Kỹ thuật nuôi Tôm càng
xanh thâm canh
1. Thiết kế ao nuôi
- Hình dạng và kích cở ao
nuôi: Ao thường có hình chữ nhật, kích thước thích hợp và phổ biến là 0,2 –
0,6 ha. Mức nước thích hợp từ 0,7 – 0,9m. Bờ ao phải chắc chắn, không rò
rỉ, không hang hốc làm nơi trú ẩn cho các sinh vật hại tôm. Mặt bờ rộng ít
nhất là 2m nhằm giúp cho việc đi lại chăm sóc tôm thuận lợi, bờ phải cao,
không rò rỉ, xung quanh bờ có lưới chắn để hạn chế địch hại từ bên ngoài
vào ao nuôi. Độ nghiêng đáy ao từ 3 – 5%.
- Ao phải giữ được nước trong suốt thời gian nuôi. Mức nước trong ao từ 1,2
– 1,5m.
- Cống: Mỗi ao nuôi cần ít nhất là một cống (cống gỗ hay cống xi măng
dạng lỗ hay dạng ván phay). Nếu hai cống thì đặt mộýt cống cấp, một cống
tiêu về 2 phía của ao nuôi. Kích thước cống tùy thuộc vào kích thước ao
nuôi cũng như kh năng trao đổi nước cho ao vào mỗi cao nước cường (cống
phải trao đổi từ 20 – 30% lượng nước ao nuôi vào mỗi lần nước cường).
Những ao diện tích nhỏ hơn 500 m2 có thể đặt 1 – 3 cống lổ xi măng hay
cống bọng dừa với đường kính 20 – 30 cm.
- Bơm: máy nhỏ di động cũng rất cần thiết cho ao nuôi tôm, máy bơm giúp
trao đổi nước ao theo định kỳ hay vào những lúc nước ao bị dơ bẩn.
2. Chuẩn bị ao nuôi
Trong nuôi tôm, công việc chuẩn bị ao nuôi đóng vai trò rất quan trọng, để
có một ao nuôi tôm chuẩn bị tốt nên thực hiện các bước sau:
- Vệ sinh ao: sau mỗi vụ nuôi, ao nhất thiết phải sên vét lớp bùn đáy nếu có
thể nên loại bỏ hết lớp bùn lắng tụ ở đáy, mầm bệnh và khí độc.
- Phơi đáy ao: ao cần phơi khô đáy 3 – 5 ngày, công việc này giúp oxy hóa
các vật chất hữu cơ còn lại ở đáy đồng thời giải phóng các khí độc như H2S,
- Tiến hành lấy nước vào hệ thống nuôi thông qua lưới lọc nhằm hạn chế
địch hại và trứng các loài cá tạp vào ao nuôi, khi mức nước trong ao đạt
1,2m, 2 – 3 ngày sau tiến hành thả giống.
3. Thả giống
- Tùy theo kích cỡ giống và cách thức nuôi (nuôi đơn hay nuôi kết hợp) và
mức độ thâm canh mà mật độ thả có khác nhau.
- Trong nuôi đơn: tôm càng xanh giống tự nhiên có thể thả ở mật độ 4 – 6
con/ m2, còn với tôm giống nhân tạo thả 20 con/ m2.
- Hiện nay, trong nuôi tôm càng xanh việc thả giống đơn tính (toàn đực)
cũng đang được chú ý bởi lẽ tôm đực lớn nhanh và cho sản lượng cao. Tuy
nhiên, việc tách đàn tôm đực và cái đối với tôm kích cỡ nhỏ thường không
dễ dàng thực hiện. Có các cách thường áp dụng như sau:
+ Tôm giống cỡ 2g có thể dựa vào lỗ sinh dục ở gốc chân ngực năm để phân
biệt.
+ Tôm giống từ 1g trở lên có thể dựa vào nhánh phụ sinh dục ở chân bụng
thứ nhất.
+ Tôm giống từ 2g trở lên có thể dựa vào gờ cao ở đốt bụng thứ nhất.
