt động của dự án. Suất chiết tính r càng cao
và thời gian có được số tiền thu được càng lùi xa vào tương lai thì giá trò hiện tại
)1(
)(
r
CB
+
−
+ ….+
n
nn
r
CB
)1(
)(
+
− NPV =
∑
=
+
−
n
t
t
tt
r
CB
0
)1(
tt
r
CB
1
1
)1(
)(Điều này hoàn toàn có thể xảy ra trong thực tế. Giả sử vốn vào thời điểm hiện nay
là rất khan hiếm so với trước đây. Ta thấy rằng chi phí của vốn vào thời điểm hiện
tại sẽ cao một cách bất thường và như vậy suất chiết tính sẽ giảm dần theo thời
gian trong lúc cung và cầu của vốn trở về mức bình thường. Ngược lại nếu hiện tại
có nhiều tiền vốn, chúng ta dự kiến chi phí của vốn và suất chiết tính sẽ xuống
thấp hơn mức trung bình dài hạn. Trong trường hợp này chúng ta có lẽ dự kiến suất
chiết tính sẽ tăng lên trong khi cung và cầu vốn dần dần quay trở về xu hướng dài
hạn. Quá trình này được minh hoạ như sau:
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
8
ei
: giá sử dụng vốn cổ phần thành phần i
R
dj
: giá sử dụng vốn vay thành phần j
Ưu điểm và hạn chế của phương pháp giá trò hiện tại ròng:
Ưu điểm:
- Phương pháp NPV cho biết qui mô số tiền lãi có thể thu được từ dự án.
- NPV là một tiêu chuẩn hiệu quả tuyệt đối tính đầy đủ giá trò theo thời gian của
đồng tiền, tính đầy đủ mọi khoản thu và chi trong cả thời kỳ hoạt động hoặc
phân tích dự án. Vì vậy, NPV là tiêu chuẩn để chọn tập dự án tức là chọn ra WACC = Σ R
ei
(EQi )
V
+ Σ R
dj
(DE
j
)
V
Vốn khan hiếm
Vốn dư thừa
0 1 2 3 4 so
)1(
−+
+
n
n
r
rr- NPV là chỉ tiêu tuyệt đối do đó khi dùng NPV chỉ xác đònh mức lãi lỗ thực của
dự án mà nó chưa cho biết tỷ lệ lãi đó trên vốn đầu tư như thế nào? Điều này
đặc biệt có ý nghóa nghiêm trọng khi so sánh các phương án có vốn đầu tư
khác nhau. Để khắc phục hạn chế này người ta dùng phương pháp hệ số hoàn
vốn đã được chiết khấu (NPVR)
NPVR =
)(IPV
NPVGhi chú : PV (I) là giá trò hiện tại của vốn đầu tư
b. Tiêu chuẩn suất thu lợi nội tại :
Suất thu lợi nội tại (internal rate of return) là một số thống kê đã được các nhà đầu
tư của cả hai khu vực nhà nước và tư nhân sử dụng rất nhiều để mô tả độ hấp dẫn
của một dự án.
Tiêu chuẩn IRR và NPV có liên quan bằng cách thức tính toán ra chúng. Để tính
NPV, người ta đưa ra suất chiết tính và dùng nó để tìm ra giá trò hiện tại của lợi ích
và chi phí. Ngược lại khi tìm IRR, người ta quy NPV của dòng lợi ích ròng bằng
không và IRR là suất chiết tính tìm được làm cho NPV bằng 0
trong toàn bộ thời gian hoạt động của dự án.
Một dự án đầu tư được xem là đáng giá khi suất thu lợi nội tại IRR của nó lớn hơn
hoặc bằng suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được MARR (Minimum acceptable rate
of return).
Phương pháp suất thu lợi nội tại có một lợi thế hơn là nó có thể được tính toán dựa
vào các số liệu của dự án mà thôi. Đặc biệt, việc tính toán này không đòi hỏi số
liệu về chi phí cơ hội của vốn.
