giải pháp nâng cao sức cạnh tranh mặt hàng chè xuất khẩu trên thị trường mỹ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 10

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1
Cơ sở lý luận chung về sức cạnh tranh của hàng hóa và sự cần thiết phải
nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu 6
1.1 Cơ sở lý luận chung về sức cạnh tranh của hàng hóa 6
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và sức cạnh tranh 6
1.1.2 Các cấp độ của sức cạnh tranh 7
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu
9
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu 13
1.1.5 Các công cụ thường dùng để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa
xuất khẩu 17
1.1.6 Kinh nghiệm của một số nước về nâng cao sức cạnh tranh của mặt
hàng chè xuất khẩu trên thị trường Mỹ 19
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất
khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ 23
1.2.1 Vai trò to lớn của mặt hàng chè xuất khẩu đối với Việt Nam: 23
1.2.2 Mỹ là một thị trường nhập khẩu chè đầy tiềm năng đối với Việt
Nam 24
1.2.3 Những cơ hội và thách thức đối với mặt hàng chè xuất khẩu của
Việt Nam trên thị trường Mỹ trong điều kiện hội nhập WTO 26
CHƯƠNG 2
Thực trạng sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam
trên thị trường Mỹ trong thời gian qua 30
2.1 Những đặc điểm và quy định của thị trường Mỹ đối với mặt hàng
chè xuất khẩu 30
2.1.1 Đặc điểm thị trường Mỹ 30
2.1.2 Các quy định của thị trường Mỹ đối với mặt hàng chè nhập khẩu 37
1
2.2 Khái quát chung về tình hình xuất khẩu mặt hàng chè của Việt

3.2.2 Giải pháp từ phía Hiệp hội Chè Việt Nam 68
3.2.3 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 69
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
3
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay Việt Nam là một trong 12 nước đứng đầu thế giới cả về diện tích,
sản lượng và khối lượng xuất khẩu chè. Xuất khẩu chè đang từng bước trở thành
ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam, đóng góp một phần đáng kể vào tổng thu
nhập quốc dân. Vì vậy, nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng xuất khẩu chủ lực
này dựa trên phát huy hiệu quả lợi thế so sánh của đất nước đang là vấn đề mà Nhà
nước, cơ quan các cấp đặc biệt quan tâm
Mỹ là một trong những thị trường nhập khẩu chè thuộc diện lớn nhất trên thế
giới. Tuy nhiên,sản lường chè của Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ chỉ chiếm một tỷ lệ
rất nhỏ. Từ đó có thể thấy, sức cạnh tranh của mặt hàng chè Việt Nam trên thị
trường Mỹ còn rất hạn chế. Để giải quyết những vấn đề khó khăn mà ngành chè
Việt Nam đang gặp phải, đồng thời giúp cho doanh nghiệp có thêm thông tin,giải
pháp cụ thể để từ đó nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu trên thị
trường thế giới nói chung, thị trường Mỹ nói riêng, em quyết định chọn đề tài:
”Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh mặt hàng chè xuất khẩu trên thị trường
Mỹ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”
2.Mục đích nghiên cứu
Từ việc phân tích tình hình xuất khẩu chè của nước ta sang thị trường Mỹ và
thực trạng sức cạnh tranh của mặt hàng này,ta sẽ chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu
so với những đối thủ cạnh tranh khác. Để từ đó ta có những giải pháp thích hợp
nhằm nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu trên thị trường Mỹ
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam
- Pham vi nghiên cứu là nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất

doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh,
tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.Mục tiêu của
cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của
chủ thể tham gia cạnh tranh.
Theo từ điển kinh tế, cạnh tranh được hiểu là quá trình ganh đua hoặc tranh
giành giữa ít nhất hai đối thủ nhằm có được những nguồn lực hoặc ưu thế về sản
phẩm hoặc khách hàng về phía mình, đạt được lợi ích tối đa.
Các quan niệm trên đây có sự khác biệt trong diễn đạt và phạm vi, nhưng có
những nét tương đồng về nội dung. Từ đó, có thể đưa ra một quan niệm tổng quát
sau đây về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường : ”Cạnh tranh là quan hệ kinh tế
mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh
tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như
các điều kiện sản xuất, khu vực thị trường có lợi nhất.Mục đích cuối cùng của các
chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản
6
xuất – kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự
tiện lợi.”
1.1.1.2 Khái niệm về sức cạnh tranh
Cạnh tranh ở đây là nói đến hành vi của chủ thể, vì vậy có hành vi của doanh
nghiệp kinh doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế không có hành
vi của hàng hóa. Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế
về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và
phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức
mạnh, một khả năng hoặc một năng lực nào đó của chủ thể, được gọi là sức cạnh
tranh của chủ thể đó hoặc khả năng cạnh tranh của chủ thể đó. Khi muốn chỉ một
sức mạnh, một khả năng duy trì được vị trí của một hàng hóa nào đó trên thị trường
( hàng hóa này phải thuộc một doanh nghiệp nòa đó, một quốc gia nào đó ) thì ta
cũng dùng thuật ngữ “sức cạnh tranh của hàng hóa”, đó cũng là chỉ mức độ hấp dẫn
của hàng hóa đối với khách hàng.
Sức cạnh tranh của hàng hóa có thể hiểu là sự vượt trội so với các sản phẩm

Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp ( HLFIC ) của OECD định
nghĩa sức cạnh tranh của doanh nghiệp là “ khả năng của các doanh nghiệp, các
ngành, các quốc gia hoặc khu vực tạo ra thu nhập tương đối cao hơn và mức độ sử
dụng lao động cao hơn, trong khi vẫn đối mặt với cạnh tranh quốc tế.”.Đây là một
cách định nghĩa đã kết hợp cả cấp độ doanh nghiệp, ngành, và cấp độ quốc gia.
Xét ở góc độ ngành, một ngành kinh tế được coi là có năng lực cạnh tranh
khi các doanh nghiệp trong ngành và sản phẩm chủ đạo của ngành có sức cạnh
tranh trên thị trường. Các yếu tố quyết định sức cạnh tranh của một ngành kinh tế
bao gồm: lợi thế so sánh của ngành, môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh
doanh của ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành và sức cạnh
tranh của sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù của ngành.
1.1.2.3 Sức cạnh tranh của hàng hóa
Sức cạnh tranh của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó trên thị trường
trong nước và quốc tế là sự thể hiện tính ưu việt hoặc tính hơn hẳn của nó cả định
tính và định lượng với các chỉ tiêu như: chất lượng sản phẩm, thương hiệu và mức
độ vệ sinh công nghiệp hoặc vệ sinh thực phẩm, khối lượng và sự ổn định chất
lượng của sản phẩm, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm, môi trường thương mại, mức độ
8
giao dịch và uy tín của sản phẩm trên thị trường, sự ổn định về môi trường kinh tế
vĩ mô và chính sách thương mại như thuế, tỷ giá tín dụng, đầu tư, mức độ bảo hộ…
và cuối cùng là chỉ tiêu về giá thành và giá cả sản xuất.
Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển của mỗi nền kinh tế thì các quan
hệ thương mại cũng phát triển, theo đó diễn ra sự mở rộng thị trường trao đổi hàng
hóa và dịch vụ. Mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đưa ra thị trường sẽ được người
tiêu dùng phản ứng với các mức độ cao thấp khác nhau. Sự phản ứng của người tiêu
dùng thể hiện qua việc mua hoặc không mua sản phẩm, đó là biểu hiện tổng quát
cuối cùng về sức cạnh tranh của sản phẩm đó. Nói cách khác, cạnh tranh giữa các
sản phẩm trên một thị trường là quá trình thể hiện khả năng hấp dẫn tiêu dùng của
các sản phẩm đối với khách hàng trên một thị trường cụ thể và trong một thời gian
nhất định.

