một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu chè ở tổng công ty chè việt nam - Pdf 10

Mục lục
Lời nói đầu 4
Chơng I
Xuất khẩu và vai trò của hoạt động xuất khẩu chè
đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè
I. Khái niệm xuất khẩu và vai trò của nó đối với doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh chè 6
1. Khái niệm về xuất khẩu 6
2. Các lý thuyết về xuất khẩu 7
2.1. Lý thuyết của trờng phái trọng thơng 7
2.2. Lý thuyết của Adam Smith 8
2.3. Lý thuyết của David Ricardo 9
3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu chè 11
3.1. Đối với nền kinh tế quốc dân nói chung 11
3.2. Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè 15
II. Các hình thức xuất khẩu chè 16
1. Xuất khẩu trực tiếp 16
2. Xuất khẩu uỷ thác 17
3. Xuất khẩu theo nghị định th giữa hai Chính phủ 17
III. Nội dung của hoạt động xuất khẩu chè của doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh chè 18
1. Lựa chọn thị trờng 18
2. Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu 18
3. Lựa chọn khách hàng 19
4. Lựa chọn phơng thức giao dịch 20
5. Đàm phán, ký kết hợp đồng 20
6. Thực hiện hợp đồng, giao hàng và thanh toán tiền 21
IV. Đặc điểm cung cầu thị trờng chè và các nhân tố ảnh hởng đến xuất
khẩu chè của Việt Nam 21
1. Đặc điểm thị trờng tiêu thụ chè 21
2. Cung cầu thị trờng chè 23

2.3. Giá cả 44
2.4. Thị trờng 46
2.4.1. Thị trờng Irăq 46
2.4.2. Thị trờng Liên Xô cũ và các nớc Đông Âu 46
2.4.3. Thị trờng Đài Loan 47
2.4.4. Thị trờng Nhật Bản 48
2.4.5. Thị trờng ASEAN 48
2
2.4.6. Thị trờng Anh 48
2.4.7. Thị trờng Pakistan 49
2.4.8. Thị trờng Mỹ 49
3. Đánh giá chung về sản xuất và xuất khẩu chè của Tổng Công ty trong thời
gian qua 51
3.1. Những mặt đã đạt đợc 51
3.2. Những tồn tại 52
3.3. Nguyên nhân các tồn tại 53
3.3.1. Nguyên nhân chủ quan 53
3.3.2. Các nguyên nhân khách quan 55
Chơng III
Phơng hớng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu chè ở Tổng Công ty chè Việt Nam trong thời gian tới
I. Triển vọng thị trờng chè thế giới 57
II. Định hớng xuất khẩu của ngành chè Việt Nam trong thời gian tới 58
1. Quan điểm, định hớng phát triển sản xuất và xuất khẩu của ngành chè VN 58
2. Mục tiêu chủ yếu nhằm phát triển sản xuất và xuất khẩu chè VN từ nay
đến năm 2010 59
2.1. Mục tiêu chung 59
2.2. Một số chỉ tiêu 61
2.3. Các chỉ tiêu trong kế hoạch xuất khẩu chè của Tổng Công ty chè VN
từ nay đến năm 2005 61

quan trọng nhằm thúc đẩy tốc độ tăng trởng của nông nghiệp và kinh tế nông thôn
nớc ta.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều lợi thế để phát triển cây chè hơn các nớc
khác, chúng ta có điều kiện về khí hậu, thổ nhỡng thích hợp cho cây chè phát triển,
có nguồn lao động dồi dào trong nông nghiệp và thị trờng tiêu thụ tiềm tàng trong
và ngoài nớc. Tuy nhiên lợng chè xuất khẩu còn rất hạn chế chỉ chiếm 2% tổng sản
lợng xuất khẩu của toàn thế giới. Vì vậy, để ngành chè Việt Nam nói chung và
Tổng Công ty chè Việt Nam nói riêng có đợc những bớc phát triển mới trong việc
xuất khẩu chè ra thị trờng Thế giới đó là một vấn đề hết sức cấp thiết.
Thực tế trong những năm vừa qua mặc dù đã có sự cố gắng nỗ lực trong việc
giải quyết vấn đề xuất khẩu chè, nhng Tổng Công ty vẫn đang gặp không ít khó
khăn, vớng mắc cần phải đợc giải quyết. Chính vì vậy, qua thời gian nghiên cứu lý
luận, tôi mạnh dạn chọn đề tài:
4
Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu chè ở Tổng Công ty
chè Việt Nam .
Mặc dù thời gian qua đã có những nhiều Đề tài khoa học, luận án, chuyên
đề nghiên cứu vấn đề này, nh ng chuyên đề này sẽ cố gắng phân tích một cách hệ
thống các vấn đề xuất khẩu chè và đa ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu chè của
Tổng Công ty Chè Việt Nam .
Chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận gồm ba chơng:
Chơng I : Xuất khẩu và vai trò của hoạt động xuất khẩu chè đối với
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè.
Chơng II : Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu chè ở Tổng Công
ty chè Việt Nam .
Chơng III: Phơng hớng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu chè
trong thời gian tới.
Do hạn chế về thời gian cũng nh trình độ, nội dung chuyên đề chắc còn
nhiều thiếu sót, nhiều vấn đề tiếp tục phải nghiên cứu và trao đổi, tôi mong muốn
nhận đợc các ý kiến đóng góp.

