Chuyên đề thực tập Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
LỜI NÓI ĐẦU
Có thể nói sự ra đời của nghị định 100CP là bước ngoặt quan trọng đánh dấu
sự chấm dứt của cơ chế độc quyền nhà nước,tạo ra môi trường pháp lý cho
việc phát triển một thị trường bảo hiểm mang tính cạnh tranh. Bên cạnh đó
với sự phát triển ổn định của nền kinh tế cùng với các chính sách đầu tư
trong và nước ngoài tạo ra một lượng tích lũy đáng kể về tài sản đã mang lại
những cơ hội không nhỏ cho sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam nói
chung và bảo hiểm hàng hải nói riêng. Bảo hiểm hàng hải là một trong
những lĩnh vực bảo hiểm ra đời khá sớm không những đáp ứng nhu cầu đảm
bảo an toàn cho hoạt động của ngành vận tải biển mà còn thúc đẩy mối quan
hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới.
Cùng với sự phát triển đó thì tái bảo hiểm ra đời như một tất yếu khách quan
nhằm đảm bảo khả năng tài chính cho các công ty bảo hiểm. Mặc dù mới
được triển khai không lâu nhưng cho đến nay nghiệp vụ bảo hiểm và tái bảo
hiểm hàng hải đã có những bước đi dài,đóng góp không nhỏ vào sự phát
triển chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Trong thời gian thực tập tại Phòng Tái bảo hiểm Hàng hải của Tổng công ty
cổ phần tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam,với những kiến thức đã được thầy
cô truyền đạt và được sự giúp đỡ của các anh chị phòng tái bảo hiểm hàng
hải em đã hoàn thành luận văn với đề tài:
“Tình hình triển khai nghiệp vụ tái bảo hiểm vật chất thân tàu tại Tổng
công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE)
(2000-2006)”.
Nội dung luận văn gồm 3 chương chính:
Chương I:Tổng quan về tái bảo hiểm và tái bảo hiểm vật chất thân tàu
Chương II:Phân tích tình hình triển khai nghiệp vụ tái bảo hiểm vật chất
thân tàu tạiVINARE(2000-2006)
Chương III: Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
nghiệp vụ tái bảo hiểm vật chất thân tàu tại VINARE.
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
2
Chuyên đề thực tập Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
1.2. Tác dụng cơ bản của tái bảo hiểm
Tái bảo hiểm có tác dụng sau:
• Phân tán rủi ro,góp phần ổn định tài chính cho công ty bảo hiểm
gốc,đặc biệt là trong những trường hợp xảy ra các sự cố thảm họa hay
tích lũy rủi ro;
• Tăng cường khả năng nhận bảo hiểm của công ty bảo hiểm gốc đối
với những rủi ro vượt quá khả năng tài chính của nó;
• Góp phần ổn định thu chi của ngân sách Nhà nước và tăng thu ngoại
tệ cho Nhà nước;
• Giúp các công ty bảo hiểm nhỏ,mới thành lập ổn định và phát triển
nhờ tư vấn về nghiệp vụ từ các công ty tái bảo hiểm;
• Giúp các công ty bảo hiểm sửa chữa tính bất thường,đột biến của rủi
ro - khả năng sai lệch giữa thực tế và dự đoán mà người bảo hiểm có
được nhờ số liệu thống kê từ quá khứ;
• Góp phần thúc đẩy,phát triển quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước
bởi tái bảo hiểm là hoạt động mang tính chất quốc tế;
• Gián tiếp bảo vệ quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm bằng sự ổn
định tài chính của công ty bảo hiểm gốc;
• Đảm bảo đời sống cho cán bộ nhân viên làm việc trong các công ty
bảo hiểm gốc,góp phần giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động
xã hội (tạo chỗ làm tại các công ty bảo hiểm,tái bảo hiểm,công ty môi
giới tái bảo hiểm,...);
• Tạo điều kiện cho công ty bảo hiểm khi muốn rút lui khỏi thị trường
nào đó (khi nhận thấy không còn đủ khả năng để thực hiện một nghiệp
vụ bảo hiểm nào đó hoặc khi muốn tập trung vào các nghiệp vụ khác
mà công ty có thế mạnh...,công ty bảo hiểm này có thể nhượng tái bảo
hiểm các đơn bảo hiểm thuộc loại nghiệp vụ này cho các công ty
những bước tiến nhảy vọt,quan hệ giao lưu hàng hóa giữa các nước ngày
càng được mở rộng. Đây chính là điều kiện thuận lợi cho thị trường tái bảo
hiểm trưởng thành và phát triển. Tuy nhiên các công ty bảo hiểm vừa hoạt
động bảo hiểm gốc vừa hoạt động tái bảo hiểm tạo ra những hạn chế nhất
định,đặt ra yêu cầu cần phải có công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp. Năm
1843,công ty tái bảo hiểm nội bộ đầu tiên ra đời là Weceler Re (Đức). Tuy
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
4
Chuyên đề thực tập Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
nhiên,nó chỉ là công ty con của một công ty bảo hiểm địa phương,chủ yếu
nhận các phần dôi của công ty mẹ.
