LUẬN VĂN:
Phương hướng và biện pháp đẩy
mạnh xuất khẩu trong từng giai đoạn
cụ thể tại Công ty Giầy Thăng Long
Lời nói đầu
Trong giai đoạn hiện nay khi xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá đang trở
nên phổ biến thì hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đóng vai trò trong tiến trình
kinh tế xã hội của một quốc gia. Với Việt Nam, một quốc gia đang trong giai đoạn
đầu của một quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá "Đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất
khẩu là hướng ưu tiên, là trọng điểm kinh tế đối ngoại". Hoạt động xuất khẩu mà
các ngành kinh tế tham gia đem lại cho đất nước một lượng ngoại tệ khá lớn phục
_ Ngân hàng cổ phần Công thương Việt Nam.
_ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Kể từ khi thành lập đến nay, Công ty đã gặp không ít khó khăn thách thức. Có
thể phân chia sự phát triển của Công ty thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ năm 1990- 1992
Theo luận chứng kinh tế- kỹ thuật được duyệt, Công ty giầy Thăng Long khi
bắt đầu thành lập có số vốn là : 2.420.000.000 đồng, sản phẩm chính của công ty là
gia công mũ giầy xuất khẩu cho Liên Xô cũ với công suất 4.000.000 đôi/năm.
Trong những năm đầu mới thành lập, công ty đã xây dựng hai xưởng sản xuất
và một số công trình phục vụ sản xuất kinh doanh. Nhưng đây là giai đoạn công ty
hoạt động trong quá trình chuyển đôỉ từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế
thị trường, lại thêm sự tan rã của Đông Âu và Liên Xô- khách hàng chính và duy nhất của công ty- đã đẩy công ty vào tình thế rất khó khăn trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. Công ty không còn được đầu tư vốn, phải nghỉ chờ cấp trên giải quyết.
Song để duy trì sự tồn tại của công ty ban lãnh đạo và CBCNV trong công ty đã có
kế hoạch tìm kiếm thị trường mới, thay đổi sản phẩm sang sản xuất giầy vải xuất
khẩu. Với chính sách mở cửa, tranh thủ các nguồn vốn vay ngân hàng, vốn ngân
sách, công ty vừa đầu tư xây dựng, vừa đào tạo tổ chức lại đội ngũ công nhân từng
bước thích ứng với sự phát triển của cơ chế thị trường.
Giai đoạn 2: Từ năm 1993 đến nay
Kể từ những năm 1992_1993 khi tình hình kinh tế, chính trị ở Liên xô và các
nước Đông Âu có nhiều biến đổi, các đơn vị đặt hàng bị cắt đứt, hơn thế quá trình
sản xuất kinh doanh của Công ty lại mang tính thời vụ, thời gian ngừng sản xuất
kéo dài (khoảng 3 tháng 5,6,7) đã gây ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh và
trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống toàn bộ công nhân viên trong Công ty. Trước tình
hình đó lãnh đạo nhà máy cùng toàn thể công nhân viên đã cùng nhau tìm hướng đi
mới cho Công ty: Đó là sản xuất giầy vải hoàn chỉnh xuất phát từ nhu cầu to lớn của
mặt hàng này ở trong và ngoài nước. Quá trình này gặp nhiều khó khăn do thời
đã bắt đầu làm ăn có lãi, Công ty luôn hoàn thành kế hoạch, chỉ tiêu của Tổng Công
ty và thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước. Điều đó thể hiện qua bảng 1.
Khái quát quá trình ra đời và phát triển của công ty giầy Thăng Long cho thấy
đây là một công ty còn non trẻ, ra đời và phát triển trong giai đoạn môi trường kinh
doanh có những thay đổi rất lớn và sâu sắc, song vẫn tạo được những bước tiến nhất
định, khẳng định được vị trí của mình trên thương trường. Bảng 1: Một số chỉ tiêu cơ bản từ 2000 - 6/2003
TT
Chỉ tiêu
Đơn
vị
2000 2001 2002
1-
6/2003
Tốc độ phát triển
(%)
01/00
02/01
02/00
1
Tổng sản
phẩm sản
xuất
Đôi 3708052
1832667
79,98
93,21
74,56
- Giầy nội địa
Đôi 1757104
2748831
2891774
862197
156,4
105,2
164,6
2
Giá trị sản
xuất công
nghiệp
Tr.đ
Trong đó: - Doanh thu
nội địa
Tr.đ
3268,5
35005,4
47123,8
5364,4
1070,9
134,6
144,7- Doanh thu
xuất khẩu
67,095
60,64
5 Lợi nhuận Tr.đ
902
1309,6
1438
60239,9
145,18
109,8
159,12
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty.