với tăng trưởng thu nhập và việc làm mà không gặp phải các khó khăn trong cán
cân thanh toán. Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia được xác định bởi năng suất
của nền kinh tế quốc gia đó, trong khi đó năng suất là yếu tố cơ bản tạo thành sức
mạnh cạnh tranh quốc tế. Tăng trưởng kinh tế tác động trực tiếp đến sức mua của xã
hội, tạo điều kiện để sản phẩm mở rộng quy mô sản xuất.
Nhóm các yếu tố thuộc về khả năng tăng trưởng kinh tế đất nước có 3 yếu tố
đặc biệt liên quan đến viễn cảnh tăng trưởng kinh tế đất nước và tạo ra khả năng
cạnh tranh: Tài trợ và nợ nước ngoài, tiết kiệm và đầu tư, tỷ giá hối đoái.
1.1.3.3 Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
* Môi trường kinh doanh vĩ mô ở trong và ngoài nước
- Nhóm các yếu tố trong môi trường nội địa
Môi trường nội địa bao gồm (1) môi trường luật pháp, chính trị: sự ổn định
chính trị, hệ thống pháp luật đầy đủ, nghiêm minh sẽ tạo điều kiện nâng cao vị thế
của hàng hóa xuất khẩu trên thị trường quốc tế.Trong đó, hệ thống chính sách điều
tiết kinh tế có tác động rõ rệt nhất, như chính sách thương mại có ảnh hưởng đến cơ
chế khuyến khích xuất khẩu, rào cản thương mại trong nước và tiếp cận thị trường
nước ngoài; chính sách tỷ giá liên quan đến tỷ giá hối đoái thực và tỷ giá hối đoái so
sánh thực giữa nước xuất khẩu và nước bạn hàng; (2) môi trường kinh tế: là sự ổn
định và phát triển của nền kinh tế trong nước: (3) cấu trúc cạnh tranh: là sự đa dạng
nhiều hình thức kinh doanh, sự tham gia của các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài
nước.
- Nhóm các yếu tố của thị trường nước ngoài
Là các yếu tố tương tự như những yếu tố trong môi trường nội địa, ngoài ra
còn kèm theo các yếu tố khác: (4) trình độ công nghệ: sự chênh lệch về trình độ và
10
hiệu quả ứng dụng công nghệ; (5) cấu trúc phân phối: là khả năng phân phối có hiệu
quả sản phẩm ra thị trường nước ngoài; (6) yếu tố địa lý, cơ sở hạ tầng của nước
ngoài; (7) các yếu tố văn hóa: là sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo, con người dẫn
đến những thói quen tiêu dùng, tập quán kinh doanh khác nhau.
*Môi trường kinh doanh vi mô, bao gồm:

Nhân tố vốn hay tư bản bao gồm tiền và tài sản dùng để mua trang thiết bị,
vật tư, công nghệ, lao động và các nhu cầu khác cho sản xuất Trong nhân tố này
cũng cần các tri thức về quản lý tư bản sao cho việc sử dụng có hiệu quả. Mặt khác
trong kinh doanh luôn tồn tại nhu cầu về vốn. Doanh nghiệp nào tìm được biện
pháp có thể giải quyết hữu hiệu vấn đề vốn sẽ có thuận lợi lớn trong hoạt động kinh
doanh của mình và dễ dàng chiếm ưu thế trong cuộc cạnh tranh với đối thủ.
*Nhân sự
Ngày nay tất cả các doanh nghiệp dù là mới thành lập,hay hoạt động lâu
năm, dù có xuất khẩu hay không xuất khẩu hàng hóa thì nhân sự vẫn là vấn đề then
chốt đối với sự tồn tại của doanh nghiệp.Một doanh nghiệp muốn có những chiến
lược cạnh tranh tốt thì họ cần một đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn, năng lực
quản lý bởi họ chính là những người sẽ định hướng cho sự phát triển của doanh
nghiệp. Nhân sự có thể coi là tài nguyên của doanh nghiệp, tuy nhiên để có thể quản
lý tốt được nhân sự là một vấn đề không hề đơn giản, điều đó đòi hỏi nghệ thuật của
người lãnh đạo.
*Công nghệ sản xuất
Công nghệ là yếu tố không kém phần quan trọng đối với sản xuất của các
doanh nghiệp trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập. Công nghệ đang dần trở
thành nhân tố cạnh tranh đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vì chỉ có những công
nghệ sản xuất tiên tiến mới có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng đồng thời
đảm bảo được năng suất lao động cao.
*Thương hiệu của sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, yếu tố
thương hiệu ngày càng đóng vai trò quan trọng. Một thương hiệu sản phẩm chứa
đựng trong đó nhiều hơn một cái tên, một logo….vì nó chính là sự thể hiện năng
lực, uy tín, tiềm năng của doanh nghiệp cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm. Có
thể nói thương hiệu là sự phản ánh trung thực việc sản phẩm đó đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng như thế nào. Chỉ có những sản phẩm có thương hiệu mới đủ sức cạnh
tranh trong một môi trường quốc tế với rất nhiều đối thủ từ khắp các khu vực với
những lợi thế riêng vốn có của mình.