Năm 1846 công ty tái bảo hiểm độc lập đầu tiên được thành lập tại
Đức mang tên Cologe Re. Sau đó là sự ra đời hàng loạt của các công ty tái
bảo hiểm chuyên nghiệp có tên tuổi như:
- Swiss Re – công ty tái bảo hiểm đầu tiên của Thụy Sỹ,thành
lập năm 1863;
- London Gurantee Reinsurance Co.Ltd (Luân Đôn) năm 1869;
- Munich Re (Đức),thành lập năm 1880.
Ở Anh,công ty tái bảo hiểm đầu tiên là The Reinsurance Company
Ltd, thành lập năm 1867 và vào thời gian đó,trên thế giới mới chỉ tồn tại 10
công ty tái bảo hiểm. Tuy nhiên,công ty này đã đóng cửa vì phá sản vào năm
1871. Một số công ty tái bảo hiểm khác đã được thành lập nhưng không tồn
tại được lâu. Năm 1907,công ty tái bảo hiểm Vương quốc Anh thành
lập,mang tên Mercantile & General Reinsurance. Một năm sau,năm
1908,công ty tái bảo hiểm Bristish & European ra đời.
Ở Mỹ,công ty tái bảo hiểm đầu tiên được thành lập năm 1912 với
tên The First Reinsurance Company of Hartford khi mà các công ty tái bảo
hiểm nước ngoài đã hoạt động tại Mỹ một số năm trước đó.
Vào những năm 1920,người ta cũng chứng kiến sự ra đời của các
tập đoàn tái bảo hiểm địa phương như Uruguay,Chile,Banco del Estado,...
Á,tập đoàn tái bảo hiểm Asean. Các tập đoàn này vận hành
dựa trên cơ sở nhượng bắt buộc hay tự nguyện với nhau giữa
các thành viên.
d. Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
Năm 1990 sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN tạo tiền để cho
thị trường tái bảo hiểm quốc tế được mở rộng và phát triển. Mối quan hệ
giữa các nước ngày càng được củng cố đánh dấu giai đoạn phát triển cao của
thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm. Tuy nhiên những năm đầu của thế kỷ
XX thị trường tái bảo hiểm quốc tế phải đối mặt lớn với thảm họa và rủi ro
do thiên nhiên và con người gây ra.
Năm 2001,với thảm họa khủng bố giáng xuống nước Mỹ ngày
11-9,các công ty bảo hiểm,tái bảo hiểm phải gánh chịu những khoản tổn thất
nặng nề chưa từng có với tổng tổn thất được bảo hiểm lên tới 40,2 tỷ USD,
dẫn tới sự phá sản tụt hạng của một số công ty tái bảo hiểm hàng đầu thế
giới, và đến nay với hàng loạt tổn thất do thiên tai gây ra đặc biệt là tổn thất
nặng nề do sóng thần vào thời điểm cuối năm 2004 tại các nước Nam Á làm
cho tình hình thị trường tái bảo hiểm quốc tế trở nên phức tạp.
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
6
Chuyên đề thực tập Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
3. CÁC HÌNH THỨC TÁI BẢO HIỂM
3.1. Tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn
Đây là hình thức tái bảo hiểm cơ bản và cổ điển nhất. Theo hình
thức này, công ty nhượng toàn quyền lựa chọn toàn bộ hay một số rủi ro cần
phải tái đi và công ty nhận (nhà tái bảo hiểm) có quyền nhận hay từ chối
toàn bộ hay một số rủi ro đó.