Công thức tính IRR
Khác với các chỉ tiêu khác, chỉ tiêu IRR không có một công thức toán học nào cho
phép tính trực tiếp. IRR được tính thông qua phương pháp nội suy, tức là phương
pháp xác đònh một giá trò gần đúng giữa hai giá trò đã chọn. Theo phương pháp này
ta tìm hai tỷ suất chiết khấu k
1
và k
2
sao cho ứng với tỷ suất nhỏ hơn (giả sử k
1
) ta
có NPV>0, còn tỷ suất kia sẽ làm cho NPV<0. IRR cần tính (NPV=0) sẽ nằm giữa
2 tỷ suất k
1
và k
2
. việc nội suy giá trò thứ 3giữa 2 tỷ suất trên theo công thức:
IRR =
1
2
k
Khi sử dụng phương pháp nội suy không nên nội suy rộng cụ thể là khoảng cách
giữa 2 tỷ suất chiết khấu được chọn (
1
k ,
2
k ) không vượt quá 0,5%.
Nguyên tắc sử dụng IRR trong phân tích hiệu quả:
- Dự án đầu tư có lợi khi lãi suất tính toán r < IRR
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
11
- Trong số những dự án đầu tư độc lập IRR cao hơn sẽ được chọn.
Ưu điểm và hạn chế của phương pháp tính IRR :
Ưu điểm:
- Khắc phục nhược điểm của phương pháp NPV khi lựa chọn mức tỷ số chiết
khấu tính NPV.
Nhược điểm:
- Việc tồn tại nhiều IRR khó xác đònh chính xác IRR nào làm chỉ tiêu đánh giá.
ä
n tai của các chi
p
hí
NPV
0 ( k %)
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
12
B/C =
∑
∑
=
=
+
+
n
t
t
t
n
t
t
t
r
C
r
B
B : giá trò đều hàng năm của lợi ích (thu nhập) ( B có dạng AW)
CR : chi phí đều hàng năm để hoàn vốn đầu tư ban đầu (khấu hao)
O : chi phí vận hành đều hàng năm
M : chi phí bảo hành đều hàng năm
Sử dụng tiêu chuẩn này chúng ta sẽ đòi hỏi để cho một dự án có thể được chấp
nhận, tỷ số này phải lớn hơn hoặc bằng 1. Trong việc lựa chọn các dự án loại trừ
lẫn nhau, qui tắc là chọn dự án có tỷ giá lợi ích – chi phí lớn nhất.
Ưu điểm và hạn chế của chỉ tiêu B/C :
Ưu điểm:
- Chỉ tiêu B/C cho biết phần thu nhập ứng với mỗi đồng chi phí cho cả thời kỳ
hoạt động của dự án.
Hạn chế:
- Là một tiêu chuẩn đánh giá tương đối, tỷ lệ B/C có thể dẫn đến những sai lầm
khi lựa chọn những dự án loại trừ nhau vì với dự án nhỏ, mặc dù tỷ lệ B/C lớn
song tổng lợi nhuận vẫn nhỏ. Phương pháp này cần được kết hợp với các
phương pháp khác.
- Cũng như phương pháp NPV, tỷ lệ B/C chỉ ảnh hưởng nhiều bởi lãi suất tính
toán r, lãi suất càng cao thì tỷ lệ B/C càng giảm
- Giá trò tỷ lệ B/C đặc biệt nhạy cảm với đònh nghiõa lợi ích và chi phí đây là hạn
chế cơ bản nhất trong việc sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ B/C. Ví dụ: khi nhà sản xuất
phải trả thuế cho một mặt bằng được bán, thì hạng mục cho các khoản thu trong
bảng dòng tiền tệ có thể được ghi sổ là doanh số sau khi đã trừ thuế với thuế
được ghi sổ là một khoản chi để bù lại.