Công ty giầy Thăng Long được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến chức năng. Đây là
một cơ cấu quản lý mà toàn bộ công việc quản lý được giải quyết theomotj kênh
liên hệ đường thẳng giữa cấp trên và cấp dưới trực thuộc. Chỉ có lãnh đạo quản lý ở
từng cấp mới có nhiệm vụ và quyền hạn ra mệnh lệnh chỉ thị cho cấp dưới(Tức là
mỗi phòng, ban xí nghiệp của Công ty chỉ nhận quyết định từ một thủ trưởng cấp
: Quan hệ trực tuyến
: Quan hệ chức năng * Chức năng của các phòng ban:
- Ban giám đốc: Giám đốc là người đưng đầu Công ty, chịu trách nhiệm chung
trước Tổng công ty trong công tác điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty.
Ban giám đốc
Phòn
g
Tổ
chức
hành
chín
Phòn
g
Kế
hoạc
h
v
ật
Phòn
g
Kỹ
thuậ
t
c.ng
Xí
nghiệp
đế cao
su
Phân
xưởng
cơ
điện Một Phó giám đốc chịu trách nhiệm trước Giám đốc về tình hình nội chính
của Công ty.
Một Phó giám đốc chịu trách nhiêm trước Giám đốc về kỹ thuật công nghệ
KCS. Xây dựng chương trình kế hoạch với Giám đốc để chỉ đạo thực hiện, phụ
trách công tác sản xuất kế hoạch vật tư, an toàn lao động.
- Phòng tổ chức hành chính:
Thực hiện chức năng làm tốt công tác nhân sự, thực hiện chế độ thanh toán
tiền lương cho cán bộ công nhân viên, làm tốt công tác hành chính phục vụ cho
khách hàng trong và ngoài Công ty, đồng thời làm các công tác khác như văn thư,
bảo mật, tiếp cận, y tế, vệ sinh,
- Phòng kinh doanh: Gồm 2 phòng
+ Phòng thị trường và giao dịch nước ngoài:
Chức năng của phòng là tham mưu giúp cho Giám đốc thực hiện các hoạt
động kinh doanh xuất khẩu của Công ty theo giấy phép đăng ký kinh doanh và triển
khai thực hiện các hoạt động về thị trường, tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
+ Phòng kỹ thuật công nghệ:
Với chức năng là quản lý toàn bộ công tác kỹ thuật sản xuất của toàn Công ty
như ban hành các định mức vật tư nguyên liệu, lập các quy trình công nghệ trong
sản xuất thử các loại hàng mẫu chào hàng, quản lý công tác an toàn thiết bị kỹ thuật
trong sản xuất.
mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu của khách hàng, chú trọng việc nâng cao chất
lượng và hạ giá thành sản phẩm để tăng sức cạnh tranh. Không ngừng tìm tòi
nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, từng bước mở rộng thị trường, tăng thị
phần. Luôn đi tìm kiếm thị trường mới, Nhờ đó mà Công ty đã đạt được những
kết quả đáng ghi nhận.
- Chất lượng và số lượng sản phẩm của Công ty ngày một tăng và có vị trí trên
thị trường.
- Thị trường của Công ty ngày càng mở rộng ra nhiều nước và nhiều khu vực
trên thế giới.
- Lợi nhuận tăng lên theo hướng ổn định.
- Số lượng lao động tăng lên qua các năm, giải quyết vấn đề việc làm cho
người lao động. - Thu nhập của người lao động trong Công ty cũng tăng lên, đời sống được cải
thiện.
Bên cạnh đó, Công ty còn nhiều hạn chế:
- Thị trường xuất khẩu chủ yếu là một số nước châu á, châu Âu và Bắc Mỹ thị
trường trong nước nhiều tiềm năng thì chưa được khai thác triệt để.
- Nguyên phụ liệu của Công ty thì hầu hết phải nhập ở nước ngoài.