Quy trình để thực hiện tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn gồm có các
bước:
- Công ty nhượng thông báo cho nhà tái bảo hiểm một dịch vụ nào
đó mà họ cần tái đi dưới hình thức một bản đề nghị (hay bản chào tái), trong
truyền thống của mình,chẳng hạn như: rủi ro động đất, ngập lụt, đình công,
bạo loạn, chiến tranh hoặc những rủi ro tương tự khác;
+ Tạo điều kiện cho công ty nhượng cải thiện sự thăng bằng
của các hình thức tái bảo hiểm bắt buộc, cải thiện vận may rủi trong việc đạt
được những lợi ích tối đa theo các điều kiện quy định trong các hợp đồng tái
bảo hiểm đó của họ (ví dụ: điều kiện về chia lãi, thủ tục phí tái bảo hiểm
theo thang lũy tiến, thủ tục phí tái bảo hiểm theo lãi,...).
Nhược điểm:
+ Công ty nhượng phải thông báo đầy đủ, chi tiết về nghiệp vụ
bảo hiểm gốc dẫn đến có thể bị tiết lộ thông tin có lợi cho đối thủ cạnh tranh
trong thị trường bảo hiểm gốc.
+ Không đảm bảo thời gian và sự chắc chắn trong việc phân tán
rủi ro tái bảo hiểm do đó có thể sẽ mất cơ hội tranh thủ bảo hiểm hoặc không
có khả năng để nhận bảo hiểm cho rủi ro có giá trị lớn,hay ít nhất cũng làm
cho công ty nhượng mất uy tín vì sự chậm trễ trả lời người được bảo hiểm.;
+ Chi phí hành chính,thủ tục giấy tờ tốn kém do đó ảnh hưởng
đến lợi nhuận của hợp đồng;
+ Thường xuyên phải đàm phán tái lập lại hợp đồng tái bảo
hiểm trước khi quyết định kí kết hợp đồng bảo hiểm gốc với khách hàng mà
trong nhiều trường hợp đáng lẽ không cần thiết phải thay đổi hay hủy bỏ hợp
đồng đã kí;
+ Trong nhiều trường hợp hình thức tái bảo hiểm này chỉ được
thực hiện với mức phí cao hơn mức phí gốc hoặc thủ tục phí ít hơn khi khả
năng nhận của thị trường tái bảo hiểm quốc tế đã đạt gần tới mức tối đa,
hoặc khi phí bảo hiểm gốc quá thấp so với phí trung bình của thị trường.
3.2. Tái bảo hiểm bắt buộc
Tái bảo hiểm bắt buộc là sự thỏa thuận giữa công ty nhượng và
nhà tái bảo hiểm trong đó công ty nhượng bắt buộc phải nhượng cho nhà tái
bảo hiểm tất cả các đơn vị rủi ro gốc mà hai bên đã thỏa thuận từ trước.
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
3.3. Tái bảo hiểm kết hợp tùy ý lựa chọn - bắt buộc
Đây là hình thức tái bảo hiểm mà công ty nhượng không bắt buộc
phải nhượng tất cả các dịch vụ mà mình nhận bảo hiểm nhưng công ty nhận
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
9
Chuyên đề thực tập Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
bắt buộc phải nhận các dịch vụ mà công ty nhượng đưa vào thỏa thuận này
với điều kiện là những dịch vụ đó phải phù hợp với nội dung điều khoản đã
quy ước của hợp đồng tái bảo hiểm thỏa thuận.