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
13
Hình 3 : so sánh hai dự án có đời sống hữu dụng khác nhau
0
t* t
b
SO SÁNH HAI DỰ ÁN VỚI ĐỜI SỐNG HỮU DỤNG KHÁC NHAU
B
t
- C
t
C
a
= C
b
Bb
Ba
Hình 4.1 : Lợi ích ròng (
tt
CB
−
) cắt trục hoành nhiều lần <-> nhiều IRR
Những dự án theo biên độ trên là do trong quá trình dự án đi vào hoạt động các
hạng mục thiết bò lớn đôi khi cần phải thay thế làm cho lợi ích ròng âm trong
những năm tái đầu tư. Có những trường hợp mà kết thúc một dự án lại đưa đến chi
phí ròng lớn không có hiệu quả Hình 4.2 : Lợi ích ròng (
trong điều kiện xác đònh tức các chỉ tiêu như dòng tiền tệ (cash flow), suất chiết
tính, tuổi thọ dự án… là biết trước một cách chắc chắn. Song trong thực tế thì trái
lại lượng vốn bỏ ra còn có thể biết được một cách tương đối chính xác, kết quả
nhận được trong tương lai hoàn toàn trên cơ sở giả đònh, dự tính và có độ an toàn
không cao. Thực ra chúng ta không thể biết trước một cách chắc chắn các thông tin
đó. Do đó, hợp lý hơn phải xem xét chúng như là biến ngẫu nhiên.
Khi phân tích kinh tế dự án xem xét trong môi trường rủi ro và bất đònh người ta
thường dùng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích điểm hoà vốn
- Phương pháp phân tích độ nhạy
a. Phương pháp phân tích điểm hoà vốn:
Phân tích điểm hoà vốn được tiến hành nhằm xác đònh mức sản xuất hoặc mức
doanh thu thấp nhất mà tại đó dự án có thể vận hành không gây nguy hiểm đến
khả năng tồn tại về mặt tài chính của nó, tức là dự án không bò lỗ, có đủ tiền mặt
để hoạt động và có khả năng trả nợ. Ngoài ra phân tích điểm hoà vốn còn giúp
cho việc xem xét mức giá cả mà dự án có thể chấp nhận được. Theo phân tích dự
án người ta phân tích các điểm hoà vốn sau :
- Điểm hoà vốn lời lỗ
- Điểm hoà vốn tiền tệ
- Điểm hoà vốn trả nợ
* Điểm hoà vốn lời lỗ : là điểm mà tại đó mức sản lượng hoặc mức doanh thu
đảm bảo cho dự án không bò lỗ trong năm hoạt động bình thường.
H
LL
= %
B
D
T
D
cơ bản chỉ tính khấu hao phần tài sản cố đònh vay vốn. Điểm hoà vốn tiền tệ
cũng được biểu hiện thông qua hệ số hoà vốn tiền tệ ( H
TT
) H
TT
= *Điểm hoà vốn trả nợ là điểm hoà vốn mà tại đó cho phép dự án có tiền để
trả nợ vay và đóng thuế hàng năm. Từ điểm hoà vốn tiền tệ dự án bắt đầu có
tiền để trả nợ vay, tuy nhiên trên thực tế ngoài số nợ vay dự án phải có số tiền
cao hơn để trả nợ và đóng thuế. Số nợ phải trả và thuế lợi tức được xem như
chi phí cố đònh của năm.
H
TN
= b. Phương pháp phân tích độ nhạy:
Phân tích độ nhạy nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các đại lượng đầu vào và
đại lượng đầu ra không an toàn. Phân tích độ nhạy giúp các nhà quản lý trả lời câu
hỏi kết quả của dự án như thế nào nếu như các yếu tố đầu vào thay đổi trong quá
trình vận hành dự án từ đó có chú ý và tính toán để xác đònh dự án an toàn hơn cho
những kết quả đã được dự tính. Những dự án được xem là an toàn khi ít ảnh hưởng
bởi các nhân tố đầu vào, tức là nhân tố đầu vào bất đònh kết quả của dự án vẫn
nằm trong khung có thể chấp nhận được.
Phân tích độ nhạy cần đánh giá được các biến số quan trọng là biến có ảnh hưởng
nhiều đến kết quả dự án. Nhược điểm của phương pháp này chỉ khảo sát từng
thông số trong khi kết quả của dự án chòu tác động của nhiều thông số cùng một
lúc, ngoài ra cũng không đánh giá được xác suất xuất hiện của các thông số.
I.2.3 Các quan điểm phân tích dự án đầu tư:
Đối với mỗi dự án, điều quan trọng không chỉ tính chính xác lượng thu nhập ròng
(tổng thu – tổng chi) cần thiết mà còn cần xác đònh nguồn vốn của nó. Mỗi dự án
có thể đảm bảo bằng một hoặc một số nguồn vốn khác nhau, cơ cấu nguồn vốn là
một nhân tố phản ánh khả năng an toàn của dự án.