- Mẫu mã sản phẩm chưa phong phú.
- Sản xuất theo mùa nên tháng 5, 6, 7 Công ty rất ít việc làm, một số bộ phận
sản xuất phải nghỉ việc.
- Thu nhập người lao động chưa cao
2. Các đánh gia cụ thể kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giầy
Thăng Long.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giầy Thăng Long thời kỳ 2000-
6/2003 được thể hiện qua bảng dưới đây:
Bảng 2: Kết quả kinh doanh của Công ty Giầy Thăng Long
Thời kỳ 2000 - 6/2003
94,3
117,21
Trong đó: - Giầy xuất
khẩu
Đôi 1950948
1560412
1454576
1832667
79,98
93,21
74,56
103,04
121,17
xuất công
nghiệp
3 Doanh thu Tr.đ
103582
127883
107694
67057
123,46
84,21
103,96
Trong đó:
60367,2
61692,6
99,09
70,23
69,6
4
Nộp ngân
sách
Tr.đ
2633,52
2380,2
1597
1452,7
90,38
67,095
60,64
5 Lợi nhuận Tr.đ
đôi. Doanh thu tiêu thụ nội địa tăng mạnhqua các năm, phần nào bù đắp sự suy
giảm của doanh thu từ hoạt động xuất khẩu. Doanh thu nội địa năm 2002 đạt
47.123,8 triệu VNĐ, tăng 34% so với năm 2001 và bằng 141,7% so với nă 2000. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng nhưng không đều qua các năm. Năm 2001
tăng lên 17,58% so với năm 2000 nhưng năm 2002, giá trị sản xuất công nghiệp chỉ
tăng 3,04% so với năm 2001.
Doanh thu của Công ty cũng có sự biến động lớn. Từ năm 2000 đến năm 2001
có tăng lên với mức tăng 24,301 triệu VNĐ. Doanh thu sang đến năm 2002 có xu
hướng giảm đi, chỉ đạt 107.694 triệu VNĐ. Doanh thu giảm dẫn đến nộp ngân sách
Nhà nước cũng giảm. Cụ thể, số giao nộp ngân sách năm 2001 là 2.380,2 triệu
VNĐ, bằng 90,38% so với năm 2000 và năm 2002 còn tiếp tục giảm mạnh, nộp
ngân sách chỉ còn 1.597 triệu VNĐ, bằng 67,079% so với mức năm 1999. Tuy vậy
nhờ tiết kiệm được chi phí đầu vào, chi phí lưu thông nên lợi nhuận của Công ty
vẫn dảm bảo tăng đều. Năm 2001 đạt 1.309,6 triệu VNĐ, tăng 49,18% so với năm
2000, năm 2002 đạt 1.438 triệu VNĐ tăng 9,8% so với năm 2001 và tăng 59.12%
so với năm 2000.
Mặc dù giá trị sản xuất công nghiệp tăng chậm và xuất khẩu giảm đi nhưng lợi
nhuận của Công ty dần đi vào ổn định. Đây là một trong những thành công của
Công ty do đã biết kết hợp khai thác cả thị trường Thế giới và nhu cầu tiêu dùng nội
địa, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu
ngày càng tăng.
3. Phân tích và đánh giá khả năng của Công ty giầy Thăng Long.
3.1. Những mặt mạnh của Công ty giầy Thăng Long.
+ Công ty có quy mô sản xuất lớn, chủng loại sản phẩm đa dạng có thể đáp
ứng mọi đpn đặt hàng của khách hàng.
Mẫu mã sản phẩm do phòng kỹ thuật của Công ty thiết kế đa dạng về kiểu
dáng, chất liệu. Những mẫu do khách hàng mang đến luôn được đáp ứng theo đúng
yêu cầu kỹ thuật.
nước ngoài. Công ty giầy Thăng Long có thể nắm bắt cơ hội này.
+ Công ty giầy Thăng Long được sự hỗ trợ từ phía Chính phủ và Tổng công ty
da giầy Việt Nam.