- Đối với nhà nhận tái: So với hình thức tái bảo hiểm tùy ý lựa
chọn, nhà nhận tái bảo hiểm bất lợi hơn vì không có quyền từ chối những rủi
ro mà họ không muốn nhận. Công ty nhận tái bảo hiểm có điều kiện thu
nhập nguồn phí tái bảo hiểm lớn hơn và có phần thăng bằng hơn so với hình
thức tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn. Ở đây,công ty nhượng không được lợi
dụng hình thức này để lựa chọn tái đi những rủi ro có khả năng xảy ra tổn
thất lớn với mục đích đẩy phần bất lợi cho nhà tái bảo hiểm. Để đề phòng
trường hợp này xảy ra,công ty nhận phải nắm vững ý đồ của công ty
nhượng,xem xét kỹ các rủi ro mà công ty nhượng đem tái bảo hiểm và
thường xuyên phải canh chừng diễn biến của thỏa ước mà mình đã kí kết. Sử
dụng hình thức tái bảo hiểm này,công ty nhượng có điều kiện để đem chào
tái bảo hiểm từng phần trách nhiệm thặng dư của khả năng tự giữ lại của
mình cho một hay một số ít các nhà tái bảo hiểm mà họ lựa chọn, thay cho
việc phải đem tất chia tất cả các phần thặng dư cho các nhà tái bảo hiểm nếu
đem tái theo hình thức bắt buộc. Tuy nhiên,cách tái bảo hiểm như thế
thường chỉ có các công ty nhận có tiềm lực thật lớn vì họ là những người có
khả năng nhận các rủi ro có giá trị bảo hiểm cao và như vậy sẽ không đòi hỏi
phân tán cho quá nhiều nhà tái bảo hiểm, đỡ tốn kém chi phí.
- Đối với công ty nhượng: Với hình thức này,công ty nhượng có điều kiện
đem chào tái bảo hiểm từng phần trách nhiệm thặng dư của khả năng giữ lại
cho một hay một số nhà tái bảo hiểm mà họ lựa chọn thay vì phải phân chia
so với số tiền bảo hiểm,phần còn lại tái đi. Vì vậy phí bảo hiểm và số tiền
bồi thường cũng được phân bổ giữa công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm
theo tỷ lệ tương ứng.
Ưu điểm:
+ Tính toán đơn giản,dễ xử lý,chi phí hành chính và cách quản lý đơn
giản,ít tốn kém;
+ Đối với nhà tái bảo hiểm,dạng tái bảo hiểm này có tính cân
đối và dễ chấp nhận hơn so với dạng tái bảo hiểm mức dôi,có khả năng phân
tán rủi ro tốt hơn so với các loại tái bảo hiểm khác. Nhà tái bảo hiểm có điều
kiện tham gia vào mọi rủi ro mà công ty nhượng nhận bảo hiểm,đồng thời
công ty nhượng có thể yên tâm nhận mọi rủi ro có giá trị nằm trong phạm vi
hạn mức khống chế tối đa đã quy ước vì mọi rủi ro này đều được chia sẻ cho
nhà tái bảo hiểm cùng hưởng và cùng chịu với công ty nhượng. Điều này
đảm bảo cân đối thu chi cho cả hai bên: công ty nhượng và nhà nhận tái bảo
hiểm.
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
11
Chuyên đề thực tập Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
+ Thủ tục phí tái bảo hiểm của dạng này cao nhất,ngoài ra các
điều kiện về phí tạm giữ cũng có tỷ lệ cao,nhờ đó công ty nhượng có điều
kiện sử dụng vốn nhàn rỗi để đầu tư vào các việc khác.
Nhược điểm:
+ Công ty nhượng phải tái đi mọi đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc
theo một tỷ lệ định trước nên không khai thác hết khả năng của công ty;
+ Đồng thời công ty nhượng không khống chế được tỷ lệ bồi
thường đối với mức giữ,không có khả năng làm giảm hệ số biến thiên của
phần tổn thất thuộc mức giữ lại làm ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh
doanh của công ty;
Tái bảo hiểm số thành thường được ứng dụng trong những trường
hợp sau:
là một số tuyệt đối,số vượt quá tái đi. Với phương pháp này,trách nhiệm của
người nhận được xác định theo lớp là bội số của mức giữ lại. Phí bảo hiểm
và số tiền bồi thường được phân bổ theo tỷ lệ tương ứng với trách nhiệm
giữa công ty nhượng và nhà nhận tái.
Ưu điểm:
Phương pháp tái bảo hiểm này giúp khai thác hết khả năng của
công ty nhượng do chỉ tái đi những rủi ro vượt quá mức giữ lại,đảm bảo lợi
ích kinh tế cao hơn tái bảo hiểm số thành. Đồng thời phương pháp này còn
giúp công ty nhượng có điều kiện giữ lại một khối lượng kim ngạch bảo
hiểm lớn và do đó có mức phí thu nhập lớn không cần phải tái bảo hiểm.
