giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên nsnn cho giáo dục – đào tạo tại tỉnh sơn la - Pdf 10

 Chuyên đề tốt nghiệp 1 GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

-
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang đứng trước thời cơ mới, với nhiều điều kiện phát triển rất
thuận lợi, nhưng đồng thời cũng có những khó khăn và thách thức không nhỏ. Vị thế
của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, thế hệ trẻ Việt Nam đã và
đang từng bước thể hiện vai trò của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Trong bối cảnh chung ấy ngành giáo dục có vai trò hết sức quan trọng. Phát triển
giáo dục - đào tạo được coi là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tiến trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người
- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Vì vậy
cùng với khoa học & công nghệ, giáo dục - đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta xác
định là “Quốc sách hàng đầu”.
Nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục – đào tạo, quán triệt
đường lối của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua tỉnh Sơn La đã không ngừng
tăng cường chi ngân sách đầu tư cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo. Nhờ có sự quan
tâm đó mà sự nghiệp giáo dục của tỉnh đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Tuy
vậy, ngân sách của tỉnh đang gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết mối quan hệ
giữa khả năng hạn hẹp của ngân sách và nhu cầu phát triển ngày càng tăng của hệ
thống giáo dục – đào tạo của tỉnh.
Xuất phát từ thực tế đó, trong thời gian thực tập tại Sở Tài chính Sơn La, em đã
quyết định đi sâu nghiên cứu đến công tác chi thường xuyên và quản lý chi thường
xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục – đào tạo thông qua đề tài: “Giải pháp hoàn
thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho Giáo dục – đào tạo tại tỉnh Sơn
La” để làm chuyên đề tốt nghiệp.
Nội dung chính của Chuyên đề gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục – đào
tạo
- Chương 2: Thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục – đào tạo

Thứ nhất: NSNN là bản dự toán thu - chi tài chính của Nhà nước trong một thời
gian nhất định (thường là một năm) được Quốc hội thông qua để thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Thứ hai: NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ
bản của Nhà nước.
Thứ ba: NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước
huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau.
Theo Luật Ngân sách Nhà nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
sửa đổi năm 2002, có hiệu lực từ năm 2004 thì “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các
khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và
được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước”
b) Bản chất của NSNN
Ngân sách nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ liên quan đến
sự tồn tại và phát triển của nhà nước mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần tập hợp

-
Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
2


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

các khoản thu và các khoản chi mà còn ẩn chứa những mối quan hệ bên trong. Khi xét
đến bản chất của Ngân sách nhà nước người ta thường nói đến bản chất kinh tế của
Ngân sách nhà nước và xét trên phương diện pháp lý của Ngân sách nhà nước.
+ Về bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước: Ngân sách nhà nước không chỉ

sự quản lý này thì phải có nguồn kinh phí duy trì sự hoạt động của tổ chức đó. Để duy

-
Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
3


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

trì hoạt động của doanh nghiệp thì phải có nguồn vốn của doanh nghiệp, còn đối với
cơ quan Nhà nước để duy trì hoạt động của nó thì nguồn kinh phí do Ngân sách nhà
nước cấp. Nguồn kinh phí này dùng để chi trả lương cũng như các chức năng nhiệm
vụ mà các cơ quan nhà nước này được giao.
Thứ hai: Ngân sách nhà nước được sử dụng như một công cụ để tác động vào
cơ cấu kinh tế, nhằm duy trì một cơ cấu kinh tế cân đối hợp lý. Trong xã hội nền kinh
tế thị trường ngày càng có xu hướng mất ổn định, do nhiều nguyên nhân liên quan đến
kinh tế, chính trị và xã hội. Chính vì vậy, việc duy trì một cơ cấu kinh tế ổn định là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Chính phủ. Để đảm bảo được điều này, Chính phủ
có thể sử dụng Ngân sách nhà nước để chi tiêu, đặc biệt là chi cho đầu tư phát triển các
ngành nghề khác nhau, đầu tư xây dựng cơ bản, kết cấu hạ tầng, để từ đó phát triển
những ngành nghề kém phát triển hoặc đang trên đà suy thoái, từ đó làm cân đối cơ
cấu kinh tế. Ngoài ra, để khuyến khích hay hạn chế một ngành nghề nào đó Chính phủ
có thể sử dụng các biện pháp nhằm tăng thu hoặc giảm thuế, như vậy có thể khuyến
khích hoặc kìm hãm sự phát triển của ngành đó, từ đó cơ cấu kinh tế sẽ được cân đối
ổn định.
Thứ ba: Ngân sách nhà nước được sử dụng như một công cụ để duy trì sự ổn
định của giá cả thị trường. Để duy trì sự ổn định của giá cả thị trường, chính phủ lập
nên quỹ dự trữ. Quỹ dự trữ này có thể bao gồm hiện vật hoặc tiền và nguồn kinh phí