Công ty giầy Thăng Long là một doanh nghiệp Nhà nước là thành viên của
Tổng công ty da giầy Việt Nam, cho nên Công ty được sự hỗ trợ rất lớn về vốn, vay
vốn ngân hàng được thuận lợi, nhận được nhiều đơn đặt hàng, được sự hỗ trợ về
triển lãm, Ngoài ra, Chính phủ rất chú trọng đến chính sách hỗ trợ xuất khẩu. 3.4. Những thách thức đối với Công ty giầy Thăng Long.
+ Đối thủ cạnh tranh mạnh và sự gia tăng nhanh chóng các đối thủ cạnh tranh
mới.
Công ty có rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường đặc biệt trong lĩnh vực
xuất khẩu vốn là thế mạnh của Công ty như Công ty giầy vải Thượng Đình, Công ty
giầy Thuỵ Khuê, nhưng hiện nay đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Công ty là các
sản phẩm giầy của Trung Quốc vì giá bán rất rẻ, mẫu mã phong phú đa dạng.
+ Nguyên phụ liệu của Công ty hầu hết phải nhập từ nước ngoài.
Do chất lượng và giá cả của nguyên phụ liệu trong nước chưa đáp ứng được
yêu cầu của Công ty, dẫn đến chi phí sản xuất tăng cao làm giảm sức cạnh tranh của
sản phẩm.
+ Nhu cầu về chất lượng và mẫu mã sản phẩm của khách hàng rất cao buộc
Công ty phải lựa chọn biện pháp phù hợp.
+ Do các cuộc xung đột trên thế giới xảy ra liên tiếp đã ảnh hưởng đến thị
trường tài chính tiền tệ thế giới, điều này cũng gây khó khăn cho hoạt động xuất
khẩu của công ty.
III. Đánh giá hoạt động quản trị của Công ty trong giai đoạn qua.
1. Đánh giá hoạt động định hướng chiến lược.
1.1 Định hướng chiến lược thị trường xuất khẩu
Trong định hướng phát triển, công ty đã đặt thị trường xuất khẩu lên hàng
đầu. Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng
cứu thị trường, Công ty giầy Thăng Long đã xác định các định hướng chiến lược
thông qua xây dựng một số chỉ tiêu cơ bản đến năm 2010:
Thứ nhất, Công ty chủ động phấn đấu tăng trưởng với nhịp độ nhanh và hiệu
quả, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 150%. Dự kiến đầu năm
2004, giá trị tổng sản lượng tăng 1,73 lần so với năm 2003, sản xuất khoảng 5 triệu
đôi giầy dép, đưa giá trị xuất khẩu lên khoảng 15 triệu USD.
Bảng 3 : Một số mục tiêu cơ bản đến năm 2010 của Công ty giầy Thăng Long.
STT
Chỉ tiêu Đơn vị Kế hoạch Dự kiến Dự kiến Dự kiến 2003 2004 2005 2010
1 Tổng doanh thu Tr.iệu
VNĐ
120.700
204.800
727.000
1.140.000
2 Doanh thu từ
Xuất khẩu
Triệu VNĐ
97.500
190.000
công suất, tồn ít vốn và có tiềm lực nguyên liệu nội địa. Công nghệ ngày càng xích
lại gần với thời trang trên một cơ cấu sản xuất mềm dẻo, uyển chuyển linh hoạt,
nhạy cảm với thị trường và thị hiếu tiêu dùng.
Thứ ba, Công ty phải từng bước khắc phục những yếu kém về vốn, kỹ thuật,
thị trường, quản lý sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu, máy móc đồng thời khai
thác tốt lợi thế nguồn lực lao động để nâng cao khả năng cạnh tranh, hợp tác quốc
tế.
Thứ tư, sông song với việc đổi mới về cơ sở vật chất, công ty giầy Thăng
Long cần quan tâm đến công tác xây dựng lực lượng sản xuất với cơ cấu sản xuất
hiện đại, thích nghi với máy móc và công nghệ tiên tiến, chú trọng cải thiện đời
sống vật chất tinh thần của người lao động để họ tự hào và gắn bó với doanh nghiệp
của mình.