Nhược điểm:
Việc tính toán lại phức tạp hơn,chi phí tốn kém hơn,sử dụng nhiều nhân lực
(nhất là đối với những nước không có điều kiện áp dụng máy tính điện tử) và
có ảnh hưởng lớn đến kinh doanh trong trường hợp tổn thất rơi nhiều vào
những rủi ro dưới mức giữ lại của công ty nhượng.
Tái bảo hiểm mức dôi thông thường được áp dụng khi khối lượng
dịch vụ gồm nhiều rủi ro có những số tiền rất chênh lệch được bảo hiểm: tái
bảo hiểm cháy,tai nạn thân thể và nhân thọ...
4.1.3. Tái bảo hiểm kết hợp số thành - mức dôi
Đây không phải là dạng thứ ba của hình thức tái bảo hiểm theo tỷ
lệ mà thực chất là sự kết hợp giữa hai dạng số thành và mức dôi. Dạng kết
hợp này tỏ ra rất phù hợp và thường được áp dụng với các công ty bảo hiểm
mới thành lập. Với các công ty này, khối lượng dịch vụ mà họ nhận bảo
hiểm chưa đủ ổn định để tránh khỏi trường hợp không may có rủi ro tổn thất
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
13
Chuyên đề thực tập Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
lớn xảy ra. Để đảm bảo có thể đứng vững trên thị trường và đáp ứng những
nhu cầu khác nhau của khách hàng mua bảo hiểm,công ty nhượng cần thiết
phải có tái bảo hiểm theo hình thức mức dôi. Đồng thời vì mới thành lập nên
Tái bảo hiểm theo số tiền bồi thường có những đặc điểm sau:
+ Trách nhiệm của công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm đối với
tổn thất không chia sẻ theo tỷ lệ về phí, trách nhiệm cũng như về bồi thường.
Vì thế hình thức tái bảo hiểm này còn được gọi là là tái bảo hiểm phi tỷ lệ;
+ Số tiền bồi thường tổn thất là tiêu chuẩn cơ bản để phân định
trách nhiệm giữa các bên;
+ Công ty nhượng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những
tổn thất bằng hoặc dưới điểm tự bồi thường;
+ Nhà tái bảo hiểm chỉ bồi thường cho phần tổn thất chênh lệch
của những tổn thất vượt quá điểm tự bồi thường của công ty nhượng cho tới
một hạn mức tối đa đã có sự thỏa thuận trước trong hợp đồng tái bảo
hiểm,hạn mức này được gọi là “ hạn mức trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm”.
Ưu điểm
+ Là hình thức tái bảo hiểm chỉ bảo vệ cho những trường hợp có
tổn thất quá lớn và được bảo vệ 100% mức tổn thất vượt quá “điểm tự bồi
thường” nên công ty nhượng có thể khống chế mức bồi thường tối đa của
mình bằng một mức tiền nhất định;
+ Công ty nhượng sẽ có thu nhập phí bảo hiểm lớn hơn vì nhà tái
bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường cho những vụ tổn thất có số tiền
thấp hơn “điểm tự bồi thường” của công ty nhượng;
+ Chi phí hành chính ít tốn kém do công ty nhượng không phải
phân loại từng đơn vị rủi ro bảo hiểm, tính toán mức giữ lại, phí tái bảo
hiểm, mức tái bảo hiểm...
Nhược điểm
+ Phương pháp tính phí phức tạp và khó chính xác,đòi hỏi kinh
nghiệm và kỹ thuật tính toán cao,đặc biệt đối với các rủi ro thảm họa lớn;
+ Mức tự bồi thường nếu tính quá cao thì có thể ảnh hưởng đến
kết quả kinh doanh của công ty nhượng nhưng nếu quá thấp thì lại làm tăng
chi phí hành chính của nhà tái bảo hiểm;
+ Gây khó khăn cho công ty nhượng trong việc thanh toán phí tái
nghiệp vụ về trách nhiệm ít áp dụng dạng này vì thông thường bảo hiểm về
trách nhiệm ít bị tổn thất do thảm họa khốc liệt gây nên. Ngoài ra trong bảo
hiểm hàng hải,nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa và bảo hiểm hàng và tàu kết
hợp thường áp dụng dạng này.