Một dự án đầu tư có thể thẩm đònh theo các cách phân tích tài chính, kinh tế, phân
phối thu nhập hay xã hội. Ngoài việc tuân theo những cách thức phân tích khác
nhau, các dự án đầu tư cũng có thể thẩm đònh theo các quan điểm khác nhau của
các cá nhân hay tổ chức khác nhau. Việc thẩm đònh dự án dựa trên quan điểm nào
là quan trọng vì chúng cho phép các nhà phân tích xác đònh xem các thành viên
liên quan tới dự án có thấy đáng tài trợ, đáng tham gia hay thực hiện dự án không?
Việc cung cấp tài chính có thể bao gồm các hình thức như cổ phần, quỹ trợ cấp,
tiền vay trong nước, nước ngoài hoặc tiền viện trợ của nước ngoài. Khoản nào
trong các hình thức như trên được coi là ngân lưu vào (nguồn thu) cho dự án là phụ
thuộc vào việc phân tích dự án được tiến hành dựa trên quan điểm nào. Nếu kết
quả dự án là hấp dẫn đối với chủ dự án nhưng không hấp dẫn đối với các tổ chức
tài chính hay cơ quan quản lý ngân sách của chính quyền, dự án đó có thể gặp khó
khăn trong khâu xin phép phê chuẩn hay tìm nguồn tài trợ. Hay ngược lại nếu dự
án đó là có lợi theo quan điểm ngân hàng hay của cơ quan quản lý ngân sách
nhưng không có lợi cho chủ đầu tư, dự án đó có thể gặp khó khăn trong việc thực
phí gốc của các tài sản hiện có. Quan điểm của ngân hàng hay quan điểm của tổng
mức vốn đầu tư được diễn tả như sau:
Quan điểm ngân hàng = Quan điểm tổng mức đầu tư = lợi ích tài chính trực
tiếp – chi phí tài chính trực tiếp – chi phí cơ hội của các tài sản hiện có.
- Dòng tiền tệ vào = doanh thu + mức thay đổi trong khoản sẽ thu
- Dòng tiền tệ ra sẽ là tổng các chi phí đầu tư và chi phí vận hành (chi phí trực
tiếp, chi phí gián tiếp, mức thay đổi trong khoản phải trả, mức thay đổi trong dự
trù tiền mặt)
- Dòng tiền tệ ròng trước khi trả thuế = dòng tiền tệ vào – dòng tiền tệ ra
- Dòng tiền tệ ròng sau thuế = dòng tiền tệ ròng trước khi trả thuế – các loại thuế
b. Quan điểm chủ đầu tư :
Giống như ngân hàng, chủ đầu tư xem xét mức gia tăng thu nhập ròng của dự án
so với những gì họ thể kiếm được trong trường hợp không có dự án. Vì vậy chủ
đầu tư cần xem những gì mà họ bò thiệt khi thực hiện dự án như là chi phí. Khác
với ngân hàng, chủ đầu tư cộng vốn vay ngân hàng vào khoản thu, và trừ tiền lãi,
nợ gốc vào khoản chi
Như vậy đối với chủ đầu tư của dự án, dòng tiện tệ ròng tương ứng có thể diễn tả
như sau:
Quan điểm chủ đầu tư = Quan điểm ngân hàng + vay ngân hàng – trả lãi – nợ vay
c.Quan điểm của cơ quan ngân sách – chính phủ:
Đối với các cơ quan ngân sách, các dự án có thể cần chi dưới dạng trợ giá hay các
khoản trợ cấp khác có thể tạo thu nhập từ chi phí sử dụng và thuế thu trực tiếp hay
gián tiếp. Do đó, đối với các cơ quan quản lý ngân sách chính quyền, thu nhập tài
chính ròng do một dự án tạo ra có thể được diễn tả như sau:
Quan điểm cơ quan ngân sách = (thuế, chi phí sự dụng trực tiếp, gián tiếp) – (trợ
giá và trợ cấp các khoản trực tiếp, gián tiếp)
trong và ngoài nước.