Chi NSNN bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau. Giai đoạn thứ nhất là phân phối
(phân bổ) quỹ NSNN cho các đối tượng, mục tiêu khác nhau. Quá trình phân phối
được thực hiện trên dự toán và trên thực tế (chấp hành Ngân sách Nhà nước), dựa trên
nhiều tiêu thức khác nhau như chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động, đặc điểm tự
nhiên, xã hội thể hiện cụ thể dưới dạng định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi ngân sách.
Giai đoạn tiếp theo là việc sử dụng phần quỹ ngân sách đã được phân phối của các đối
tượng thụ hưởng (quá trình thực hiện chi tiêu trực tiếp các khoản tiền của NSNN).
NSNN được sử dụng ở các khâu tài chính Nhà nước trực tiếp, gián tiếp và các khâu tài
chính khác phi Nhà nước. Chi ngân sách kết thúc khi tiền đã thực sự được sử dụng cho
các mục tiêu đã định.
Các khoản chi ngân sách nhà nước rất đa dạng và phong phú nên có nhiều
cách phân loại chi NSNN khác nhau:
- Theo đối tượng trực tiếp sử dụng, chi NSNN bao gồm:
+ Chi cho nhân viên.
+ Các khoản chi về vật liệu và dịch vụ cho các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ
quan An ninh - Quốc phòng.
+ Các khoản chi cho công tác xây dựng (đường xá, phúc lợi, công cộng )
+ Chi các khoản trợ cấp, các khoản trả lãi tiền vay.
+ Chi các khoản khác.
- Theo tính chất phát sinh các khoản chi, chi NSNN bao gồm chi thường xuyên và chi
không thường xuyên.
+ Chi thường xuyên: là những khoản chi phát sinh tương đối đều đặn cả về mặt
thời gian và quy mô các khoản chi. Nói cách khác là những khoản chi được lặp đi lặp
lại tương đối ổn định theo những chu kỳ thời gian cho những đối tượng nhất định.
+ Chi không thường xuyên: là những khoản chi Ngân sách phát sinh không đều
đặn, bất thường như chi đầu tư phát triển, viện trợ, trợ cấp thiên tai, Trong đó, chi
đầu tư phát triển được coi là phần chủ yếu của chi không thường xuyên.
- Theo mục đích sử dụng cuối cùng, chi NSNN được chia thành chi tích luỹ và chi tiêu
dùng.
+ Chi tích luỹ: là các khoản chi mà hiệu quả của nó có tác dụng lâu dài. Các

trợ các Đoàn thể chính trị - xã hội, đối ngoại
- Với tư cách là quỹ tiền tệ để thanh toán cho các nhu cầu của Nhà nước và tài trợ cho
các đối tượng khác nhau trong xã hội (Nhà nước với tư cách là người mua của thị
trường), chi NSNN bao gồm:
+ Chi thanh toán: là chi trả cho việc Nhà nước được hưởng những hàng hoá,
dịch vụ mà xã hội cung cấp cho Nhà nước. Chi thanh toán gắn với hai luồng đi lại: tiền
và hàng hoá, dịch vụ.
+ Chi chuyển giao: là những khoản chi mang tích chất một chiều từ phía nhà
nước như tài trợ, trợ cấp, cứu trợ
1.1.2 Chi thường xuyên NSNN
1.1.2.1 Khái niệm
Chi thường xuyên: là những khoản chi phát sinh tương đối đều đặn cả về mặt
thời gian và quy mô các khoản chi. Nói cách khác là những khoản chi được lặp đi lặp
lại tương đối ổn định theo những chu kỳ thời gian cho những đối tượng nhất định.
Chi thường xuyên NSNN là các khoản chi gắn liền với việc thực hiện chức
năng quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước, phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng.

-
Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
6


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

Về mặt bản chất, chi thường xuyên NSNN là hệ thống những quan hệ phân
phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ NSNN
để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của
Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội.

+ Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính - sự nghiệp.