4.2.2.Tái bảo hiểm vượt quá tỷ lệ bồi thường
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
16
Chuyên đề thực tập Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
Là dạng tái bảo hiểm phi tỷ lệ mà nhà tái bảo hiểm chỉ có trách
nhiệm bồi thường trong trường hợp khi kết quả toàn bộ nghiệp vụ của công
ty nhượng có một tỷ lệ bồi thường vượt quá một tỷ lệ hoặc một mức tiền
định trước. Tái bảo hiểm theo dạng này nhằm mục đích bảo vệ công ty
nhượng chống lại một sự gia tăng đột biến của tỷ lệ bồi thường trong một
ngành bảo hiểm hay một dạng dịch vụ bảo hiểm nhất định trong một khoảng
thời gian nhất định.
Khoảng thời gian này thường là năm tài chính và tỷ lệ bồi thường
được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổn thất phải bồi thường và số phí đã
thu hoặc đã được hưởng của năm tài chính, hoặc cũng có thể được biểu thị
bằng một số tiền nhất định.
Tỷ lệ bồi thường = Tổng số tiền bồi thường / Tổng phí thu.
4.2.3. Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường đảm bảo tai họa khốc liệt
Là dạng tái bảo hiểm phi tỷ lệ để đảm bảo cho công ty nhượng tránh được
những trường hợp tổn thất quá mức bồi thường. Mục đích trước hết của loại
đảm bảo này là bảo vệ đối với sự tích tụ nhiều tổn thất xảy ra từ cùng một sự
cố hay một sự việc có tính chất thật quan trọng hay khốc liệt.
Điểm tính mức bồi thường có thể thay đổi tùy thuộc một phần vào
thực lực tài chính về mức tự bồi thường của công ty nhượng. Trên thế
giới,dạng tái bảo hiểm này được sử dụng rất rộng rãi trong tất cả các loại
nghiệp vụ bảo hiểm.
5. THỦ TỤC PHÍ TÁI BẢO HIỂM
• Thủ tục phí theo thang lũy tiến
Cơ sở để tính thủ tục phí theo thang lũy tiến là lấy mức thủ tục phí
cố định làm chuẩn từ đó quy định mức tăng giảm theo tỷ lệ của bồi thường.
Như vậy kết quả bồi thường càng thấp bao nhiêu thì tỷ lệ thủ tục phí tái bảo
hiểm lại tăng lên bấy nhiêu và ngược lại.
Ví dụ:
Đơn vị: %
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
18
Chuyên đề thực tập Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
Tỷ lệ bồi thường Tỷ lệ thủ tục phí tái
bảo hiểm
>75 20
73 21
71 22
69 23
67 24
63 25
61 26
59 27
57 28
<55 29
Với thang lũy tiến này, số tiền thủ tục phí tái bảo hiểm ít nhất là
20% phí tái bảo hiểm và hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả của nghiệp vụ.
Nếu tỷ lệ bồi thường là 75% thì phần lãi còn lại của nhà tái bảo hiểm là 5%.
Những nếu tỷ lệ bồi thường là 65% thì lãi của nhà tái bảo hiểm sẽ là 10%
thay cho mức 15% nếu lấy mức thủ tục phí cố định là 20%.
• Thủ tục phí tái bảo hiểm theo lãi
Đây là một phương pháp bổ sung cho phương pháp tính thủ tục
phí tái bảo hiểm cố định. Theo phương pháp này,nhà tái bảo hiểm phải trả
gia tái bảo hiểm cho hợp đồng năm tiếp theo nữa,trách nhiệm của nhà tái bảo
hiểm sẽ được giải quyết theo một trong hai cách sau:
+ Hoặc tiếp tục chịu trách nhiệm đối với những rủi ro còn hiệu
lực cho tới khi chấm dứt toàn bộ những rủi ro được bảo hiểm trong năm
nghiệp vụ bảo hiểm đó;
+ Hoặc thỏa thuận chuyển giao toàn bộ phần trách nhiệm còn
tồn tại sang cho nhà tái bảo hiểm mới tham gia cho năm tới.