Hoạt động xuất khẩu đợc diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ
xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng đến xuất khẩu t liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho
đến các máy móc công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình đến hàng hoá vô
hình. Tất cả đều nhằm mục tiêu đem lại lại lợi ích cho các quốc gia tham gia.
Hoạt động này diễn ra trong phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian.
Nó có thể diễn ra trong một ngày hay kéo dài hàng năm; có thể diễn ra trên phạm
vi lãnh thổ của một hay nhiều quốc gia khác nhau.
6
Nếu xét dới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là hình
thức cơ bản đầu tiên mà các doanh nghiệp áp dụng khi bớc vào lĩnh vực kinh doanh
quốc tế. Mọi Công ty luôn hớng tới xuất khẩu những sản phẩm và dịch vụ của
mình ra nớc ngoài. Do vậy mà xuất khẩu đợc xem nh chiến lợc kinh doanh quan
trọng của các Công ty.
Có nhiều nguyên nhân khuyến khích các Công ty thực hiện xuất khẩu trong
đó có thể là:
+ Sử dụng khả năng vợt trội (hoặc những lợi thế) của Công ty.
+ Giảm đợc chi phí cho một đơn vị sản phẩm do nâng cao khối lợng sản
xuất.
+ Nâng cao đợc lợi nhuận của Công ty.
+ Giảm đợc rủi ro do tối thiểu hoá sự dao động của nhu cầu.
Khi một thị trờng cha bị hạn chế bởi thuế quan, hạn ngạch, các quy định về
tiêu chuẩn kỹ thuật hay năng lực của các tổ chức kinh doanh quốc tế cha đủ thực hiện
các hình thức cao hơn thì hình thức xuất khẩu đợc chọn vì ở xuất khẩu lợng vốn ít
hơn, rủi ro thấp hơn và thu đợc hiệu quả kinh tế cao trong thời gian ngắn.
Đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu trớc khi bớc vào
nghiên cứu thực hiện các nghiệp vụ phải nắm bắt đợc các thông tin về nhu cầu
hàng hoá, thị hiếu, tập quán tiêu dùng, khả năng mở rộng sản xuất, giá cả và xu h-
ớng biến động của nó. Những điều này phải luôn trở thành nếp thờng xuyên trong
t duy của mỗi nhà kinh doanh xuất khẩu, để có thể nắm bắt đợc các cơ hội kinh
doanh trong Thơng mại Quốc tế.