-
Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
7


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

Đây được coi là nội dung chi quan trọng đầu tiên có thể có được một trong ba
yếu tố đầu vào của bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào muốn tồn tại và hoạt động. Thuộc
các khoản chi con người của khu vực hành chính - sự nghiệp, bao gồm: tiền lương,
tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, tiền thưởng, các khoản đóng góp theo tiền lương
và các khoản thanh toán khác cho cá nhân. Ngoài ra còn có thể có học bổng cho học
sinh, sinh viên,…
+ Các khoản chi về sự nghiệp chuyên môn:
Được tính vào chi nghiệp vụ chuyên môn phải là những khoản chi mà xét về
nội dung kinh tế của nó phải thực sự phục vụ cho hoạt động này như: các chi phí về
nguyên vật liệu; chi phí về năng lượng, nhiên liệu; chi phí cho nghiên cứu, hội thảo
khoa học…
+ Các khoản chi mua sắm, sửa chữa:
Trong quá trình hoạt động, các đơn vị hành chính - sự nghiệp còn được NSNN
cấp kinh phí để mua sắm thêm các tài sản hay sửa chữa các tài sản đang trong quá
trình sử dụng, nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu hoạt động và nâng cao hiệu suất sử
dụng của các tài sản đó.
Ở nước ta hiện nay, các khoản chi được tính vào mục này là: các khoản chi để
mua sắm thêm tài sản được hạch toán theo các mục: 144, 145 của mục lục NSNN. Các
khoản chi để thực hiện sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản cố định được

ngân sách.
Thứ ba, phạm vi, mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ cấu tổ
chức của bộ máy Nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các
hàng hoá công cộng. Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, nên tất
yếu quá trình phân phối và sử dụng vốn NSNN luôn hướng vào việc đảm bảo sự hoạt
động bình thường của bộ máy nhà nước đó. Nếu một khi bộ máy quản lý nhà nước gọn
nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên cho nó giảm bớt và ngược lại.
Hoặc quyết định của Nhà nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các
hàng hoá công cộng cũng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường
xuyên của NSNN.
1.2 Vai trò chi NSNN cho GD – ĐT
1.2.1 Sự cần thiết của GD – ĐT
Giáo dục - đào tạo là hoạt động trực tiếp tác động nâng cao trí tuệ, hiểu biết và
khả năng vận dụng những tri thức khoa học, kỹ thuật vào sản xuất của con người. Giáo
dục - đào tạo giúp chúng ta tạo ra đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia công
nghệ, những nhà quản lý giỏi, những con người lao động với hàm lượng trí tuệ ngày
càng cao.
Đội ngũ lao động được trang bị các kiến thức khoa học, kỹ thuật có trình độ học
vấn và chuyên môn, nghiệp vụ tốt sẽ làm tăng sức hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài.
Ngày nay các công ty xuyên quốc gia, các nhà tư bản ở các nước công nghiệp phát
triển khi đầu tư ra nước ngoài, họ luôn có xu hướng áp dụng những công nghệ tiên
tiến, có hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao để nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa
tăng sức mạnh cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Do đó, họ không chỉ hướng vào
những nước có nguồn nhân công rẻ, mà còn chú trọng hơn đến việc đầu tư vào những
nơi có đội ngũ lao động được đào tạo tốt.
Các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục - đào tạo không chỉ là
phúc lợi xã hội mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội nhanh
và bền vững. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã trở thành sự nghiệp sống còn của mỗi
quốc gia. Nhận thức rõ sứ mạng của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội, thời gian qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác giáo dục, đào

Có thể nói giáo dục - đào tạo là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của toàn
Đảng, toàn dân trong thời gian qua. Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục - đào tạo được
coi là khâu đột phá cho những định hướng chiến lược về mục tiêu, giải pháp chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội cho đến năm 2020.
1.2.2 Vai trò chi NSNN đối với GD - ĐT
Giáo dục – đào tạo giữ một vai trò to lớn trong cuộc sống, bởi vậy việc đầu tư
để duy trì và phát triển hệ thống giáo dục sao cho phát huy hết hiệu quả của nó là việc
làm rất cần thiết. Trong đầu tư tài chính cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo thì NSNN
đóng vai trò chủ đạo, thể hiện trên các mặt:
Thứ nhất: Chi ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc định hướng
phát triển giáo dục quốc dân theo đúng chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.
Trong việc thực hiện chi ngân sách cho giáo dục chúng ta phải thực hiện việc điều
phối cơ cấu giáo dục, đảm bảo cho sự phát triển đồng đều trong cơ cấu giáo dục toàn
ngành giữa các vùng trong cả nước. Các chương trình xây dựng hệ thống trường dân
tộc nội trú, cao tầng hoá trường học khu vực Sơn La, chính là việc Nhà nước đã thông
qua chi NSNN để tác động vào hệ thống giáo dục quốc dân và làm cho nó vận động,