7. QUẢN LÝ HỢP ĐỒNG
Hợp đồng nhượng tái bảo hiểm được kí kết giữa công ty nhượng
và công ty nhận theo các chuẩn mực quy định. Theo định kỳ, người nhượng
phải lập và chuyển cho người nhận bảng thanh toán gồm bảng kê phí và
bảng kê thiệt hại.
Bảng thanh toán này có thể phân bổ theo năm ký kết, năm xảy ra
thiệt hại hoặc năm kế toán.
• Phân bổ theo năm ký kết: Theo cách này, những thiệt hại xảy ra đối
với những hợp đồng gốc trong năm thứ i được hạch toán vào tài khoản
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
20
Chuyên đề thực tập Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
năm thứ i của hợp đồng,dù việc thanh toán sẽ được tiến hành vào bất
cứ lúc nào.
• Phân bổ theo năm xảy ra thiệt hại: Những thiệt hại xảy ra trong năm
thư i được hạch toán vào tài khoản năm thứ i của hợp đồng tái,không
tính đến việc thiệt hại đó liên quan đến hợp đồng gốc ở thời kỳ nào và
được thanh toán vào lúc nào.
• Phân bổ theo năm kế toán: Theo cách này,tất cả các khoản thu cũng
như thanh toán bồi thường trong năm đều hạch toán vào tài khoản
tương ứng của hợp đồng tái bảo hiểm không tính đến việc thanh toán
phát sinh vào thời điểm nào.
Ngoài ra, xét đến quản lý hợp đồng còn phải xem xét các vấn đề
tải biển vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong ngành vận tải thế giới nói
chung và Việt Nam nói riêng mặc dù theo thống kê của các hãng sản xuất và
sửa chữa,hàng năm trên thế giới có khoảng 7.000 vụ tai nạn tàu biển làm
thiệt hại hàng tỷ đôla.
Hiện nay, đội tàu biển quốc gia Việt Nam có khoảng 970 tài với
tổng trọng tải đạt 2,85 triệu USD, xếp thứ 60/152 quốc gia có tàu mang quốc
tịch và xếp thứ 4/11 nước ASIAN. Con số 970 tàu mang quốc tịch Việt Nam
này không phải là nhiều song cũng không hẳn là quá ít. Ngành vận tải biển
Việt Nam đã góp phần vận chuyển được khoảng trên dưới 13% khối lượng
hàng hóa xuất nhập khẩu. Những vụ tổn thất xảy ra đã gây không ít khó
khăn cho các chủ tàu, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
họ. Và để giúp các chủ tàu ổn định kinh tế khi không may gặp rủi ro, tạo cho
các chủ tàu khôi phục và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển và mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên
thế giới, để góp phần tăng thu cho ngân sách, tăng nguồn vốn đầu tư cho nền
kinh tế...hoạt động bảo hiểm thân tàu đã ra đời khá sớm.
2. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM THÂN TÀU
Vào cuối thế kỷ XV khi châu Âu thực hiện những cuộc viễn chinh
tới châu Á và châu Mỹ, tạo ra cái gọi là “ cuộc cách mạng thương mại” (xảy
ra trước cuộc cách mạng công nghiệp nổi tiếng), ý tưởng quỹ chung và rủi ro
đã đồng loạt xuất hiện. Ví dụ một đội tài nhỏ có thể đi từ châu Âu tới
Indonexia,trao đổi hàng hóa tại đó và trở về với nhiều hàng hóa,tuy nhiên ở
đây tiềm tàng nhiều rủi ro: Một số tàu không hoàn thành toàn bộ chuyến đi
về, một số tàu có thể bị chìm do bão tố, cạn kiệt nguồn cung cấp (hoặc đội
thủy thủ chết vì bệnh tật), lạc đường, bị chìm do quá tải, hoặc bị mọt ăn
thủng. Những người tham gia đầu tư vào những chuyến đi như kể trên cảm
nhận thấy cần thiết phải cùng nhau chia sẻ rủi ro tránh tình trạng một số nhà
đầu tư mất trắng toàn bộ chuyến hàng do một hiện tượng khá phổ biến: tàu
bị mất tích. Người ta đã tìm ra hai cách nhằm giải quyết nhu cầu này. Thứ
nhất là tạo lập một chuyến hàng dưới hình thức cổ phần, một nhóm nhà đầu
có khả năng đảm bảo toàn bộ giá trị của chuyến đi. Do đó các nhà buôn tự
cảm thấy không được an toàn,và để đáp ứng nhu cầu này những chủ tàu đã
thành lập câu lạc bộ của mình là tập hợp nhiều nhóm chủ tàu và đã thực hiện
bảo hiểm một cách hiệu quả các tàu biển của nhau. Ngày nay những công ty
bảo hiểm vẫn còn áp dụng dịch vụ của mình dựa trên nguyên tắccộng đồng
các thành viên để bảo hiểm cho nhau.