- Các cách nêu trên thường có nhược điểm là khó thực hiện với một số lượng
tôm lớn, dễ làm tôm giống bị xây xát gây hao hụt nhiều. Ngoài ra, có thể thả
nuôi chung đực và cái và sau sau 3 – 4 tháng nuôi tôm cái sẽ mang trứng,
trong trường hợp naữy thu tôm cái bán và giữ lại tôm đực nuôi tiếp.
- Thả giống: thả giống tốt nhất vào sáng sớm, trước khi thả ngâm bao 15 –
30 phút, sau đó mở miệng bao cho nước vào trong bao và từ từ hạ miệng bao
xuống để tôm bơi ra ngoài ao.
4. Thức ăn
a. Thức ăn cho tôm giai đoạn còn nhỏ (1 tháng đầu)
- Dùng thức ăn viên có hàm lượng đạm 35%. Thức ăn được rãi đều khắp ao.
Lượng cho ăn lúc mới thả giống chiếm 30% trọng lượng thân. Cho ăn 4
lần/ngày.
- Tôm ăn thức ăn là do mùi (cơ quan xúc giác râu a1 và a2) chứ không phải
- pH nước ao: trong ao nuôi pH luôn luôn có sự biến động theo sự nở hoa
của to (pH tăng cao khi to quang hợp mạnh) và sự phân hủy các hợp chất
hữu cơ ở đáy ao (pH thấp tầng đáy), do mưa rửa phèn từ bờ ao xuống hay
nguồn nước bị nhiễm phèn (pH thấp). Tất c sự biến động tăng gim pH của
nước ao nuôi (> 9 hay < 7) luôn có sự nh hưởng đến đời sống của tôm.
Phương án xử lý là thay nước hay sử dụng vôi điều chỉnh sự thay đổi pH
nước trong ao. Dùng vôi với lượng 8-10kg/10m2, xử lý phần xung quanh ao
trước những cơn mưa lớn nhằm tránh sự rửa trôi phèn từ bờ vào ao. Đo pH
nước sau khi mưa. Nếu pH nước xuống nhỏ hơn 7 thì dùng vôi với lượng 1 –
1,5kg/100 m2 pha với nước tạt khắp ao để nâng pH nước.
- Độ đục và độ trong
+ Sau những cơn mưa; nguồn nước lấy vào ao chứa nhiều hạt phù sa làm
nước vẫn đục hay sự phát triển quá mức của tảo có thể gây trở ngại đối với
tôm nuôi. Có thể làm cho nước trong ao trở nên trong lại bằng cách dùng vôi
pha nước và tạt khắp ao để lắng tụ các hạt mùn bã (1kg/100 m2).
+ Độ trong của ao thấp thì cần phải thay nước và giữ trong phạm vi 25 – 40
cm, nếu độ trong thấp, màu nước vẫn đục thì thay 20 – 30% và điều chỉnh
lại lượng thức ăn sử dụỹng. Ao có màu nước sẫm và trong thì phải thay
nhiều nước, và phải bón vôi 5 – 10 kg/ 1.000 m3, trường hợp độ trong vượt
quá 40 cm thì phải bón thêm phân hữu cơ, hoặc vô cơ để tăng màu nước (10
– 15 kg/ 100 m2 phân heo, gà).
- Khí độc
+ Quá trình phân hủy các chất thải của tôm, thức ăn thừa, chất hữu cơ từ
ngoài vào, tảo chết…sẽ tạo nhiều chất dinh dưỡng cho ao và cũng tạo nhiều
khí độc khác có tác hại đối với tôm mà chủ yếu là khí ở tầng đáy như H2S,
NH3, NO2
+ H2S trong nước tồn tại dưới dạng H2S, HS- và S2-, trong nhóm này H2S
là khí độc nhất và hàm lượng sẽ nhiều khi pH, Oxy hòa tan thấp, nhiệt độ
cao.
+ NH3 (ammonia) tồn tại trong nước ao dưới dạng ion (NH3) và dạng kết
Khi tôm nuôi được 3 – 4 tháng, tiến hành thu tỉa thu tôm mang trứng, tôm
chậm phát triển, tôm càng xào. Sau 6 – 7 tháng nuôi tiến hành thu hoạch
toàn bộ bằng cách hạ mức nước ao còn 0,5 m, kéo lưới để giảm mật độ nuôi
trong ao, sau đó tát cạn bắt toàn bộ tôm trong ao.