Đây là một trong những chỉ tiêu hay sử dụng nhất để đánh giá mức độ chiếm
lĩnh thị trường của mình so với đối thủ cạnh tranh. Thị phần của sản phẩm xuất
khẩu một nước trong một thời kỳ ( thường được tính trong một năm ) là tỷ lệ phần
trăm mà sản phẩm xuất khẩu của một nước đã chiếm được trong thời kỳ đó.
13
Mỗi loại hàng hóa nhất định thường có những khu vực thị trường riêng với số
lượng khách hàng nhất định. Khi hàng hóa đảm bảo được các yếu tố bên trong như
có chất lượng tốt hơn, giá cả thấp hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
tốt v v…và có được những yếu tố bên ngoài như cơ hội kinh doanh xuất hiện,
công tác xúc tiến bán hàng hiệu quả, thương hiệu sản phẩm mạnh, kênh phân phối
được mở rộng v.v sẽ làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm và mở rộng được thị
trường tiêu thụ, buộc đối thủ cạnh tranh phải nhường lại từng thị phần đã bị chiếm
lĩnh. Để có thể duy trì và chiếm lĩnh được thị trường, sự có mặt kịp thời của hàng
hóa trên thị trường đáp ứng đòi hỏi của khách hàng và sự khéo léo, tài tình trong
việc tổ chức mạng lưới, chi nhánh phân phối để thu hút được khách hàng với quy
mô lớn là những nhân tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trên
thị trường. Thị phần của hàng hóa xuất khẩu trên thị trường thường được tính theo
công thức sau:
MS =
%100x
M
MA

Trong đó:
MS là thị phần của hàng hóa.
MA là số lượng hàng hóa A được tiêu thụ trên thị trường
M là tổng số lượng hàng hóa cùng loại được tiêu thụ trên thị trường.
Độ lớn của chỉ tiêu này phản ánh sức cạnh tranh của mặt hàng và vị trí của
quốc gia trên thị trường thế giới. Một mặt hàng có thị phần càng lớn trên thị trường
thì mặt hàng đó càng có sức cạnh tranh cao, tiềm năng cạnh tranh lớn. Ngược lại,

chiến lược mà nhiều doanh nghiệp đã áp dụng và đã thành công. Những doanh
nghiệp này sẵn sàng chấp nhận một mức lãi suất thấp nhưng bù lại có được số
lượng tiêu thụ sản phẩm lớn,và từ đó nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm với
người tiêu dùng.
Giá bán một đơn vị sản phẩm có thể tính là tổng của giá thành xuất
xưởng,chi phí vận chuyển, chi phí quảng cáo và lợi nhuận dự kiến của một sản
phẩm.
Công thức:
Zxk = Zx + C1 +C2 + Pdk
Trong đó:
Zxk: Giá bán một sản phẩm xuất khẩu
Zx : Giá thành xuất xưởng cho 1 sản phẩm
C1 : Chi phí vận chuyển, bảo hiểm cho 1 sản phẩm
C2 : Chi phí quảng cáo, tiếp thị cho 1 sản phẩm
Pdk: Lợi nhuận dự kiến cho 1 sản phẩm
15
1.1.4.2 Các chỉ tiêu định tính
*Chất lượng của mặt hàng xuất khẩu
Chất lượng của hàng hóa thể hiện ở giá trị sử dụng và thời gian sử dụng của
sản phẩm. Trong xã hội phát triển, yêu cầu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp, quốc
gia là phải cung ứng những sản phẩm có chất lượng cao để thỏa mãn nhu cầu ngày
càng khắt khe của người tiêu dùng. Người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho
những sản phẩm, dịch vụ cùng loại nhưng có chất lượng cao hơn. Đặc biệt đối với
những mặt hàng thực phẩm thì chất lượng hàng hóa được xem như là tiêu chí quan
trọng nhất, có ý nghĩa quyết định tới sức cạnh tranh của hàng hóa.Trước sự cạnh
tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới, mặt hàng thực phẩm sản xuất ra
muốn tiêu thụ được phải đảm bảo được chất lượng theo chuẩn mực và chất lượng
vượt trội. Những mặt hàng này phải đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng chuẩn mực
theo các tiêu chuẩn ISO quốc tế và phải được các tổ chức quốc tế xét duyệt và cấp
chứng chỉ ISO. Chất lượng vượt trội được hiểu là sản phẩm phải luôn được đổi mới,

