Tài liệu Luận văn " THÔNG TIN KHÔNG CÂN XỨNG, LỰA CHỌN ĐỐI NGHỊCH VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM " - Pdf 10



§ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP THÔNG TIN KHÔNG CÂN
XỨNG, LỰA CHỌN ĐỐI
NGHỊCH VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM §ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

2
Mục lục
Trang

Lời nói đầu ……………………………………………………………… 4
Chương I: Lý luận chung về thị trường chứng khoán, thông tin
không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo
đức……………………….
8
1. Thị trường chứng khoán…………………………………………………

8

§ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

3
2.2.1.2. Cân bằng riêng……………………………………………………. 23
2.2.2. Cân bằng thị trường trong điều kiện thông tin không cân
xứng……
24
2.2.2.1. Cân bằng chung……………………………………………………

25
2.2.2.2. Cân bằng riêng……………………………………………………. 26
3. Lựa chọn đối nghịch……………………………………………………

29
3.1. Khái niệm…………………………………………………………… 29
3.2. Sự hình thành lựa chọn đối nghịch…………………………………….

29
4. Rủi ro đạo đức…………………………………………………………

32
4.1. Khái niệm…………………………………………………………… 32
4.2. Nguyên nhân xuất hiện rủi ro đạo đức……………………………… 33
5. Tác động của thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro
đạo đức đối với nền kinh tế ………………………………………………

36
5.1. Tác động của thông tin không cân xứng và lựa chọn đối nghịch……

36

rủi ro đạo đức trên thị trường chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Việt Nam ………………………………………………………….………. 47
2.1. Những hạn chế trong việc công bố thông tin và quản lý công bố thông
tin là nguyên nhân xuất hiện thông tin không cân xứng…………………
47
2.2. Chênh lệch giữa giá phát hành lần đầu (hoặc giá phát hành thêm) với
giá giao dịch thị trường của chứng khoán. ………………………………

51
2.3. Giá cả cổ phiếu và chỉ số VN-Index không phản ánh đúng tình hình
sản xuất kinh doanh của các công ty niêm yết và thực tế giao dịch trên thị
trường …………………………………………………………………… 53
2.4. Những dấu hiệu giao dịch nội gián – một biểu hiện của rủi ro đạo đức 55
3. Những tác động của vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối
nghịch và rủi ro đạo đức đến hoạt động của thị trường chứng khoán Việt
Nam ………………………………………………………………………. 59
Chương III: Đề xuất phương hướng giải quyết vấn đề thông tin
không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị
trường chứng khoán Việt Nam
………………………………………………………….
61
1. Khuyến khích thành lập các công ty sản xuất và bán thông tin………… 61
2. Tăng cường sự điều hành của Chính phủ để làm tăng thông tin trên thị
trường chứng khoán ………………………………………………………. 62
3. Khuyến khích thành lập các trung gian tài chính, đặc biệt là các quỹ
đầu tư chứng khoán……………………………………………………… 63
Kết luận……………………………………………………………………
65
Phụ lục 1: Biểu đồ chỉ số cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam từ thời điểm niêm yết đến

án đầu tư hiệu quả nhất. Thị trường tài chính khi đó thực hiện tốt nhất chức
năng huy động và phân bổ vốn cho nền kinh tế.
Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở Việt Nam đặt ra một yêu
cầu cấp thiết là phải phát triển thị trường vốn hiệu quả nhằm cung cấp vốn
trung và dài hạn cho nền kinh tế. Để có một thị trường vốn như thế, đòi hỏi
trước mắt là phải xây dựng được một thị trường chứng khoán vững mạnh. Thị
trường chứng khoán sẽ làm tăng tính thanh khoản của các công cụ huy động
vốn, từ đó thúc đẩy thị trường sơ cấp phát triển. Mặt khác, thị trường chứng
khoán khắc phục được đáng kể hạn chế về không gian, thời gian và quy mô
trong việc huy động vốn. Nhận thức tầm quan trọng đó, sau nhiều cố gắng thị
trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động ngày 20/7/2000,
đánh dấu bước chuyển mình của thị trường tài chính Việt Nam.
Tuy nhiên sau hơn ba năm hoạt động, những kết quả đạt được của thị
trường chứng khoán Việt Nam chưa đáp ứng sự mong mỏi và kỳ vọng của cả
nền kinh tế nói chung và giới đầu tư nói riêng. Khi bàn về thực trạng này, hầu
hết các cuộc hội thảo, bài báo đều đề cập đến vấn đề thông tin. Cụ thể, đó là
những hạn chế trong việc công bố thông tin thể hiện ở tính không kịp thời,
thiếu chinh xác, không đầy đủ và chưa thống nhất về cách thức công bố thông §ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