Theo nhiều nhà kinh tế, việc Trung Quốc gia nhập WTO tạo ra một lợi thế thương
mại đáng kể trên phạm vi toàn cầu, kết hợp với việc hình thành khu vực mậu dòch
tự do Asean (AFTA) – Trung Quốc thì khu vực này sẽ trở thành một thò trường lớn
nhất trên thế giới với 1,7 tỷ người.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy. Hàng hoá Việt Nam xuất khẩu qua tuyến đường
này gồm chủ yếu:
- Vật tư, kim khí, hoá chất phục vụ sản xuất công nghiệp: hoá chất cho sản xuất
giấy, than cốc, thạch cao cho sản xuất xi măng, nguyên liệu cho sản xuất thuốc
lá…
- Các mặt hàng nông sản của vùng đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ
- Các loại hàng hoá tiêu dùng : bột giặt, đồ nhựa, giầy dép…
- Các loại giống cây trồng năng suất cao : giống lúa la, khoai tây, hành tỏi, giống
cây ăn quả chất lượng cao.
- Hải sản các loại
Hàng hoá qua cửa khẩu Lào Cai xét về tính chất đều là những hàng hoá Nhà nước
Việt Nam khuyến khích xuất nhập khẩu đồng thời nhiều năm qua kim ngạch xuất
nhập khẩu qua Lào Cai tăng nhanh, nhưng đều cân bằng giữa xuất và nhập.
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
20
- Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1991 mới đạt 1,4 triệu USD
- Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1999 tăng lên 57 triệu USD tăng 39 lần so với
năm 1991
- Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2000 tăng lên 100 triệu USD tăng 75% so với
năm 1999
- Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2001 tăng lên 150 triệu USD tăng 50% so với
Chính Phủ và chính quyền Lào Cai đang mong chờ Công ty Biti’s thực hiện dự
án Trung Tâm Thương Mại trong thời gian tới.
- Dự án TTTM được hình thành đóng vai trò quan trọng là một Trung tâm, nơi
xúc tiến các hoạt động thương mại giữa hai nước, là đầu mối tổ chức các hoạt
động giao thương kinh tế giữa các doanh nghiệp Việt Nam muốn khái phá thò
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
21
trường Trung Quốc, thực hiện “Ngân hàng dữ liệu về Tây Nam Trung Quốc
phục vụ cho công việc xúc tiến thương mại và đầu tư tại Lào Cai” cung cấpï cho
các nhà đầu tư mà từ lâu họ rất “đói” thông tin về làm ăn, buôn bán với Trung
Quốc nói chung và khu vực Tây Nam-Trung Quốc nói riêng, Giúp các doanh
nghiệp Việt Nam chủ động đón đầu những cơ hội làm ăn, đầu tư. Thúc đẩy việc
lưu thông hàng hoá qua lại giữa hai nước, phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn
trong nước như : xuất khẩu nông sản, thủy hải sản, khoáng sản,…, sang Trung
Quốc,
- Góp phần làm sôi động nền kinh tế khu vực, thu hút được một số lượng lớn các
doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến Lào Cai đầu tư và làm
bàn đạp tiến vào thò trường Tây Nam Trung Quốc, thúc đẩy phát triển nền kinh
tế nước nhà, và nguồn nhân lực tại đòa phương nhằm đáp ứng hoạt động lâu dài
cho các dự án đầu tư là không thể thiếu, góp phần giải quyết công ăn việc làm
cho người lao động tại đòa phương, nâng cao mức sống, trình độ dân trí, kỹ thuật
tiên tiến.
a. Thúc đẩy lưu thông hàng hoá giữa hai nước:
- Thò trường Tây Nam-Trung Quốc là thò trường đầy tiềm năng với dân số trên
300 triệu dân, chiếm 28,1% dân số Trung Quốc, với diện tích trên 5 triệu km
2
,
b. Thúc đẩy du lòch đòa phương, giao lưu văn hoá giữa hai nước:
- Với những đòa điểm du lòch nổi tiếng của tỉnh Lào Cai như : Sapa, Bắc Hà, Bát
Xát, Mường Khương…, đây là tiềm năng rất lớn về phát triển du lòch với nhiều
loại hình du lòch phong phú, thúc đẩy chính sách khuyến khích phát triển thương
mại, du lòch giữa Việt Nam với Trung Quốc. Mỗi năm số khách du lòch đến Lào
Cai trên 350.000 lượt người, khách du lòch xuất nhập cảnh qua cửa khẩu quốc tế
Lào Cai đạt trên 1,4 triệu lượt người.