-
Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
10


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

phát triển theo đúng hướng đã đề ra. Mặt khác hệ thống trường công lập ở nước ta còn
chiếm ưu thế do đó ngân sách nhà nước còn phải đảm bảo phần lớn trách nhiệm đầu tư
cho giáo dục, còn các nguồn vốn khác chỉ mang tính chất hỗ trợ thêm.
Thứ hai: Chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục – đào tạo là khoản tiền đầu tư

chủ trương phát triển giáo dục đúng đắn sẽ thúc đẩy sự phát triển của hệ thống giáo

-
Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
11


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

dục. Tuy nhiên vai trò của nó chỉ thực sự đảm bảo phát huy khi có nội dung chi, cơ
cấu chi phù hợp, công tác quản lý chi có hiệu quả.
1.3 Quản lý chi thường xuyên NSNN cho GD – ĐT
1.3.1 Nội dung chi thường xuyên NSNN cho GD – ĐT
Nội dung chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo gắn liền với cơ cấu,
nhiệm vụ của ngành trong mỗi giai đoạn lịch sử và được xem xét ở các giác độ khác
nhau.
Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của ngành giáo dục - đào tạo có thể chia nội dung
chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục - đào tạo như sau:
- Chi Ngân sách cho hệ thống các trường học:
+ Chi ngân sách cho hệ thống các trường mầm non và các trường phổ thông.
+ Chi ngân sách cho các trường đại học, các học viện, các trường cao đẳng, các
trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
+ Chi cho các trường Đảng, đoàn thể.
- Chi Ngân sách cho các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo như: Bộ giáo
dục đào tạo, Sở giáo dục, phòng giáo dục
Theo cách phân loại chi NSNN theo yếu tố và phương thức quản lý các khoản
chi cho giáo dục:
- Chi thường xuyên

trang thiết bị, chế độ chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ và đặc biệt là khả
năng nguồn vốn của NSNN để cấp phát và chi tiêu.
1.3.2 Nội dung quản lý chi thường xuyên NSNN cho GD - ĐT
1.3.2.1 Xây dựng định mức chi
Trong quản lý các khoản chi thường xuyên cho NSNN, nhất thiết phải có định
mức cho từng nhóm mục chi hay cho mỗi đối tượng cụ thể. Nhờ đó mà các ngành các
cấp các đơn vị mới có căn cứ pháp lý để triển khai các công việc cụ thể thuộc quá trình
quản lý chi thường xuyên của NSNN.
Định mức chi là cơ sở quan trọng để lập dự toán chi, cấp phát và quyết toán các
khoản chi, đồng thời là chuẩn mực để phân bổ và kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng
kinh phí ngân sách Nhà nước.
Định mức chi phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
Thứ nhất: Các định mức chi phải được xây dựng một cách khoa học, từ việc
phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành
một cách chặt chẽ có cơ sở khoa học xác đáng. Nhờ đó mà các định mức chi đảm bảo
được tính phù hợp với mỗi loại hình hoạt động, phù hợp với từng đơn vị.
Thứ hai: Các định mức chi phải có tính thực tiễn cao. Tức là nó phải phản ảnh
mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động. Chỉ có như
vậy định mức chi mới trở thành chuẩn mực cho cả quá trình quản lý kinh phí chi
thường xuyên.
Thứ ba: Định mức chi phải đảm bảo thống nhất đối với từng khoản chi, với
từng đối tượng thụ hưởng ngân sách cùng loại.
Thứ tư: Định mức chi phải đảm bảo tính pháp lý cao.
Định mức chi thường xuyên của NSNN thường bao gồm hai loại.
- Định mức chi tiết: là loại định mức xác định dựa trên cơ cấu chi của ngân sách
Nhà nước cho mỗi đơn vị được hình thành từ các mục chi nào, người ta tiến hành xây
dựng định mức chi cho từng mục đó ví dụ như: Chi công tác phí, hội nghị, chi lương,
học bổng
- Định mức chi tổng hợp: Là loại định mức dùng để xác định nhu cầu chi từ
ngân sách Nhà nước cho mỗi loại hình đơn vị thụ hưởng. Do vậy, với mỗi loại hình