7
tin. Chất lượng thông tin còn thấp là một yếu tố kìm hãm cầu chứng khoán. Đó
cũng là nguyên nhân dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, một hậu
quả tất yếu của sự không cân xứng về thông tin. Để thị trường chứng khoán đi
vào hoạt động vững mạnh, một điều không thể thiếu là phải hạn chế tối đa sự
bất cân xứng về thông tin của các cuộc giao dịch. Đây là vấn đề đang thu hút
nhiều sự chú ý và cần phải được giải quyết một cách tối ưu.

những năm 1960. Tuy nhiên, phải đến những năm 2000 vấn đề này mới thực
sự được quan tâm và nghiên cứu sâu sắc. Các nghiên cứu gần đây tập trung vào
việc xây dựng các mô hình toán và khảo sát thực trạng thông tin không cân
xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên một số phân đoạn của thị
trường tài chính, phổ biến nhất là thị trường bảo hiểm. Các nghiên cứu đều đã
đem lại những kết quả nhất định, đóng góp vào việc xây dựng một mô hình
tổng thể của học thuyết thông tin không cân xứng.
Thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi thành lập đến nay đã thu hút sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đã có nhiều bài báo, luận văn, luận án và
cả những công trình nghiên cứu cấp bộ, cấp nhà nước tham gia đóng góp, hoàn
thiện hoạt động của thị trường. Tuy nhiên do trong giai đoạn mới hình thành
còn quá nhiều việc phải làm nên chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề
thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường
chứng khoán.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng đóng vai trò chủ đạo trong luận văn vì
những vấn đề đặt ra đều dựa trên cơ sở thực tế khách quan. Bên cạnh đó tôi đã
sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết (thông qua việc tổng hợp và phân
tích các nguồn tài liệu); phương pháp quy nạp và diễn dịch. Với hy vọng mô
hình hoá các quan hệ kinh tế, tôi đã cố gắng vận dụng phương pháp phân tích
cung-cầu thông qua các mô hình cân bằng thị trường ở thị trường có thông tin
không hoàn hảo của một số nhà kinh tế học trên thế giới.
Lợi ích của luận văn §ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

9
Tôi hy vọng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cho các nhà đầu tư và
những người quan tâm đến thị trường chứng khoán, thông tin không cân xứng,

§ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

11
Chương I
Lý luận chung về thị trường chứng khoán,
thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch
và rủi ro đạo đức

1. Thị trường chứng khoán
1.1. Khái niệm
Khái niệm thị trường chứng khoán hình thành và hoàn thiện theo sự phát
triển của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, thị trường chứng
khoán là một yếu tố không thể thiếu đối với việc duy trì và phát triển của nền
kinh tế. Cho đến nay, các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều có
thị trường chứng khoán nhưng định nghĩa về thị trường chứng khoán thì có
nhiều cách khác nhau:
Thị trường chứng khoán là một thị trường có tổ chức nơi các chứng
khoán được mua bán theo những nguyên tắc nhất định (theo Longman
Dictionary of Business English, 1985 – nguyên văn: ”Securities market is an
organized market where securities are bought and sold under fixed rules”)
Theo giáo trình “Thị trường chứng khoán” của trường đại học Ngoại
Thương, 1998, thị trường chứng khoán được định nghĩa là “một thị trường mà
ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục
đích kiếm lời”.
Nghị định 48/CP ngày 11/7/1998 quy định: “Thị trường giao dịch tập
trung là địa điểm hoặc hệ thống thông tin, tại đó các chứng khoán được mua,
bán hoặc là nơi tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán”.