- Khuyến khích chở hàng hoá bằng tàu của nớc mình vì nh vậy vừa bán đợc
hàng và tận dụng đợc cả những món lợi nhuận khác nh: cớc vận tải, phí bảo hiểm
ảnh hởng của lý thuyết trọng thơng đã bị mờ nhạt đi sau năm 1650. Lúc này
các cờng quốc thực dân thờng hạn chế sự phát triển công nghiệp của các nớc thuộc
địa của họ, nhng các thủ đoạn hợp pháp vẫn buộc chặt quan hệ thơng mại của các
nớc thuộc địa với chính quốc. Tuy nhiên quan điểm Nội thơng là hệ thống ống
dẫn, ngoại thơng là máy bơm. Muốn tăng của cải phải có ngoại thơng nhập dẫn của
cải qua nội thơng, cho đến nay vẫn luôn đợc các quốc gia khai thác và phát triển
một cách tối u nhất.
2.2. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Khác với trờng phái trọng thơng, AdamSmith cho rằng: Sự giàu có của mỗi
quốc gia phụ thuộc vào số hàng hoá và dịch vụ có sẵn hơn là phụ thuộc vào vàng.
8
Theo Adam Smith, nếu thơng mại không bị hạn chế theo nguyên tắc phân công
thì các quốc gia có lợi ích từ thơng mại quốc tế - nghĩa là mỗi quốc gia có lợi thế về
mặt điều kiện tự nhiên hay do trình độ sản xuất phát triển cao sẽ sản xuất ra những
sản phẩm mà mình có lợi thế với chi phí thấp hơn so với các nớc khác. Ông phê phán
sự phi lý của lý thuyết trọng thơng và chứng minh rằng: mậu dịch sẽ giúp cả hai bên
đều gia tăng tài sản. Theo ông, nếu mỗi quốc gia đều chuyên môn hoá vào những
ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, thì họ có thể sản xuất đợc những sản phẩm
có chi phí thấp hơn so với nớc khác để xuất khẩu, đồng thời lại nhập khẩu những hàng
hoá mà nớc này không sản xuất đợc hoặc sản xuất đợc nhng có chi phí cao hơn giá
nhập khẩu.
Nhờ sự chuyên môn hoá các nớc có thể gia tăng hiệu quả của mình bởi vì ngời
lao động sẽ lành nghề hơn do công việc đợc lặp lại nhiều lần, họ không mất thời gian
trong việc chuyển sản xuất sản phẩm này sang sản phẩm khác, do làm một công việc
lâu dài nên ngời lao động sẽ có nhiều kinh nghiệm, các sáng kiến và các phơng pháp
làm việc tốt hơn.
Mặc dù Adam Smith cho rằng, thị trờng chính là nơi quyết định nhng ông
vẫn nghĩ lợi thế của một nớc có thể là do lợi thế tự nhiên hay do nỗ lực cả nớc đó.

máy tính còn Việt Nam có lợi thế tơng đối trong việc sản xuất vải. Theo quy luật
của lợi thế so sánh hai quốc gia sẽ cùng có lợi nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá
sản xuất loại sản phẩm mình có lợi thế so sánh hơn sau đó tiến hành trao đổi một
phần sản phẩm cho nhau.
Giả sử tỉ lệ trao đổi là 6 máy tính lấy 6 m vải thì Mỹ vẫn có lợi 2 m vải tức là
đã tiết kiệm đợc 1/2 giờ công còn Việt Nam tiết kiệm đợc 3 giờ công do có lợi 3
máy tính.
Nh vậy qua ví dụ trên ta thấy đợc lợi ích của việc trao đổi sản phẩm giữa các
quốc gia thông qua việc xuất nhập khẩu hàng hoá. Sự chuyên môn hoá sản xuất
những sản phẩm mà mình có lợi thế để xuất khẩu và nhập khẩu những sản phẩm bất
lợi hơn sẽ giúp cho việc sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất nguồn lực của mỗi nớc. Bên
cạnh đó còn làm tăng sản lợng và chất lợng sản phẩm, tạo điều kiện mở rộng khả
năng tiêu dùng của mỗi quốc gia. Vì vậy đây chính là tính tất yếu của việc mở rộng
hoạt động xuất nhập khẩu này.
10
Quốc Gia
Mặt hàng
Mỹ Việt Nam
Vải ( m/ 1 giờ công )
Máy tính (cái/ giờ
công)
4
6
2
1
3. Vai trò hoạt động xuất khẩu chè
3.1. Đối với nền kinh tế quốc dân nói chung
Với xu thế ngày nay, trong sự khắc nghiệt của nền kinh tế thị trờng và nền
kinh tế Thế giới đã khẳng định: Một đất nớc có đợc thiên nhiên u đãi đến đâu đi
nữa, nhng nếu không hội nhập vào thơng mại quốc tế, thì nền kinh tế tự cung tự