giáo dục - đào tạo. Nếu có đầy đủ các loại định mức, tiêu chuẩn chi tiêu cũng như việc
xác định số biên chế, giáo viên cần thiết được tính toán một cách có khoa học, phù hợp
với khối lượng công việc do từng đơn vị đảm nhiệm thì nhu cầu chi NSNN sẽ được
phản ánh chính xác, trung thực trong dự toán. Đồng thời, đó cũng là căn cứ để các cơ
quan chức năng duyệt và kiểm tra, giám sát quá trình chấp hành NSNN của các đơn vị.
Ngược lại, nếu hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi tiêu không đầy đủ, không hoàn thiện
thì bản thân các đơn vị sẽ thiếu những cơ sở để lập dự toán chi, các cơ quan quản lý
không có căn cứ để duyệt dự toán, cơ quan Kho bạc Nhà nước không có căn cứ để
kiểm soát chi, cơ quan thanh tra, kiểm toán không có căn cứ để kiểm tra và xác nhận
tính chính xác, hợp lệ, hợp pháp của các khoản chi cũng như quyết toán chi tiêu của
các đơn vị thụ hưởng ngân sách.
Qua đó có thể thấy rằng, trong quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo không
những phải xây dựng được hệ thống định mức, chế độ chi tiêu một cách đầy đủ, có cơ
sở khoa học mà còn phải đánh giá, phân tích tình hình thực tế nhằm xem xét tính phù
hợp của hệ thống định mức hiện hành. Xu hướng chung, các loại hình hoạt động càng

-
Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
14


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

ngày càng phát triển nên làm nảy sinh các nhu cầu mới. Đặc biệt, trong điều kiện còn
xảy ra mất giá tiền tệ càng dễ làm cho định mức chi dễ bị lạc hậu so với thực tiễn.
1.3.2.2 Lập dự toán chi thường xuyên
"Quản lý theo dự toán” là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý chi ngân
sách Nhà nước. Khi lập dự toán chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo phải

Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
15


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

1.3.2.3 Chấp hành dự toán chi
Thực hiện kế hoạch chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo cần chú ý
đến các yêu cầu cơ bản sau:
- Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, trên cơ sở dự toán chi đã xác
định.
- Tiến hành cấp phát vốn, kinh phí một cách đầy đủ, kịp thời, tránh mọi sơ hở
gây lãng phí, thất thoát vốn của nhà nước.
- Trong quá trình sử dụng các khoản chi ngân sách phải hết sức tiết kiệm, tuân
thủ đúng chính sách, chế độ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của mỗi khoản
chi.
Quá trình tổ chức điều hành cấp phát và sử dụng các khoản chi NSNN cho giáo
dục - đào tạo cần dựa trên những căn cứ sau:
- Dựa vào định mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán. Đây là
căn cứ có tính chất bao trùm đến việc cấp phát và sử dụng các khoản chi, bởi vì mức
chi của từng chỉ tiêu là cụ thể hoá mức chi tổng hợp đã được cơ quan quyền lực Nhà
nước phê duyệt.
- Dựa vào khả năng nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước có thể đáp ứng chi cho
giáo dục - đào tạo. Trong quản lý và điều hành ngân sách Nhà nước phải quán triệt
quan điểm "lường thu mà chi”. Mức chi trong dự toán mới chỉ là con số dự kiến, khi
thực hiện phải căn cứ vào điều kiện thực tế của năm kế hoạch rồi mới chuyển hoá chỉ
tiêu dự kiến thành hiện thực.
- Dựa vào định mức, chế độ chỉ tiêu sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước hiện