Thứ năm, Công ty phải lập ra được kế hoạch chiến lược phát triển thị trường
xuất khẩu. Công ty đã chủ động đầu tư trang bị máy móc và công nghệ hiện đại
nhằm tăng năng xuất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh bằng chính chất
lượng, mẫu mã sản phẩm. Công ty đã từng bước xâm nhập vào những thị trường
nhất định. 2. Đánh giá công tác tổ chức quản trị lao động
2.1. Các hoạt động của quản trị lao động
- Kế hoạch nhân sự trong công ty do phó giám đốc nhân sự cùng phòng Tổ
chức hành chính chịu trách nhiệm xây dựng, căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh
doanh từng thời kì. Công tác tham mưu cho giám đốc trong việc cơ cấu, tổ chức lại
bộ máy quản lý công ty cũng đang được tiến hành tại đây.
- Công tác tuyển dụng bố trí sử dụng, đánh giá đề bạt thăng tiến, đào tạo trong
công ty chủ yếu sử dụng nguồn nội bộ công ty với mục đích tạo động lực phấn đấu
cho CBCNV.
- Tiền lương thưởng và các hình thức phân phối .Hiện nay công ty đang tiến
hành chế độ lương theo sản phẩm, chế độ thưởng của công ty áp dụng thưởng theo
35,00
1.900
2001 2.134
67,28
1.038
32,72
3.172
2002 2.387
68,70
1.085
31,30
3.472
2003 2.422
68,49
1.123
nhu cầu đặt ra là mở rộng sản xuất kinh doanh, và đến năm 2001 công ty đã sáp
nhập thêm chi nhánh giầy Thái Bình.Và một điều quan trọng là do đặc điểm ngành
hàng của công ty yêu cầu đòi hỏi lao động trực tiếp là chủ yếu.
+ Lao động gián tiếp của công ty chiếm tỷ trọng không nhỏ song đã tăng trong
3 năm qua. Cụ thể năm 1999 có 206 lao động gián tiếp đến năm 2000 đã có 247
người .Như vậy tăng 41 người tương ứng với tỷ lệ tăng 19,90% so với năm 1999,
đến năm 2001 thì đã tăng lên 412 người tương ứng với tăng 66,80% so với năm
2000. Năm 2002 và 2003 số lao động gián tiếp là 463 và 448 đềutăng lên và ổn
định. Sở dĩ có sự tăng đột biến năm 2001 là do trong năm đó Công ty đã sát nhập
thêm chi nhánh giầy Thái Bình.
Vậy theo hình thức tác động vào đối tượng lao động của công ty ta có nhận
xét đều tăng trong 3 năm qua .Điều này chứng tỏ 1 quy mô sản xuất kinh doanh
ngày càng được mở rộng .Hơn nữa do nhu cầu ,đặc tính của mặt hàng giầy vải và
giầy thể thao đòi hỏi một đọi ngũ lao động trực tiếp tương đối lớn. Và điều quan
trọng là công ty đã sắp xếp bố trí cho mấy nghìn lao động có công ăn việc làm.
- Xét theo giới tính ta thấy :
+ Lao động nữ: Qua bảng số liệu ta cũng thấy hợp lý tỷ trọng lao động nữ
nhiều hơn tỷ trọng lao động nam .Điều này cũng dễ hiểu bởi vì công việc của công
ty đòi hỏi sự khéo léo vá nhanh nhẹn của phụ nữ nhiều hơn: ví dụ như công việc
may giầy chẳng hạn đa số lao động nữ đảm nhiệm công việc này ,chỉ có 1 số công
việc đòi hỏi lao đọng nam như phân xưởng cơ điện , đế cao su. Cụ thể lao động nữ
năm 1999 là 1010 người chiếm tỷ trọng 63,60%.Song năm 2000 số lao động nữ là
1235 người chiếm 65% .So với năm 1999 số lao động nữ đã tăng 225 người tương
ứng 22,28%.Năm 2001 thì con số này đã là 2134 người chiếm tỷ trọng 67,28% tổng số lao động của năm 2001 và tăng 899 người tương ứng tăng 72,79%. Năm 2002 số
lao động nữ là 2.387, chiếm 68,70% tổng số lao động, năm 2003 số này là 2.442,
chiếm 68,69%. Số lao động nữ tăng đều qua các năm và với tỷ trọng cũng tăng, như
vậy, công ty rất quan tâm đến khâu tuyển dụng lao động cho phù hợp với công việc.