11
yếu, song mọi cơ hội đầu t vay nợ và viện trợ của nớc ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu
t và ngời cho vay thấy đợc khả năng sản xuất và xuất khẩu - nguồn vốn duy nhất để
trả nợ thành hiện thực.
- Xuất khẩu chè thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Dới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã, đang
và sẽ thay đổi mạnh mẽ. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia
từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế:
Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa.
Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản cha đủ
tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp
trong một phạm vi nhỏ và tăng trởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội
phát triển. Thực tế trong những năm vừa qua thì số lợng chè sản xuất ra trong nớc đã
phần nào đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng trong nớc, ngoài ra còn khoảng 27% sản l-
ợng sản xuất để phục vụ cho xuất khẩu.
Thứ hai, coi thị trờng thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu.
Quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất,
thể hiện:
+ Xuất khẩu chè tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển.
Chẳng hạn, khi sản xuất chè xuất khẩu phát triển thì nó cần rất nhiều sự hỗ trợ
của các ngành khác nh : công nghiệp chế tạo máy móc, công nghiệp điện, giao thông
vận tải và nó cũng đỏi hỏi chính sự phát triển của các ngành này
+ Xuất khẩu chè tạo điều kiện mở rộng thị trờng sản phẩm chè, góp phần ổn
định sản xuất, tạo ra lợi thế kinh tế nhờ quy mô.
+ Xuất khẩu chè tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất chè, tăng thêm về nguồn nguyên liệu cho sản xuất và chế biến, mở rộng khả
năng tiêu dùng của một quốc gia. Ngoại thơng cho phép một nớc có thể tiêu dùng tất

đầu 1 ha chè thu hoạch đợc bằng 3-4 lần lúa nơng. Nhờ vậy đời sống ngời làm chè
đợc cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân toàn ngành năm 1996 chỉ đạt 250.000
đồng/ngời/tháng, năm 1997 đã tăng lên 350.000đồng /ngời /tháng, năm 1998 là
400.000 đồng /ngời /tháng, năm 1999 đã đạt năm 500.000 đồng /ngời/ tháng, năm
2000 là 550.000 đồng /ngời /tháng. Trong sản xuất nông nghiệp thu nhập bình
quân năm 1997 đạt 400-500 nghìn đồng / ngời/tháng, năm 1998 là 500-600 nghìn
đồng /ngời/ tháng, cho đến năm 1999 đã đạt 700-800 nghìn đồng /ngời/ tháng, năm
2000 đạt 850-900 nghìn đồng/ngời/tháng. Một số đơn vị sản xuất chè có thu nhập
rất cao nh :Trần Phú, Nghĩa Lộ, Yên Bái, Phú Sơn, Mộc Châu.
Để tăng thêm thu nhập cải thiện ngời làm chè, các hộ làm chè đã kết hợp
làm kinh tế gia đình theo mô hình VAC gắn liền kinh tế vờn nhà, vờn đồi, đem lại
13
nguồn thu nhập đáng kể góp phần quan trọng để ổn định đời sống nhất là những
khi việc sản xuất kinh doanh của xí nghiệp gặp khó khăn. Nhiều gia đình ở Công
ty chè Sông Cầu, Phú Sơn, Trần Phú , đạt mức thu nhập kinh tế gia đình (VAC)
từ 18-223 triệu đồng /năm/hộ , đặc biệt là Công ty chè Mộc Châu vùng đặc sản
cây mơ, cây mận có giá trị kinh tế cao hàng năm có tới 30-40% số hộ gia đình có
thu nhập từ cây mơ, cây mận đạt từ 12-18 triệu đồng/ năm, có gia đình thu nhập
đạt 40-50 triệu đồng /năm .Nhờ có thu nhập từ các cây trồng khác và làm kinh tế
phụ đã giúp cho cây chè phát triển ổn định, lâu dài và tạo thành một vùng sản xuất
hàng hoá lớn. Do sản xuất và kinh doanh có hiệu quả mà đời sống vật chất và văn
hoá của ngời làm chè đợc nâng lên. Theo báo cáo năm 1999 của Tổng Công ty chè
thì có khoảng 30% hộ khá, giàu, 55% số hộ trung bình và số hộ nghèo đói là 15%,
cho đến năm 2000 con số này lần lợt là 33% , 60%, 7%. Đây là dấu hiệu tích cực
đối với ngành chè và ngời lao động.
- Xuất khẩu chè là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan
hệ kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có mối tác động qua lại phụ
thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu chè là một loại hoạt động chủ yếu cơ bản và
là hình thức ban đầu của hoạt động kinh tế đối ngoại, từ đó nó thúc đẩy các mối