Có thể hiểu công cụ cạnh tranh là tập hợp các yếu tố, các chính sách, kế
hoạch, chiến lược mà doanh nghiệp sử dụng nhằm tạo ưu thế so với đối thủ cạnh
tranh. Việc lựa chọn các công cụ và biện pháp nào cho phù hợp để áp dụng trong
từng trường hợp cụ thể là cả một nghệ thuật trong cạnh tranh. Nếu sử dụng đúng thì
dành thắng lợi và ngược lại, không đúng sẽ nhận lấy thất bại, khi đó không những
không duy trì được vị thế mà còn làm cho vị thế đó giảm đi so với trước đó.
1.1.5.1 Cạnh tranh bằng sản phẩm
*Cạnh tranh bằng cách đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu
Đa dạng hóa sản phẩm thực chất là quá trình mở rộng danh mục hàng hóa,
tạo nên một cơ cấu sản phẩm có hiệu quả của doanh nghiệp, của quốc gia. Sự tiến
bộ không ngừng của khoa học công nghệ, cùng với sự phát triển ngày càng cao của
nhu cầu thị trường khiến vòng đời của sản phẩm đang ngày càng bị rút ngắn lại.
Doanh nghiệp cần có nhiều chủng loại sản phẩm hàng hóa để hỗ trợ cho nhau.
Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp có thể thực hiện đa dạng hóa sản
phẩm với các hình thức khác nhau. Có thể dùng hình thức hoàn thiện và cải tiến các
loại sản phẩm đang sản xuất để giữ vững thi trường hiện tại và thâm nhập thị
trường mới, có thể đa dạng hóa theo chiều sâu của mỗi loại sản phẩm hoặc đa dạng
hóa theo bề rộng nhu cầu các loại sản phẩm, hoặc có thể sản xuất ra những sản
phẩm có giá trị sử dụng khác nhau nhưng có chung chủng loại nguyên liệu gốc.
*Cạnh tranh bằng chất lượng mặt hàng xuất khẩu
Có thể hiểu chất lượng sản phẩm là mức độ, là thước đo biểu thị giá trị sử
17
dụng của nó. Chất lượng sản phẩm là vũ khí cạnh tranh lợi hại trên thị trường. Khi
nền kinh tế thị trường phát triển, thu nhập của người tiêu dùng ngày càng cao thì
chất lượng sản phẩm ngày càng được chú trọng. Đặc biệt, để đưa hàng hóa vào
những thị trường khó tính như EU, Mỹ, Nhật Bản thì chất lượng hàng hóa cần phải
đạt được mức “chất lượng hàng hóa quốc tế” và phải được một số tổ chức có uy tín
chứng nhận. Tổ chức tiêu chuẩn hàng hóa quốc tế ISO đưa ra khái niệm: “Chất
lượng sản phẩm là tổng thể những chỉ tiêu, những đặc trưng kinh tế kỹ thuật của sản
phẩm, thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định

nghiệp được chia thành: A là kênh trực tiếp ngắn, từ doanh nghiệp đưa sản phẩm
đến tay người tiêu dùng, B là kênh trực tiếp dài ( từ DN tới người bán lẻ, sau đó đến
tay người tiêu dùng), C là kênh gián tiếp ngắn ( từ DN tới các đại lý, tiếp đó phân
tới các người bán lẻ và sau cùng đến tay người tiêu dùng).
Bên cạnh đó, để thúc đẩy quá trình bán hàng. doanh nghiệp có thể tiến hành
một loạt các hoạt động hỗ trợ như: Tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng, tổ chức
hội nghị khách hàng, tham gia các tổ chức liên kết kinh tế v…v
1.1.6 Kinh nghiệm của một số nước về nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng
chè xuất khẩu trên thị trường Mỹ
Với mục đích có được định hướng và giải pháp đúng đắn để phát triển mặt
hàng chè xuất khẩu sang thị trường Mỹ, dưới đây đề án xin được đề cập đến một số
kinh nghiệm của các nước xuất khẩu chè sang thị trường Mỹ đã đạt được thành
công trong thời gian qua là Trung Quốc, Ấn Độ và để từ đó rút ra được bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam trên con đường phát triển.
1.1.6.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một nước có đất tự nhiên rộng, người đông, nhưng đất canh tác
ít (chiếm khoảng 10,9% tổng diện tích đất tự nhiên). Tuy nhiên, sau hơn 20 năm
thực hiện cải cách và mở cửa, ngành nông nghiệp Trung Quốc nói chung và ngành
chè nói riêng đã có được những bước phát triển mạnh và đạt được nhiều thành tựu
quan trọng. Hiện tại, Trung Quốc là một trong 4 quốc gia có sản lượng xuất khẩu
chè lớn nhất thế giới (Bảng phụ lục 2), đồng thời chè Trung Quốc cũng là một trong
những thương hiệu có uy tín lâu năm trên thị trường. Để có được những thành công
như vậy, Chính phủ cũng như ngành chè Trung Quốc đã thực hiện một số biện pháp
căn bản sau:
Trước hết, Trung Quốc đã hướng vào việc nâng cao giá trị chè xuất khẩu
thông qua tăng đầu tư vào khâu bảo quản và chế biến chè bắt đầu từ những năm cải
cách và mở cửa nền kinh tế. Trung Quốc đã xây dựng hơn 1000 kho bảo quản chè,
19
trong đó có 78% là các kho có hệ thống điều khiển nhiệt, ẩm hiện đại nhằm mục
đích giảm những tổn thất sau thu hoạch. Đối với khâu chế biến: Trung Quốc đã xây