đi. Nguyên nhân chủ yếu do năm 2001 tổng số lao động của công ty tăng 66,95% so
với năm 2000 điều này đã làm cho tỉ trọng về trình độ trung học chuyên nghiệp của
năm 2001 chỉ có 1,54% trong khi đó năm 2000 là 2%. Năm 2002 con số này là 45
người, chiếm 1,41%. Như vậy đã giảm 0,59%, đây là một dấu hiệu tốt vì trình độ
đại học, cao đẳng thì tăng lên còn trình độ trung học giảm đi. Điều này chứng tỏ
một đội ngũ CBCNV của công ty giầy Thăng Long ngày càng được nâng cao về
trình độ chuyên môn, kĩ thuật.
+ Công nhân kĩ thuật bậc 5 năm 1999 có 53 người, chiếm tỉ trọng 3,34% và
năm 2000 có 62 người, chiếm tỉ trọng 3,26% như vậy, công nhân kĩ thuật có tay
nghề bậc 5 của năm 1999 đã tăng 9 người, tương ứng với tỉ lệ tăng 16,98% làm cho
tỉ trọng giảm 0.07%. Năm 2001 có 90 người, chiếm tỉ trọng 2,84% tăng 28 người so
với năm 2000 tương ứng với tỉ lệ tăng là 45,16%, năm 2002 con số này là 122
người, chiếm 3,51%. Nhìn chung, về trình độ tay nghề của công nhân viên trong
công ty trong thời gian gần đây đều tăng lên rõ rệt. Điều này đánh giá cao sự quản lí
và tuyển dụng công nhân viên của ban lãnh đạo công ty.
+ Công nhân kĩ thuật bậc 4 : Đây là lực lượng lao động chiếm tỉ trọng lớn
trong toàn công ty. Năm 1999 là 992 người, chiếm tỉ trọng là 62,47% tổng số lao
động. Năm 2000 con số này đã là 1182 người, tương ứng với tỉ trọng 62,21% tổng
số lao động của năm 2000 và so với năm 1999 thì đã tăng lên 190 người, tương ứng
với tỉ lệ tăng 19,15%. Năm 2001 con số này đã tăng một cách đáng kể.Tổng số
CNV có tay nghề bậc 4 là 2330 người, chiếm tỉ trọng 73,46%. Và đã tăng so với
năm 2000 là 1148 người, tương ứng với tỉ lệ tăng 97,12%. Năm 2002 là 2.486
người chiếm 71,60%.
+ Lao động phổ thông: Năm 1999 có 452 người chiếm tỉ trọng 28,46% năm
2000 có 553 người, chiếm tỉ trọng 29,11% và đã tăng 101 người so với năm 1999
tương ứng với tỉ lệ tăng là 22,35%. Năm 2001 thì đã tăng 72 người so với năm 2000 tương ứng với tỉ lệ tăng là 13,72%. Năm 2002 số này là 732 người tăng lên 107
người, chiếm 21,08% tổng số lao động.
28.983
6.653
17.680
4650
52.492
12070
32.028
8.391
1.2Giầy nữ
Cỡ 22-31
Cỡ 32-41
Cỡ 42-48
0
0
0
0296
0
2016
0
31270
3127
0
(Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty giầy Thăng Long năm
2000_ 2002)
Qua bảng ta thấy hoạt động sản xuất và xuất khẩu của Công ty tập chung chủ
yếu vào loại sản phẩm giầy vải nam, đây cũng là một mặt hàng truyền thông mà
Công ty đã sản xuất và kinh doanh trong suốt những năm vừa qua. Còn loại giầy nữ
và giầy thể thao bằng da xuất khẩu ở dạng cầm chừng, chiếm tỷ trọng nhỏ trong
tổng số các loại giầy.
- Quyết định về chất lượng hàng xuất khẩu:
Khi sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, Công ty thông qua các quyết định chất
lượng hàng xuất khẩu để đảm bảo giữ vững trên thị trường mục tiêu. Sử dụng các
chỉ tiêu chất lượng đặc trưng quan trọng nhất của sản phẩm cho phép Công ty có sự
đánh giá thật khách quan khoa học và chính xác.
+ Đối với mặt hàng gia công thì nguyên liệu và mẫu mã hoàn toàn do phía đối
tác cung cấp do đó Công ty chỉ việc làm theo những yêu cầu đó. Đay là nguồn mẫu
mã tốt giúp Công ty có thể bắt chước để thiết kế các sản phẩm của mình.