nghiệp.
- Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp chè phải luôn đổi mới và hoàn thiện
công tác quản trị kinh doanh, luôn tìm tòi và đa ra mô hình sản xuất, chế biến, tổ
chức, tiêu thụ sao cho có hiệu quả nhất. Thêm vào đó hoạt động xuất khẩu còn
khuyến khích sự phát triển các mạng lới kinh doanh của doanh nghiệp chè chẳng
hạn nh hoạt động đầu t nghiên cứu và phát triển, các hoạt động sản xuất, marketing
và sự phân phối, sự mở rộng trong việc cấp giấy phép xuất nhập khẩu các mặt hàng
khác.
- Sản xuất chè xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đợc nhiều lao động, tạo
ra thu nhập ổn định, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng, các dây
chuyền công nghệ có liên quan đến sản xuất và chế biến chè, vừa đáp ứng đợc nhu
cầu ngày càng cao của nhân dân và thu đợc ngoại tệ để phục vụ cho qua trình tái
đầu t.
- Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu chè có cơ hội mở rộng quan
hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nớc ngoài có thể thông qua đối tác tiêu
thụ chè của mình mà doanh nghiệp có đợc những thông tin, nguồn sản phẩm mới,
công nghệ mới mà ngay thị trờng trong nớc đang cần. Thông qua hoạt động xuất
khẩu chè mà doanh nghiệp có điều kiện, cơ hội để liên doanh, liên kết hợp tác để sản
xuất, tiêu thụ những loại sản phẩm mới ngay tại nớc mình hoặc các nớc khác.
Ngoài ra việc xuất khẩu đa mặt hàng chè ra thị trờng quốc tế còn giúp ngành
chè hiểu, xác định đợc mình nên chú trọng vào loại chè nào. Cần nâng cao chất l-
15
ợng, đổi mới mẫu mã, bao bì và hạ giá thành cho phù hợp nhất với thị hiếu của thị
trờng quốc tế nhằm thu đợc lợi nhuận tối đa.
II. Các hình thức xuất khẩu chè
Với mục tiêu là đa dạng hoá các hình thức kinh doanh xuất khẩu, nhằm phân
tán và chia sẻ rủi ro, từ trớc tới nay các doanh nghiệp chè thờng lựa chọn các hình
thức xuất khẩu chủ yếu là:
1. Xuất khẩu trực tiếp
Kinh doanh xuất khẩu chè trực tiếp là việc xuất khẩu các loại chè do chính

hàng xuất khẩu. Tỷ lệ phần trăm này là do hai bên tự thoả thuận và ký kết hợp
đồng, thông thờng là 0,5%giá trị. Hình thức này chỉ đợc áp dụng khi doanh nghiệp
xuất khẩu một lợng hàng nhỏ hoặc trớc kia doanh nghiệp không có giấy phép kinh
doanh xuất nhập khẩu trực tiếp.
Hình thức xuất khẩu uỷ thác đợc tiến hành theo các bớc sau:
- Ký hợp đồng nhận uỷ thác xuất khẩu chè cho doanh nghiệp chế biến
trong nớc.
- Thay mặt ký hợp đồng với phía nớc ngoài, làm thủ tục giao hàng và thanh
toán tiền.
- Về phần tìm kiếm doanh nghiệp nhập khẩu chè ở nớc ngoài là do sự thoả
thuận giữa doanh nghiệp chế biến chè và doanh nghiệp ngoại thơng.
- Nhận phí uỷ thác xuất khẩu chè từ doanh nghiệp chế biến trong nớc.
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là mức độ rủi ro thấp do không phải
chịu trách nhiệm về giá cả tăng hay giảm bất thờng, ngời đứng ra xuất khẩu chè
không phải là ngời chịu trách nhiệm cuối cùng. Đặc biệt, với tình hình khan hiếm
vốn nh hiện nay các doanh nghiệp ngoại thơng thờng áp dụng hình thức này do
không cần huy động vốn để mua chè. Tuy nhận tiền ít nhng nhận tiền nhanh cần ít
thủ tục và tơng đối tin cậy.
3. Xuất khẩu theo nghị định th giữa hai chính phủ
Đây là hình thức xuất khẩu chè (thờng là để trả nợ) đợc ký theo nghị định
th giữa hai chính phủ. Xuất khẩu chè theo hình thức này có nhiều u đãi nh : khả
năng thanh toán chắc chắn ( do nhà nớc trả cho doanh nghiệp chế biến chè xuất
khẩu), giá cả chè nhìn chung có thể chấp nhận đợc, doanh nghiệp chế biến không
phải lo nghĩ về đầu ra cho chè mà mình sản xuất Trên thực tế hiện nay, thì hình
thức này rất ít đợc áp dụng. Nhà nớc chỉ giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp nào có
khả năng về tài chính, năng lực sản xuất nhất. Thông thờng thì Tổng Công ty chè
Việt Nam thực hiện hình thức này. Hình thức này còn thực hiện là việc trả nợ cho
Nga và các nớc Đông Âu, theo chơng trình đổi dầu lấy lơng với iraq của Liên Hợp
Quốc.
17