khoán đối với nhà đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của
vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng động và hiệu quả thì §ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

13
càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch
trên thị trường.
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản
ánh một cách tổng hợp và kịp thời, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động
của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một
môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích
thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ
mô.
Các dấu hiệu của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền
kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho
thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng, và ngược lại giá chứng
khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, thị
trường chứng khoán được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công
cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông
qua thị trường chứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ
để tạo ra nguồn thu bù đắp ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ
cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường
chứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của
nền kinh tế.
1.2.2. Cơ cấu của thị trường chứng khoán
Có nhiều căn cứ phân loại thị trường chứng khoán nhưng phổ biến và

Thứ ba, thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu
tư có thể mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường này.
Ngoài cách phân loại trên, có thể phân loại thị trường chứng khoán theo
tính chất tập trung của thị trường, theo đó thị trường chứng khoán bao gồm Sở
giao dịch chứng khoán (thị trường tập trung) và thị trường OTC (thị trường phi §ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

15
tập trung). Tại sở giao dịch, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm, các
lệnh được chuyển đến sàn giao dịch và tham gia vào quá trình khớp lệnh để
hình thành giá giao dịch. Trên thị trường OTC, các giao dịch (cả sơ cấp và thứ
cấp) được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán khắp
quốc gia và được nối với nhau bằng mạng máy tính. Giá cả hình thành theo
phương thức thoả thuận.
1.2.3. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
Nguyên tắc cạnh tranh
Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh quan
hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công
ty. Trên thị trường sơ cấp, các tổ chức phát hành cạnh tranh nhau để bán chứng
khoán của mình cho nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng
khoán theo các mục tiêu của riêng mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu
tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất và giá
cả được hình thành theo phương thức đấu giá.
Nguyên tắc công bằng
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia
thị trường. Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân
thủ những quy định chung, được bình đẳng trong việc chi sẻ thông tin và trong
việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó.

không thể diễn ra một cách tuỳ tiện.
1.3. Các thành phần tham gia trên thị trường chứng khoán
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được
chia thành ba nhóm chính: tổ chức phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức khác
có liên quan.
1.3.1. Tổ chức phát hành
Tổ chức phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị
trường chứng khoán. Tổ chức phát hành bao gồm Chính phủ và chính quyền
địa phương (phát hành trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương), các §ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

17
công ty (phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty) và các tổ chức tài chính khác
đóng vai trò cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng khoán.
1.3.2. Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua bán chứng khoán trên thị trường
chứng khoán. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia
mua bán chứng khoán với mục đích kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, trong đầu tư
thì lợi nhuận lại luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và
ngược lại. Chính vì vậy, các nhà đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình
thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức độc chấp nhận rủi ro của
mình.
Các nhà đầu tư có tổ chức, hay còn gọi là các định chế đầu tư, thường
xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Các tổ chức này
thường có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm
để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư. Một số nhà đầu tư
chuyên nghiệp chính trên thị trường chứng khoán là các công ty đầu tư, các

gia không thể thiếu của các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán như:
các cơ quan quản lý nhà nước, sở giao dịch chứng khoán, hiệp hội các nhà kinh
doanh chứng khoán, tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán…
2. Thông tin không cân xứng.
Thông tin không cân xứng và những bằng chứng lý thuyết cũng như thực
nghiệm về vấn đề này hiện nay đóng vai trò là công cụ cơ bản của mọi nhà
kinh tế học tài chính trong nền kinh tế hiện đại. Thông tin không cân xứng là
một hiện tượng có ý nghĩa quan trọng đối với một số vấn đề của kinh tế học và
tài chính từ kinh tế học vĩ mô và vi mô (như vấn đề các công cụ nợ của doanh
nghiệp, các chứng chỉ đầu tư và cổ tức, mức đan sâu, rộng và lâu dài của các
chu kỳ kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế dài hạn) đến các vấn đề liên quan đến
kinh tế quốc tế và nguồn gốc của các cuộc khủng hoảng tài chính. Để tạo cơ sở
cho những phân tích tiếp theo của luận văn, trong phần này tôi xin trình bày §ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