- Ngoài ra, tiếp giáp với tỉnh Lào Cai là tỉnh Vân Nam -Trung Quốc, một trong
bốn tỉnh có kinh tế du lòch phát triển nhất Trung Quốc sau Bắc Kinh, Thượng
Hải, Quảng Đông, hàng năm có 2 triệu khách tới du lòch và đa số du khách đến
Vân Nam đều muốn qua du lòch ở Việt Nam và ngược lại.
- Dự án Trung Tâm Thương mại Biti’s với việc đầu tư khu 11 tầng, 17 tầng làm
khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế, mà khu vực Hà Khẩu -Trung Quốc (giáp Lào
Cai) chưa có, đáp ứng nhu cầu nghó ngơi, mua sắm của các du khách là một
công trình không thể thiếu theo đònh hướng phát triển của tỉnh Lào Cao về du
lòch với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đây cũng chính làm tăng mối quan
hệ giao lưu văn hoá giữa hai nước, tạo sự đoàn kết gắn bó giữa hai dân tộc khu
vực Lào Cai-Việt Nam và Vân Nam-Trung Quốc, ổn đònh an ninh quốc phòng.
II.2 Các điều kiện thuận lợi và khó khăn
II.2.1 Các điều kiện thuận lợi
Tỉnh Lào Cai với lợi thế về đường sắt đường bộ và đường sông đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo dựng hành lang kinh tế “Côn Minh-Hà Khẩu-Lào Cai-Hà Nội-
Hải Phòng”. Đồng thời là cửa ngõ kinh tế từ khu vực phía Tây Trung Quốc đi đến
khu vực mậu dòch của các nước Asean, Thái Bình Dương và ngược lại, trở thành
một vò trí chiến lược quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực để thu hút
đầu tư và giao thông kinh tế.
II.2.1.1 Chính phủ Việt Nam (Lào Cai) thực hiện các chính sách thu hút đầu tư
a. Thực hiện các chính sách ưu đãi cho tất cả các doanh nghiệp đầu tư trong khu
kinh tế thương mại cửa khẩu, cụ thể:
miễn thuế nhập khẩu.
Miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất rong 5 năm kể từ khi bắt
đầu sản xuất đối với dự án đầu tư thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến
khích đầu tư hoặc đầu tư vào đòa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó
khăn qui đònh tại Phụ lục kèm theo nghò đònh 24/2000/NĐ-CP.
Miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất trong 5 năm kể từ khi bắt
đầu sản xuất, đối với sản xuất linh kiện phụ tùng cơ khí, điện, điện tử
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tạm chưa phải nộp thuế giá trò
gia tăng đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu
theo quy đònh của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Không phải nộp thuế giá trò giá tăng đối với thiết bò máy móc, phương tiện
vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ thuộc loại trong nước
chưa sản xuất được, nhập khẩu để tạo tài sản cố đònh của doanh nghiệp. Nếu
có cả loại thiết bò, máy móc trong nước sản xuất được nhưng nó nằm trong
dây chuyền đồng bộ thì cũng không chòu thuế cho cả dây chuyền thiết bò,
máy móc đồng bộ.
Trung Tâm thương mại Cửa Khẩu Quốc tế Lào Cai
___________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________________
24
- Các chính sách ưu đãi áp dụng đối với nhà đầu tư trong nước :
+ Miễn tiền thuê đất :
Miễn tiền thuê đất 10 năm đối với các dự án đầu tư vào đòa bàn xã Lào Cai
và huyện Bảo Thắng. Miễn tiền thuê đất 13 năm đối với dự án đầu tư thuộc
các ngành nghề lónh vực được ưu đãi đầu tư (quy đònh tại Danh mục A – nghò
đònh 51/1999/NĐ-CP, đồng thời sử dụng bình quân ít nhất 20 lao động.
Miễn tiền thuê đất 15 năm đối với các dự án đầu tư vào đòa bàn các huyện
còn lại (thuộc đòa bàn quy đònh tại Mục I-Danh mục C –nghò đònh
51/999/NĐ-CP.