nghiệp phải xác định những loại chè nào mà mình định kinh doanh. Trên thực tế,
doanh nghiệp có sự lựa chọn mặt hàng xuất khẩu chè nh sau:
- Doanh nghiệp xuất khẩu những loại chè mà mình sản xuất.
- Doanh nghiệp xuất khẩu những loại chè mà thị trờng cần.
18
- Doanh nghiệp sản xuất những loại chè giống nh thị trờng thế giới không
phân biệt sự khác nhau về văn hoá, xã hội, ngôn ngữ, phong tục tập quán và biên
giới quốc gia.
Sản phẩm chè cũng giống nh các sản phẩm khác là cũng tồn tại một chu kỳ
sống của sản phẩm. Chu kỳ này là tiến trình phát triển việc tiêu thụ một loại chè cụ
thể bao gồm 4 giai đoạn nh sau : Thâm nhập Phát triển Bão hoà - Thoái trào.
Việc xuất khẩu chè đang ở giai đoạn 1 và 2 gặp thuận lợi nhất. Tuy nhiên, có khi
sản phẩm chè đã ở giai đoạn 4 nhng nhờ việc thực hiện các biện pháp xúc tiến tiêu
thụ (quảng cáo, cải tiến hệ thống tổ chức tiêu thụ, giảm giá bán, khuyến mãi )
ngời ta có thể đẩy mạnh đợc xuất khẩu.
Ngày nay, xu hớng xuất khẩu những loại chè mà thị trờng cần và xuất khẩu
những loại chè giống nhau ra các thị trờng là phổ biến. Còn xuất khẩu những loại
chè mà doanh nghiệp sản xuất ra chỉ bó hẹp trong một lĩnh vực
Nh vậy, việc lựa chọn loại chè xuất khẩu, ngoài yêu cầu phải đạt tiêu chuẩn
chất lợng quốc tế, đáp ứng nhu cầu thị trờng thì còn phải phù hợp với khả năng
cũng nh kinh nghiệm của từng doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu. Điều này đòi
hỏi phải có sự phân tích đánh giá cẩn thận những đặc điểm nội tại của doanh
nghiệp chế biến chè xuất khẩu đó cũng nh dự đoán đợc cơ hội hay bất lợi khi đa
sản phẩm chè của mình ra thị trờng quốc tế. Đồng thời doanh nghiệp cần dự đoán
xu hớng biến động của thị trờng cũng nh cơ hội và thách thức mà mình sẽ gặp phải
trên thị trờng thế giới.
3. Lựa chọn khách hàng
Sau khi đã lựa chọn đợc loại chè và thị trờng xuất khẩu phù hợp, doanh
nghiệp muốn thâm nhập vào thị trờng đó thì cần phải lựa chọn các đối tác đang
hoạt động trên thị trờng đó để thực hiện các kế hoạch kinh doanh của mình. Việc