19
một cách chi tiết học thuyết Thông tin không cân xứng và các khái niệm có liên
quan.
2.1. Khái niệm về thông tin không cân xứng.
Trong mọi nền kinh tế, các giao dịch về tài chính đều hướng đến mục
tiêu cuối cùng là chuyển nguồn vốn nhàn rỗi đến những dự án đầu tư hiệu quả
nhất với chi phí thấp nhất có thể. Nền sản xuất hàng hoá và dịch vụ của xã hội
liên tục phát triển làm gia tăng không ngừng giá trị thặng dư. Chịu tác động bởi
chi phí cơ hội của việc giữ tiền, những chủ nhân của phần giá trị thặng dư đó
luôn tìm kiếm các cơ hội đầu tư tốt nhất. Diễn ra đồng thời với quá trình đó là
sự huy động vốn của các chủ thể kinh tế, những người muốn thành lập hoặc mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự gặp nhau của hai luồng nhu cầu trên
tạo nên các giao dịch về tài chính và tổng hợp tất cả các giao dịch tài chính đó

bản và cố hữu, một mâu thuẫn tạo nên cơ sở tồn tại của các điều kiện cho vay
trong các tổ chức tài chính, đó là sự không cân xứng về thông tin giữa người
cho vay và người đi vay. Người cho vay đóng vai trò cung cấp vốn trong giao
dịch tài chính và thường không có sự khác biệt lớn về đồng vốn giữa những
người cho vay (sự khác biệt chủ yếu nằm ở thời hạn cho vay và các ràng buộc
liên quan). Nói cách khác, những thông tin về phía đối tác của mình mà người
đi vay có được là tương đối đồng nhất. Người đi vay có thể huy động từ một
trong những người cung cấp vốn mà không cần quan tâm nhiều đến bên cho
vay vì chỉ cần vay được vốn là họ đã đạt được gần như hoàn toàn mục đích của
một giao dịch tài chính.
Mọi chuyện hoàn toàn khác đối với người cho vay. Họ có quyền lựa
chọn một trong số những người hỏi vay, lúc này họ có cả quyền sử dụng và
định đoạt đối vơi đồng vốn, nghĩa là họ có quyền sở hữu đầy đủ. Nhưng ngay
sau khi giao dịch tài chính diễn ra, quyền sở hữu đó bị chia đôi, quyền sử dụng
vốn đã được chuyển sang phía người vay vốn! Nếu không có vật thế chấp hoặc
bảo lãnh của một tổ chức tài chính mạnh, người cho vay chỉ còn sự thừa nhận
về mặt pháp lý đối với khoản tiền đó, họ không cầm giữ và cũng không sử
dụng nó. Điều này đồng nghĩa với việc rủi ro thu hồi vốn tăng lên và mức độ
rủi ro phụ thuộc hoàn toàn vào người vay vốn. §ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

21
Do vậy, những gì người cho vay phải làm để hạn chế rủi ro là phải thu
thập và phân tích các thông tin liên quan đến người vay vốn. Họ cần biết người
đi vay sử dụng đồng vốn như thế nào, mức độ rủi ro cao hay thấp, sức mạnh tài
chính, mức độ tin tưởng, nguy cơ dẫn đến việc sử dụng vốn không đúng cam
kết của người vay, … Tuy nhiên những thông tin như thế đến với người cho
vay thường không đầy đủ hoặc thiếu chính xác dẫn đến những lựa chọn của