thêm với hệ số trung bình là 1,5. Các cơ quan được phép ký hợp đồng không hạn
20
chế mức lương với cán bộ nghiên cứu.
Cuối cùng là những kinh nghiệm của Trung Quốc trong điều chỉnh chính sách
nông nghiệp nói chung cho phù hợp với quy định của WTO. Trong quá trình gia
nhập WTO, chính phủ Trung Quốc đã phát triển khuôn khổ pháp lý và sửa đổi các
luật lệ, quy định; dỡ bỏ các hạn chế về số lượng đối với hàng xuất khẩu và nhập
khẩu; mở rộng quyền trao đổi ngoại thương từ hệ thống phê duyệt đến đăng
ký Bên cạnh đó, chính phủ tiếp tục thực hiện điều chỉnh chính sách nông nghiệp
theo hướng thúc đẩy hình thành hệ thống thông tin thị trường, hệ thống tiêu chuẩn,
an ninh và chất lượng, điều chỉnh các chính sách bảo hộ và hỗ trợ cho nông nghiệp
đang áp dụng cho phù hợp với quy định của WTO, tái cấu trúc nghiên cứu khoa học
công nghệ nông nghiệp và hệ thống khuyến nông. Những điều chỉnh chính sách
nông nghiệp theo hướng thông thoáng hơn này đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi
cho chè của Trung Quốc xuất khẩu ra thị trường thế giới và có được những lợi thế
cạnh tranh nhất định.
1.1.6.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ
Ấn Độ là một trong 4 nước có sản lượng chè xuất khẩu lớn nhất thế giới.
Trong thời gian gần đây, tuy sản xuất được duy trì ở mức ổn định nhưng tốc độ sản
xuất chè của Ấn Độ đang giảm dần do nhu cầu tiêu thụ trong nước ngày càng tăng
lên. Năm 2004, lượng chè xuất khẩu của Ấn Độ chỉ chiếm 12% tổng lượng chè xuất
khẩu của thế giới, giảm 30% so với những năm 90 và 70% so với những năm 50
trước đây. Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn là một cường quốc về sản xuất và xuất khẩu chè,
những biện pháp nâng cao sức cạnh tranh chè xuất khẩu đã được Ấn Độ áp dụng
thành công là:
Ấn Độ tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, lấy chất lượng làm nền tảng
cạnh tranh với sản phẩm các nước khác. Ấn Độ có truyền thống trồng chè lâu đời
với những giống chè cho năng suất cao và kỹ thuật canh tác hiệu quả như kỹ thuật
trồng chè ô vuông, cây bóng mát, cây phân xanh…Đồng thời Ấn Độ còn tập trung
cho phát triển khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm và đã sử dụng