Đầu tiên,mức bồi thường bảo hiểm chỉ có giới hạn tới giá trị của
tàu đã bảo hiểm. Do đó chủ tàu phải có tiềm lực để bảo đảm trách nhiệm bồi
thưòng đối với bên thứ ba. Ví dụ trong một tai nạn đâm va,nếu tàu của người
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
23
Chuyên đề thực tập Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm
đó bị phá hủy,công ty bảo hiểm chỉ bồi thường một khoản cần thiết để thay
thế tàu mới. Những hư hỏng thiệt hại cho tàu khác hoặc cá nhân khác chủ
yếu thuộc cá nhân chủ tàu chịu trách nhiệm. Để giải quyết khó khăn này cho
chủ tàu,vào giữa những năm 1880,một điều khoản bảo hiểm được gọi là
Điều khoản bồi thường đâm va (Running Down Clause) đã trở thành một bộ
phận tiêu chuẩn trong các hợp đồng bảo hiểm. Điều khoản Running Down
Clause đã đảm bảo tới 75% trách nhiệm bồi thường trong tai nạn đâm va tàu
biển. Bên cạnh đó,Điều 17 và 18 Chương 104 Luật Hàng hải Thương mại
Anh đã đưa ra các quy định giới hạn trách nhiệm bồi thường của chủ tàu đối
với các tử vong và thương tật của bên thứ ba. Tuy đã có quy định giới hạn
trách nhiệm bồi thường tử vong hay thương tật cho bên thứ ba và đã có điều
khoản bồi thường đâm va tàu biển nhưng các chủ tàu vẫn cảm thấy mình còn
chịu rủi ro nhiều hơn so với hình thức họ tự bảo hiểm. Để đáp ứng khoản bồi
thường còn lại,câu lạc bộ dự phòng và bồi thường của chủ tàu (P&I Clubs-
the Protection and Indemnity Clubs) đã thành lập. Câu lạc bộ P&I được lập
ra nhằm mục đích chính là dự phòng để đảm bảo cho chủ sở hữu bồi thường
tai nạn tử vong hay thương tật,và là nguồn dự phòng để bồi thường tai nạn
đâm va mà Điều khoản bồi thường đâm va không thanh toán. Sau này câu
hiểm vật chất thân tàu vì trong nghiệp vụ bảo hiểm này mỗi khi có rủi ro xảy
ra thiệt hại sẽ là rất lớn. Hình thức này sẽ làm giảm chi phí bồi thường cho
công ty bảo hiểm gốc, rủi ro sẽ được phân tán cho các nhà bảo hiểmđồng
thời cũng tạo tâm lý an toàn cho người tham gia bảo hiểm.
2. CÁC PHƯƠNG PHÁP TÁI BẢO HIỂM ÁP DỤNG
Hiện nay thị trường tái bảo hiểm Việt Nam áp dụng cả hai phương pháp tái
bảo hiểm như trên:
+ tái bảo hiểm theo số tiền bảo hiểm (gồm tái bảo hiểm số
thành,tái bảo hiểm mức dôi,tái bảo hiểm kết hợp số thành - mức dôi);
+ tái bảo hiểm theo số tiền bồi thường (gồm tái bảo hiểm vượt mức bồi
thường,tái bảo hiểm vượt quá tỷ lệ bồi thường và tái bảo hiểm vượt mức bồi
thường đảm bảo tai họa khốc liệt).
TBH cố định TBH tạm thời
Số thànhMức dôiVượt mức bồi thường
Tỷ lệ theo số tiền BHTheo số tiền bồi thường
Nguyễn Tuấn Anh - Bảo hiểm 46A
25