22
Có thể định nghĩa khái niệm thông tin không cân xứng theo nhiều cách
khác nhau. Tuy nhiên mọi trường hợp không cân xứng về thông tin đều có ba
đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, có sự khác biệt về thông tin giữa các bên tham gia giao dịch.
Thứ hai, có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa hai bên.
Thứ ba, trong hai bên có một bên có thông tin chính xác hơn.
Mỗi thị trường đều đạt đến một trạng thái cân bằng sau sự tương tác qua
lại giữa người mua và người bán dưới sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật.
Trên cơ sở sự cân bằng đó, các quan hệ kinh tế được phân tích chi tiết hơn. Tuy
nhiên, vị trí cân bằng trên các thị trường có thông tin không cân xứng có nhiều
thay đổi. Để phân tích chi tiết hơn sự tác động của thông tin không cân xứng
đến hoạt động của thị trường, ta cần nghiên cứu cách đạt đến cân bằng thị
trường và các yếu tố quyết định đến sự cân bằng đó.
Trên mỗi thị trường, đặc điểm của sự không cân xứng về thông tin và
tính chất tác động đến cân bằng thị trường không giống nhau. Vai trò của thông
tin trên thị trường càng cao thì vấn đề thông tin không cân xứng trên các thị
trường đó càng rõ rệt và thu hút nhiều sự quan tâm của những người tham gia.
Thông tin không cân xứng xuất hiện phổ biến trên các thị trường tài chính, đặc
biệt là thị trường tín dụng và bảo hiểm. Trong phần dưới đây, tôi xin trình bày
sự cân bằng trên các thị trường bảo hiểm xuất hiện thông tin không cân xứng
dựa trên một nghiên cứu về thị trường bảo hiểm thu hoạch nông sản của Mỹ do
hai nhà kinh tế học Shiva S.Makki và Agapi Somwaru thuộc Vụ Kinh tế học
Thị trường và Thương mại, Viện Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
thực hiện tháng 4, 2001. Việc lựa chọn thị trường bảo hiểm là xuất phát từ
nhiều nguyên nhân: thứ nhất, bảo hiểm là lĩnh vực mà thông tin đóng vai trò
đặc biệt quan trọng và thể hiện rõ ràng nhất những đặc điểm của thông tin
không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức; thứ hai, rủi ro đạo đức
trên thị trường này thường xuyên xảy ra vì sau khi được bảo hiểm, người được

thị trường.
Giả sử một cá nhân X muốn mua một hợp đồng bảo hiểm để ổn định thu
nhập trước các rủi ro. Để đơn giản ta giả thiết có hai khả năng xảy ra: có tổn §ç Hoµi Giang, Líp A4 – K38B - KTNT

24
thất và không có tổn thất. Giả sử tiếp rằng X muốn tối đa hoá thu nhập. Nếu
không có hợp đồng bảo hiểm, anh ta sẽ có tổng thu nhập kỳ vọng là:
V(m,p) = (1 - p)U(m) + pU(m – d) (1)
Trong đó:
m: thu nhập
p: xác suất xảy ra tổn thất
U(x): hàm thu nhập
V: tổng trị giá thu nhập kỳ vọng.
Nếu mua bảo hiểm với mức phí bảo hiểm a và mức bồi thường i, tổng
thu nhập kỳ vọng của X là:
V(a,i,p) = (1 – p)U(m – a) + pU(m – d – a + i) (2)
Giả sử rằng X là người không thích mạo hiểm, khi đó U luôn giảm (tức
là U’(x) < 0) đồng thời đồ thị của U là một đường cong lõm (do đó V cũng là
một đường cong lõm). Trong các hợp đồng bảo hiểm, X sẽ chọn hợp đồng có
V cực đại.
Giả sử tiếp rằng thu nhập từ các hợp đồng bảo hiểm của công ty bảo
hiểm phụ thuộc vào các biến ngẫu nhiên. Do vậy, khi bán được hợp đồng bảo
hiểm, công ty xẽ thu được (1 - p)a và phải trả p(i - a) khi tổn thất xảy ra. Lợi
nhuận của công ty là:
 (a,i,p) = (1 - p)a - p(i - a) (3)
Trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận của công ty bằng 0 nên:
(1 - p)a - p(i - a) = 0 (4)

khách hàng có độ rủi ro phù hợp. Thị trường đạt đến cân bằng tại nhiều điểm
ứng với từng loại khách hàng.
2.2.1.1. Cân bằng chung

Trích đoạn Cõn bằng thị trường trong điều kiện thụng tin khụng cõn Nguyờn nhõn xuất hiện rủi ro đạo đức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status