nữa hình thức này còn tạo điều kiện cho cả ngời mua và ngời bán chủ động trong
việc sản xuất kinh doanh chè.
Nói chung với những khách hàng khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm của thị
trờng và khả năng mà doanh nghiệp chè có thể lựa chọn những phơng thức giao
dịch khác nhau.
5. Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu
Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu chè là một trong những khâu quan
trọng trong hoạt động xuất khẩu. Việc đàm phán phải căn cứ vào nhu cầu về sản
phẩm chè trên thị trờng, đối thủ cạnh tranh, khả năng điều kiện và mục tiêu của
doanh nghiệp cũng nh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác.
Có các hình thức đàm phán sau mà doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh chè
thờng áp dụng:
+ Đàm phán qua th tín
+ Đàm phán qua điện thoại
+ Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp
20
6. Thực hiện hợp đồng, giao hàng và thanh toán tiền
Sau khi đã ký kết hợp đồng, các đơn vị kinh doanh xuất khẩu chè phải thực
hiện hợp đồng mà mình ký kết, tiến hành sắp xếp những việc phải làm, ghi thành
bảng theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng Đây là một công việc phức tạp đòi hỏi
phải tuân thủ luật lệ quốc gia và quốc tế, đồng thời phải bảo đảm đợc quyền lợi
quốc gia và uy tín kinh doanh của đơn vị xuất khẩu.
IV. Đặc điểm cung cầu thị trờng chè và Các nhân tố cơ bản
ảnh hởng đến xuất khẩu chè của Việt Nam
1. Đặc điểm thị trờng tiêu thụ chè
Ngoài những đặc điểm của thị trờng hàng hoá nói chung, thị trờng tiêu thụ
sản phẩm nông nghiệp cũng nh thị trờng tiêu thụ sản phẩm chè có những đặc điểm
riêng đó là:
- Tính ổn định và tơng đối ít co giãn về mặt cung cầu.
Chúng ta đều biết các sản phẩm chè là loại phục vụ trực tiếp cho nhu cầu

khác xuất phát từ thị trờng. Sự biến động một cách tự phát trớc biến động bất lợi
của thị trờng là sự ra đi của lĩnh vực đang sản xuất, tìm nơi đầu t có lợi hơn, hoặc
tăng giảm mạnh diện tích trồng cấy. Cơ chế biến động tự phát của giá cả tạo sự phá
hoại lực lợng sản xuất và gây tổn thất cho cả ngời sản xuất và ngời tiêu dùng sản
phẩm chè. Để hạn chế sự biến động của thị trờng sản phẩm chè theo thời vụ thì :
Về phía ngời sản xuất phải tạo ra đợc các giống trái vụ, thay đổi cơ cấu mùa
vụ để thay đổi động thái cung đáp ứng tốt hơn, kinh tế hơn cho thị trờng.
Về ngời kinh doanh phải biết phát triển công nghiệp chế biến, dự trữ hoặc
nhập khẩu để điều hoà cung cầu.
Về phơng diện Nhà Nớc phải có sự can thiệp để điều hoà cung cầu nhất là
đối với sản phẩm nông nghiệp thiết yếu có tác động đến đời sống dân c bằng hệ
thống chính sách bảo trợ hàng nông sản.
- Để phát triển thị trờng tiêu thụ sản phẩm chè cần phải gắn liền với việc
khai thác và sử dụng lợi thế so sánh các điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu và
những điều kiện sản xuất khác
Nhu cầu về sản phẩm chè của con ngời rất đa dạng cả về số lợng, chất lợng,
chủng loại, nhng xét trên góc độ thị trờng thì ngời ta chỉ chấp nhận mức giá tối
thiểu hợp lý. Trong khi đó xét về khía cạnh cung, mỗi loại sản phẩm chè chỉ có thể
phát triển thích hợp nhất với các điều kiện tự nhiên, cho nên mỗi vùng, mỗi quốc
gia chỉ có thể sản xuất và tung ra thị trờng những sản phẩm mà họ có u thế hay lợi
thế so sánh thực sự. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trờng việc khai thcs lợi thế so
sánh đã buộc sản xuất nông nghiệp chỉ có thể cung cấp cho thị trờng những sản
phẩm chè mà thị trờng cần và điều kiện sản xuất cho phép. Bởi vì cây chè là cây
trồng chỉ có thể sinh trởng, phát triển và cho sản phẩm kinh tế trong những môi tr-
ờng tự nhiên nhất định mà thôi. Chính vì vậy thị trờng sản phẩm chè hình thành
22
nguồn cung theo luồng, theo tuyến hay khu vực và có thể phát sinh hiện tợng cạnh
tranh không hoàn hảo trên thị trờng. Trong khi đó bất kỳ ngời sản xuất nào cũng
muốn đa ra thị trờng những sản phẩm chè mà mình có u thế nhất. Bởi vậy, cùng
một loại sản phẩm muốn cạnh tranh thắng lợi trên thị trờng, con đờng duy nhất là