Mục đích chủ yếu của công việc này là tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình
thực hiện kế hoạch chi, từ đó rút ra những ưu, nhược điểm trong quản lý để có biện
pháp khắc phục. Công việc cụ thể được tiến hành là kiểm tra, quyết toán các khoản
chi. Trong quá trình kiểm tra, quyết toán các khoản chi phải chú ý đến các yêu cầu cơ
bản sau:
Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời cho các cơ quan có
thẩm quyền xét duyệt theo quy định.
- Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực. Nội dung các
báo cáo tài chính phải tuân thủ theo đúng nội dung ghi trong dự toán được duyệt và
theo đúng mục lục NSNN quy định.
- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị trước khi trình cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền phê duyệt phải có xác nhận của Kho bạc Nhà nước đồng cấp và phải được
cơ quan kiểm toán nhà nước kiểm toán.
- Báo cáo quyết toán của các đơn vị không được để xẩy ra tình trạng quyết toán
chi lớn hơn thu.
Khi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thì công tác quyết toán các khoản
chi NSNN cho giáo dục - đào tạo sẽ được tiến hành thuận lợi. Đồng thời, nó sẽ tạo cơ
sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự toán một cách chính
xác, trung thực và khách quan.
Trong điều kiện đó, "Ngành Giáo dục và đào tạo đã và đang phải giải quyết một
bài toán khó là phải thoả mãn đồng thời yêu cầu tăng số lượng, đảm bảo chất lượng,
nâng cao hiệu quả giáo dục - đào tạo trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp. Để giải
được bài toán đó, hay nói cách khác, là để tạo ra sự chuyển biến cơ bản, toàn diện về
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bên cạnh các chính sách tăng đầu tư cho giáo dục –
đào tạo từ Ngân sách Nhà nước và đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục - đào tạo thì việc đổi
mới và kiện toàn lại hệ thống chính sách tài chính - tiền tệ đảm bảo sử dụng ngân sách
nhà nước chủ động và có hiệu quả, tăng cường kiểm soát các khoản chi, kiên quyết

-

sở cho việc tăng chi ngân sách cho Giáo dục - đào tạo. Số chi NSNN cho Giáo dục -
đào tạo không những chịu ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội mà còn chịu ảnh
hưởng của phương thức phân phối tổng sản phẩm quốc nội: Nếu phương thức phân
phối xác định tỷ lệ lớn cho Giáo dục - đào tạo thì giáo dục - đào tạo sẽ phát triển mạnh
nhưng lại hạn chế khả năng chi cho các ngành khác và cho tích luỹ. Nếu phương thức
phân phối xác định tăng nhiều cho các ngành khác mà giảm nhẹ khoản chi NSNN cho
Giáo dục - đào tạo sẽ làm giảm chất lượng Giáo dục - đào tạo.
- Tốc độ phát triển dân số, số lượng và cơ cấu dân số:
Tốc độ dân số tăng lên, dân số lớn sẽ làm giảm thu nhập quốc dân bình quân
đầu người, giảm thu nhập bình quân của mỗi gia đình. Do đó, các gia đình khó có điều
kiện cho con đi học, nguồn kinh phí đầu tư từ gia đình cũng giảm, gây ảnh hưởng tới
số chi NSNN cho Giáo dục - Đào tạo.

-
Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
18


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

Trong trường hợp tốc độ tăng dân số nhỏ hơn tốc độ tăng sản phẩm quốc nội,
nghĩa là thu nhập bình quân đầu người tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu đào tạo, chi
NSNN cho Giáo dục - đào tạo sẽ tăng lên. Muốn đảm bảo cho Giáo dục - đào tạo phát
triển được thì tốc độ tăng chi cho Giáo dục - đào tạo phải lớn hơn tốc độ gia tăng của
học sinh đào tạo.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, nhu cầu đào tạo đã thực sự biến đổi tỷ lệ
thuận với dân số. Ngân sách Nhà nước khó có thể đáp ứng được chu toàn. Trước tình
hình đó việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình ngoài ý nghĩa giải quyết các vấn đề xã

48
19


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

và ngược lại trường lớp bố trí không hợp lý, bộ máy quản lý hành chính cồng kềnh,
biên chế giáo viên giảng dạy quá nhiều, không xếp đủ số giờ, số tiết tiêu chuẩn theo
quy định của Nhà nước thì chi NSNN sẽ tăng lên, hiệu quả sử dụng NSNN sẽ giảm
xuống. Vì vậy cần phải từng bước hợp lý hoá mạng lưới tổ chức, tinh giảm gọn nhẹ
biên chế, nâng cao chất lượng giảng dạy, từng bước cải cách hành chính trong hệ
thống Giáo dục - Đào tạo. Bên cạnh đó, ngành Tài chính cần có biện pháp quản lý số
chi NSNN cho Giáo dục - đào tạo để khoản chi đó có tác dụng tích cực tới tổ chức
mạng lưới Giáo dục - đào tạo.
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới số chi NSNN cho Giáo dục - đào tạo
giúp chúng ta có cơ sở phân tích tính hợp lý về nội dung và mức độ chi NSNN cho
Giáo dục - đào tạo ở các năm, đồng thời từ những biến đổi của các hiện tượng kinh tế -
xã hội mà thấy được sự cần thiết phải thay nội dung, mức độ chi cho phù hợp. Khi đó
các nhân tố ảnh hưởng sẽ trở thành cơ sở khoa học để xác định số chi NSNN cho Giáo
dục - đào tạo.