đồng bộ giữa vùng nguyên liệu và sản xuất, tận dụng lợi thế của từng vùng, từ đó
xây dựng vùng sản xuất chuyên canh tập trung xuất khẩu quy mô lớn.
Thứ hai, các doanh nghiệp sản xuất chè Việt Nam cần tăng cường đầu tư
trang thiết bị dây chuyền công nghệ chế biến chè tiên tiến, đảm bảo sự kịp thời,
đồng bộ để nâng cao chất lượng sản phẩm chè xuất khẩu, đáp ứng được thị hiếu
ngày càng phong phú của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, cần phải đầu tư đồng bộ cơ
sở hạ tầng phục vụ xuất khẩu chè và tập trung nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các
22
tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.
Thứ ba, cần phải đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại chè xuất khẩu, tăng
cường đổi mới hệ thống tiếp thị phát triển các khâu từ sản xuất, chế biến đến xuất
khẩu, coi trọng chữ tín để tạo lập thị trường mới. Đồng thời chú trọng đến công tác
đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ có chuyên môn trong trồng và
sản xuất chè.
Cuối cùng là cần điều chỉnh hệ thống chính sách và quản lý liên quan tới
xuất khẩu chè. Trước hết các cơ quan chức năng cần tăng cường hơn nữa những
biện pháp kiểm soát sản xuất chè từ khâu trồng, chế biến, bảo quản đến xuất khẩu.
Đồng thời, Chính phủ ta cần từng bước xây dựng hệ thống tiêu chuẩn về chất lượng
chè phù hợp với những tiêu chuẩn quốc tế hiện nay.
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu của
Việt Nam trên thị trường Mỹ
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, đặc biệt sau khi Hiệp
định thương mại Việt - Mỹ (BTA) được ký kết và chính thức có hiệu lực vào năm
2001, và sự kiện Việt Nam tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, quan
hệ thương mại quốc tế giữa Việt Nam với các nước khác nói chung và Mỹ nói riêng
ngày càng được mở rộng. Đồng thời trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt nam,
tỷ lệ mặt hàng chè xuất khẩu đang ngày càng gia tăng, đóng góp một phần đáng kể
vào tổng KNXK của cả nước, và dần trở thành một trong những ngành phát triển
mũi nhọn của nước ta. Đứng trước những cơ hội cũng như những thách thức đó,
nâng cao sức cạnh tranh của chè xuất khẩu là một vấn đề rất cấp thiết được cấp

nhất chính là việc Việt Nam gia nhập tổ chức WTO. Để có được những thành công
đáng kể như thế thì hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động xuất khẩu chè
nói riêng đã có đóng góp rất lớn trong việc mở rộng hơn, tạo mối quan hệ bền chặt
hơn với các nước và các tổ chức khác nhau trên thế giới.
Như vậy, nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu là một chủ
trương và chính sách rất đúng đắn của Đảng và Chính phủ, phù hợp với tình hình
phát triển của Việt Nam trong thời kỳ hiện nay.
1.2.2 Mỹ là một thị trường nhập khẩu chè đầy tiềm năng đối với Việt Nam
Mỹ là một nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới với số dân trên
200 triệu người, nhu cầu về hàng hoá hàng năm của Mỹ là rất lớn. Các sản phẩm
nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Mỹ và là thị trường chiến
24
lược lớn đối với nhiều nước xuất khẩu. Mỹ luôn được đánh giá là thị trường xuất
khẩu tiềm năng số 1 của Việt Nam, đặc biệt là đối với mặt hàng chè xuất khẩu.Cụ
thể như sau:
1.2.2.1 Mỹ là một đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam
Tính đến trước khi ký Hiệp định thương mại Việt Mỹ năm 2001, so với các
quốc gia đang phát triển khác, mô hình thương mại của Việt Nam có sự khác
thường trong cơ cấu hàng hoá, với sự tập trung vào các mặt hàng chưa qua chế biến
và chủ yếu tập trung vào các thị trường Châu Á và Châu Âu. KNXK vào Mỹ trước
năm 2001 thậm chí chưa đạt đến 1 tỷ USD, cụ thể: năm 2000 là 0,8213 tỷ USD,
năm 1999 là 0,6084 tỷ USD. Tỷ lệ xuất khẩu vào thị trường Mỹ thấp như vậy là hệ
quả của việc Việt Nam không được hưởng Quy chế tối huệ quốc.
Ngay sau khi Hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực, Mỹ đã mở cửa thị
trường Mỹ cho hàng xuất khẩu Việt Nam như: giảm thuế suất trung bình đối với
nhập khẩu từ Việt Nam vào Mỹ giúp cho xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường
Mỹ đạt được mức tăng trưởng vượt bậc chỉ đúng một năm sau khi có Hiệp định
thương mại
Bảng 1.1 Kim ngạch xuất khẩu 2 chiều giữa Việt Nam và Mỹ
từ năm 2001–2004


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status