23
dùng trong nớc. Đơng nhiên khối lợng sản phẩm chè hàng hoá lại phụ thuộc vào
bộ phận sản phẩm chè đợc dùng để tiêu thụ nội bộ trong tổng sản phẩm chè đợc
sản xuất ra, cho nên tiết kiệm và tiêu dùng hợp lý bộ phận sản phẩm chè tiêu dùng
nội bộ là biện pháp quan trọng bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất chè để tăng khối
lợng sản phẩm chè cung ứng ra thị trờng.
Khả năng cung thực tế của sản lợng chè hàng hoá phụ thuộc vào các yếu tố
cơ bản sau :
- Giá cả sản phẩm chè hàng hoá trên thị trờng:
Trong đại đa số trờng hợp, giá cả đóng vai trò là tham số điều chỉnh quan hệ
cung cầu và theo đó điều chỉnh dung lợng và nhịp độ tiêu thụ của thị trờng .
- Giá cả của sản phẩm cạnh tranh : Sự xuất hiện các sản phẩm mới, sản
phẩm thay thế, và giá cả của chúng sẽ ảnh tới lợng cung của sản phẩm chè hàng
hoá trên thị trờng .
- Giá cả các yếu tố đầu vào .
- Trình độ chuyên môn hoá và tập trung hoá sản xuất nông nghiệp.
Ngoài ra vốn, công nghệ cũng ảnh hởng tới cung sản phẩm chè hàng hoá
trên thị trờng. Sự phát triển của công nghệ chế biến và mức độ tiếp cận với công
nghệ và kỹ thuật chế biến tiên tiến trên thế giới đã tạo ra những giá trị sử dụng
mới, chất lợng cao hơn, tạo ra những quan hệ mới trong cung cầu, kích thích mở
rộng và phát triển thị trờng .
- Các nhân tố về cơ chế, chính sách lu thông sản phẩm chè của chính phủ
trong từng thời kỳ và hiệu lực của chúng.
- Môi trờng tự nhiên mà trớc hết là đất đai và khí hậu.
2.2. Cầu về sản phẩm chè
Nhu cầu về sản phẩm chè của xã hội có rất nhiều loại khác nhau. Đó là nhu
cầu chè cho tiêu dùng trong nớc và nhu cầu chè xuất khẩu.
Về phơng diện kinh tế mà xét chúng ta thấy có hai loại nhu cầu sau :
Một là nhu cầu tự nhiên mà thực chất là nhu cầu về sản phẩm chè của dân c
tính theo số lợng dân số. Đây là phơng diện mà các nhà chính sách cần tính tới

* Nhân tố về vốn vật chất hay sức mạnh về tài chính :
Trong kinh doanh nếu không có vốn thì doanh nghiệp sẽ không làm đợc gì
ngay cả khi đã có cơ hội kinh doanh. Có vốn giúp doanh nghiệp thực hiện các hoạt
động kinh doanh của mình một cách dễ dàng hơn, có điều kiện tận dụng các cơ hội
để thu đợc lợi nhuận cho doanh nghiệp mình. Đặc biệt, mặt hàng chè là mặt hàng
nông sản, nếu Công ty có vốn lớn sẽ có điều kiện để mua hàng tại thời điểm có lợi
nhất với giá rẻ nhất và sẽ xuất bán khi nhu cầu của khách hàng tăng lên .
Sự trờng vốn cũng tạo ra khả năng nắm bắt thông tin nhanh chóng hơn,
chính xác hơn do có điều kiện sử dụng các thông tin hiện đại. Ngoài ra, nó còn cho
phép Công ty thực hiện các công cụ maketing quốc tế trên thị trờng về giá cả, cách
25

Trích đoạn Giá chè thế giới Sản xuất chè Quy trình thực hiện nghiệp vụ xuất khẩu chè của Tổng Công ty Công tác tạo nguồn hàng Sản lợng và kim ngạch xuất khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status