-
Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
20


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

đường biên giới Việt - Lào dài 250 km, có chiều dài giáp ranh với các tỉnh khác là 628 km. Sơn La có
11 đơn vị hành chính (01 thành phố, 10 huyện) với 12 dân tộc.
Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh khô, mùa hè nóng ẩm, mưa
nhiều. Do địa hình bị chia cắt sâu và mạnh nên hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu, cho phép phát
triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp phong phú. Vùng cao nguyên Mộc Châu rất phù hợp với cây
trồng và vật nuôi vùng ôn đới. Vùng dọc sông Đà phù hợp với cây rừng nhiệt đới xanh quanh năm.
Những năm gần đây nhiệt độ không khí trung bình/năm có xu hướng tăng hơn 20 năm trước
đây từ 0,5
0
C - 0,6
0
C; lượng mưa trung bình năm có xu hướng giảm. Do tình hình khô hạn kéo dài vào
mùa đông nên khó tăng vụ trên diện tích canh tác, cộng với gió tây khô nóng vào những tháng cuối
mùa khô đầu mùa mưa (tháng 3-4) đã gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của một số
vùng trong tỉnh. Sương muối, mưa đá, lũ quét cũng là những nhân tố gây bất lợi cho sản xuất, đời
sống. Trong thời gian tới khi có thuỷ điện Sơn La, hệ thống hồ dọc Sông Đà, đã được hình thành có
thể tình hình khí hậu khô và nóng vào mùa khô sẽ được cải thiện theo hướng có lợi cho sản xuất và
đời sống.
b) Về tài nguyên thiên nhiên
Sơn La là một trong những tỉnh có diện tích rừng và đất có khả năng phát triển
lâm nghiệp khá lớn (chiếm 73% diện tích tự nhiên), đất đai phù hợp với nhiều loại cây,
có điều kiện xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và tạo các vùng rừng kinh tế hàng hoá
có giá trị cao. Rừng Sơn La có nhiều thực vật quý hiếm, có các khu đặc dụng có giá trị
đối với nghiên cứu khoa học và phục vụ du lịch sinh thái trong tương lai. Hiện nay
diện tích rừng của Sơn La là 480.057 ha, trong đó rừng tự nhiên là 439.592 ha, rừng
trồng 41.047 ha. Toàn tỉnh còn 651.980 ha đất chưa sử dụng (chiếm 46,4 % tổng diện
tích tự nhiên), trong đó đất có khả năng phát triển nông, lâm nghiệp khoảng 500.000
ha (phần lớn dùng cho phát triển lâm nghiệp). Đây cũng là nguồn tài nguyên quý giá,
một thế mạnh cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Khi xây dựng xong thuỷ điện
Sơn La, sẽ có một phần rừng và đất rừng bị ngập (khoảng 2.451 ha), trong đó chủ yếu

nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh còn chịu tác động, ảnh hưởng của nhiều
yếu tố bất lợi như: khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, cũng như tình
trạng suy giảm kinh tế trong nước, thiên tai, dịch bệnh Bên cạnh đó, yêu cầu đẩy
nhanh tiến độ công tác di chuyển dân tái định cư dự án thủy điện Sơn La đã tác động
trực tiếp đến tình hình thực hiện hiện vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhưng
dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự cố gắng nỗ
lực phấn đấu của nhân dân các dân tộc, chiến sỹ các lực lượng vũ trang, các cấp, các
ngành trong tỉnh, cùng với sự giúp đỡ kịp thời, có hiệu qủa của Trung ương Đảng,
Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương và các tỉnh bạn, tỉnh Sơn La đã khắc
phục khó khăn, vươn lên đạt được những kết qủa quan trọng: kinh tế tiếp tục phát
triển, đạt chỉ tiêu đề ra; lĩnh vực phát triển cây cao su, công tác di dân tái định cư dự án
thủy điện Sơn La được chỉ đạo quyết liệt và thu được những kết qủa quan trọng; thu
ngân sách trên địa bàn vượt dự toán; thực hiện có kết qủa các biện pháp cấp bách
nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội; các
lĩnh vực xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống của các tầng lớp nhân dân cơ bản ổn định và
từng bước được cải thiện. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, công
tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí được chỉ đạo kiên

-
Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
22


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

quyết; các hoạt động đối ngoại được tăng cường và mở rộng, đặc biệt là quan hệ hợp
tác hữu nghị với các tỉnh Bắc Lào. Kết qủa cụ thể trên các lĩnh vực như sau:
a) Tình hình kinh tế

* Về đầu tư, xây dựng: Tổng huy động vốn đầu tư toàn xã hội năm 2009 đạt
13.722 tỷ đồng, tăng 36,42% so với năm 2008 và vượt 0,3% so với kế hoạch. Năm
2009, đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 35 dự án với số vốn đăng ký 5.680 tỷ đồng,
chủ yếu thuộc lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác khoáng sản Lũy kế đến
nay, đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 103 dự án với tổng số vốn đăng ký là 22.686
tỷ đồng. Tổng giá trị khối lượng thực hiện đạt 3.942 tỷ đồng, trong đó năm 2009 thực
hiện 915 tỷ đồng.
* Về tài chính - tín dụng: Tổng thu ngân sách địa phương đạt 680 tỷ đồng, vượt
36% so với dự toán. Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2009 đạt 4.065 tỷ đồng, vượt

-
Sinh viên: Nguyễn Việt Hải Lớp: Tài chính công
48
23


Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

32,9% so với dự toán, tăng 18,6% so với năm 2008. Chi ngân sách đảm bảo đúng dự
toán, đáp ứng kịp thời các khoản chi thường xuyên, chi đột xuất, phát sinh; đảm bảo
kinh phí thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chính sách bảo trợ xã hội theo tinh
thần Nghị quyết 30/2008/NQ-CP của Chính phủ. Chi ngân sách địa phương năm 2009
đạt 3.650 tỷ đồng, tăng 19,3% so với dự toán, tăng 19,7% so với năm 2008.
Hệ thống các ngân hàng, tổ chức tín dụng đã tập trung thực hiện đồng bộ các
giải pháp nhằm đẩy mạnh huy động vốn, thực hiện kịp thời và đúng chế độ các chính
sách tiền tệ theo tinh thần Nghị quyết 30/2008/NQ-CP. Đến 31/12/2009, huy động vốn
tại địa phương đạt 2.995 tỷ đồng, tăng 27,4% so với 31/12/2008. Trong đó, tiền gửi
tiết kiệm đạt 1.700 tỷ đồng, tăng 36,5%; tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt 1.200 tỷ
đồng, tăng 21,2%; giấy tờ có giá đạt 95 tỷ đồng, bằng 82% so với năm trước. Doanh



Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị
Bất

tiếp tục được tăng cường; có 7 trường mầm non, 20 trường tiểu học, 11 trường THCS
và 1 trường THPT đạt chuẩn quốc gia.
Lĩnh vực y tế: chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân được cải thiện, cơ sở
vật chất, trang thiết bị tiếp tục được tăng cường. Đội ngũ cán bộ y tế cấp xã, phường
được củng cố; 100% xã, phường có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi; 68% số xã, phường
thực hiện khám chữa bệnh cho nhân dân có bảo hiểm y tế; 70% số xã đạt chuẩn quốc
gia về y tế. Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi bị suy dinh dưỡng 1,89%; tiêm chủng đầy đủ 7 loại
vacxin cho trẻ em dưới 1 tuổi; làm tốt việc giám sát, quản lý và tư vấn chăm sóc hỗ trợ
bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.
Thực hiện chính sách xã hội, giải quyết việc làm và xoá đói, giảm nghèo: có
bước chuyển biến tích cực, giảm trên 4% hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo hiện nay chỉ còn
27,54%. 100% xã, phường, thị trấn được công nhận là đơn vị thực hiện tốt chính sách
đối với người có công. Giải quyết việc làm cho hơn 29100 người, trong đó xuất khẩu
lao động là 5246 người. Công tác bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế triển khai đảm bảo
chế độ, mở rộng đối tượng tham gia, nhất là các đối tượng tham gia bảo hiểm tự
nguyện.
2.1.2 Tình hình GD – ĐT trên địa bàn tỉnh Sơn La năm 2009
2.1.2.1 Tình hình, kết quả triển khai nhiệm vụ năm 2009
a) Tiếp tục thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh", cuộc vận động "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và
sáng tạo", cuộc vận động "Hai không" và thực hiện phong trào thi đua "Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực"
Toàn ngành tiếp tục đẩy mạnh thực hiện toàn diện việc "học tập" và "làm theo"
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; xây dựng kế hoạch năm học 2009-2010 phát động
phong trào thi đua trong toàn ngành lập thành tích hướng tới kỷ niệm 120 năm ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status